Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Những sai lầm ngớ ngẩn xung quanh việc vãng sinh tịnh độ

Nói về vấn đề nghi lễ, hủ tục thờ cúng, trì tụng, đốt giấy tiền, vàng mã,… ở tang lễ, việc vãng sinh tịnh độ của người chết khi được hộ niệm Phật hiệu A Di Đà,…

Người học Phật nói:
Trong việc mua bán có những ngành nghề mà người mua không thể mặc cả, trả giá như là việc mua thuốc trị bệnh, mua vàng, vay tiền ngân hàng, mua hàng trong siêu thị, mua quan tài, “mua đường đi” cho người chết,… Nay tôi muốn đề cập đến vấn đề “mua đường đi” cho người chết. Nhằm làm được việc “mua đường đi” cho người chết thì gia đình, quyến thuộc người chết tốn không ít tiền của để mua giấy tiền vàng mả, nhang đèn, các vật thờ cúng,…
Nhất là phải mời các sư thầy hộ niệm, trì kinh với mong mỏi người chết sớm được siêu sinh. Việc mời sư thầy cũng không thật dễ dàng, không ít sư thầy chỉ đến hộ niệm những nhà giàu có hoặc chỉ đến “tiễn đưa” người chết khi đặt ra một số tiền và được gia đình có người chết chấp thuận.
Tôi muốn hỏi quý đạo hữu việc mua đường cho người chết có giúp người chết tìm được nẻo tốt ở đời sau không?
Tại sao giá thành của việc hộ niệm không hề nhỏ và lại có sự khác biệt giữa giàu nghèo?
Có phải số tiền cúng càng nhiều thì thần thức người chết càng dễ siêu thoát ở những nẻo tốt không?
Lấy gì làm bằng chứng chứng thực khi được hộ niệm người chết sẽ vãng sinh nơi Tây phương?
Có định mức quy ước giá tiền cúng hộ niệm không?
Thần thức người chết đi bằng phương tiện gì để siêu sinh mà giá thành của một lượt đi không hề nhỏ?
Đôi khi giá thành của việc trì kinh hộ niệm lại trở thành “gánh nặng” cho người sống, tôi muốn hỏi:
Việc hộ niệm có thật sự chuẩn mực và có ý nghĩa thiết thực giúp thần thức người chết nhận biết rạch ròi lối đi trong luân hồi?
Sở dĩ tôi hỏi những câu hỏi trên là vì tôi cảm nhận có điều gì đó không thật đúng, chỉ mong mọi người góp ý giúp tôi sáng rõ mối hoài nghi trong lòng. Cảm ơn!

Trả lời:
Như tôi đã trình bày, thần thức của người chết khi thoát ra khỏi thân xác không còn tồn tại ở dạng vật chất như là đất, nước, gió, lửa. Thế nên bằng mắt ta không thể nhìn thấy, cũng không thể nắm bắt được. Thần thức người chết thể như hư không nhưng vì u mê vọng chấp có thân.
Trong tâm ý mê mờ đó, người chết vẫn nghĩ mình còn thân, tự dối lừa mình trong tấm thân không thật có. Vẫn tham đắm việc uống ăn nhưng thật không có chỗ để uống ăn. Đây là những vong linh tồn tại trong kiếp ngạ quỷ.
Những người đã khuất luân chuyển sang cõi Trời, Atula thì không cần cõi Người cung cấp đồ dùng. Vì bởi phước báu chúng sinh cõi Trời rất lớn, muốn gì có ngay thứ ấy. Quần áo, trang sức lộng lẫy, thức ăn thượng hạng,... Một số sống trong thiền định tiêu diêu, tự tại. Chúng sinh cõi Atula thì bận bịu trong việc trao chuốt sắc đẹp, ca hát, đánh đàn,… Phần lớn mãi lo đánh nhau. Thế nên chúng sinh hai cõi này chẳng cần nhận những đồ hàng mả mà con người gửi lên. Đồ hàng mả ở cõi Người nếu gửi lên được chỉ làm bẩn cõi giới của họ.
Còn những chúng sinh tồn tại trong cõi Địa ngục thì đang chịu muôn điều hành hạ làm sao có thời gian mà thọ hưởng việc uống ăn, đi ôtô, xe máy, ở nhà to đẹp,... Trải qua thời gian rất lâu, tâm trí vơi bớt hoảng loạn, họ sẽ luân chuyển sang những nẻo khác. Số đông luân chuyển sang kiếp Ngạ quỷ tiếp tục sống trong mê lầm
Việc đốt hàng mả không mang nhiều lợi ích cho chúng sinh trong cõi vô hình mà khiến cho những chúng sinh mê lầm thêm ngộ nhận. Họ sẽ chấp nhận sống kiếp không thân lang thang, vất vưởng và chờ đợi những người thân gửi đồ giả xuống hưởng dụng.
Chỉ khi con người không gửi đồ xuống cho họ. Họ sẽ thấy đói khát, rét lạnh đến chết đi sống lại nhiều lần. Cuối cùng, họ sẽ dần ý thức được họ không hề chết vì lẽ họ không còn cái gì để gọi là chết. Tất cả chỉ do tâm ý mê lầm mà có sự sống chết. Khi nhận ra điều đó thì tùy nghiệp duyên đời trước mà họ sẽ chuyển sang nẻo khác.
Thế nên, giấy tiền vàng mả, nhang đèn, các vật thờ cúng,… chỉ là những thứ khiến thần thức của người chết thêm mê mờ, lầm lạc lối đi.
Lẽ ra, việc ma chay, cúng giỗ,… cho người chết chỉ nên dừng lại ở việc gắn kết nghĩa tình bà con láng giềng, hàng xóm.
Nếu việc cúng giỗ chỉ nhằm vào việc tổ chức cho dòng tộc, anh em, cô bác,… lâu ngày gặp gỡ, trao đổi động viên con cháu, giúp đỡ lẫn nhau về cuộc sống, về tinh thần,… thì thật đẹp, đáng quý. Đó là những nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc, tình làng nghĩa xóm, bà con, láng giềng, dòng họ.
Những năm gần đây, việc khôi phục các lễ hội truyền thống nhằm thu hút đầu tư du lịch. Vì thế các lễ hội cổ truyền dân gian được tổ chức với quy mô lớn, hao tốn nhiều kinh phí ngân sách,…
Nếu những nhà quản lý không có tầm nhìn sáng rõ, hiểu biết thì sẽ có hàng tỷ đồng được đầu tư cho nhang đèn, giấy tiền vàng mả và chúng được đốt cháy trong một ngày. Nhưng ngay bên cạnh đó lại có rất nhiều người ăn xin, khốn khổ lăn lóc và xa xa hơn thì vẫn có rất nhiều mảnh đời bất hạnh sống trong cơ cực, đói nghèo. Những người già neo đơn, những trại trẻ mồ côi, những nạn nhân của chất độc màu da cam,… Nếu có được số tiền hàng tỷ đó hẳn là họ sẽ có đời sống tốt hơn.
Còn về việc sư thầy trì kinh hộ niệm có giá trị gì không?
Hơn 2500 năm trước, Phật Thích Ca thuyết kinh Vu lan nhằm mục đích làm an lòng người sống có người thân đã khuất từng sống với những hành vi xấu ác.
Trước đó, khi Phật nói về luật nhân quả, kinh Địa tạng,… thì những người còn sống nghĩ nhớ, thương tưởng đến người thân đã mất nên tâm trí bất an, đau khổ. Vì người sống Phật Thích Ca xót thương thuyết kinh Vu lan nhằm giúp những chúng sinh trong nẻo Địa ngục, Ngạ quỷ siêu sinh ở những nẻo tốt hơn. Việc này thật sự chỉ nhằm mục đích an lòng người sống là chủ yếu. Tuy nhiên, những chúng sinh nẻo tối vẫn có thể siêu sinh lên nẻo tốt nhờ vào giới đàn lúc bấy giờ có đến hàng trăm vị Tăng đắc 1 trong 4 quả vị Thánh và cả oai lực của Phật Thích Ca.
Hẳn là chi phí cho việc lập giới đàn là không cao bởi lẽ các vị Tăng bảo chỉ ngày ăn 1 bữa và thức ăn là những món đạm bạc, chay tịnh. Một dụng tâm khác của Phật Thích Ca là khi mọi người tập trung đông đủ thì Người và những vị Tăng đắc quả tùy thuận chỉ bày mọi người sống tùy thuận theo chánh pháp, dứt trừ những đau khổ trong lòng và biết đến một con đường giải thoát hoàn toàn thoát khỏi luân hồi.
Ngày nay, việc trì kinh hộ niệm cho người chết cũng khởi nguồn từ việc an lòng người sống và do người sống không sáng rõ chánh pháp của Phật thích Ca. Đôi khi, người sống làm việc đó nhằm để mua lấy tiếng “chí hiếu, thảo hiền”.
Việc hộ niệm với người chết có lợi ích gì không?
Đối với những người chết khi sống có tìm hiểu về Phật pháp mà chưa có sự thông suốt, sáng rõ thì ít nhiều cũng có giá trị. Ngay khoảng giao thời giữa sống chết thì họ có sự an tâm và điềm tỉnh. Điều này rất quan trọng, giúp cho thần thức người chết giúp họ tỉnh táo chọn nẻo tốt mà thọ sinh nhưng điều quan trọng hơn là khi người này còn sống họ phải sống thiện lương, không gây ra việc xấu ác nghiêm trọng.
Đối với những người học Phật đã sáng rõ chánh pháp, thật sống nơi chánh định thì người học Phật đó khi chết sẽ không cần người hộ niệm, họ tự rõ biết lối đi.
Còn đối với những người chưa từng tìm hiểu Phật pháp, có đời sống tham lam, ích kỷ, cố chấp, bảo thủ, thường “chửi cha, mắng mẹ”, hành vi xấu ác, ti tiện, làm khổ người thân, … thì việc hộ niệm khó mong có kết quả. Nhất là thời điểm trước khi mất mà người đó không tỏ ngộ, nhận biết lầm lỗi, chấp nhận “quay đầu”…
Một điều quan trọng khác ở những người gần bước vào cõi chết là niềm tin và định lực. Thế nên, nếu người gần chết mà rõ biết về vị sư thầy hộ niệm cho bản thân thì người đó sẽ nhằm vào đạo hạnh của vị sư thấy. Vì thế đạo hạnh của vị thầy là rất quan trọng.
Tuy nhiên, phần nhiều quyết định lối đi trong 6 nẻo là ở tâm ý của người chết.
Về phần các vị sư thầy chuẩn mực thì ở một mức độ nào đó họ vẫn nghĩ rằng “việc hộ niệm” là đúng với chánh pháp nên họ sẽ làm rất thành tâm. Bên cạnh đó, không ít vị thầy làm việc đó chỉ nhằm vào cơm áo gạo tiền còn thần thức người chết đi đường nào thì tùy duyên vậy.
Thần thức người chết đi bằng phương tiện gì mà giá thành mỗi chuyến đi lại cao thấp khác nhau?
Điều này tôi không rõ nơi mấy vị thầy tụng dùng phương tiện gì để đưa đi.
Riêng tôi rõ biết phương tiện mà thần thức người chết đi dựa vào tâm ý của chính tự thân thế nên phí vận chuyển là bằng 0 đồng.
Thần thức người chết sẽ đi về đâu?
Điều này tùy thuộc vào tâm ý của người chết và những việc xấu tốt mà người đó khi còn sống đã làm.
Trong đó, không chỉ là những việc làm ở hiện kiếp mà thần thức người chết còn chịu sự tác động của những tạo tác từ những kiếp lâu xa. Tuy nhiên, đời sống của hiện kiếp sẽ chiếm phần quyết định chính cho lối đi của người đã khuất.
Nếu bạn hỏi những vị sư thầy “Thần thức sẽ về đâu trong 6 nẻo?” thì hẳn là sẽ không có vị thầy tụng nào cho bạn câu trả lời đúng mực và sáng rõ. Nếu có câu trả lời thì cũng chỉ là những câu nói chung chung, vô thưởng, vô phạt,…
Cho dù những vị sư thầy hộ niệm vãng sinh rất thành tâm thì họ cũng chỉ có thể giúp người sống an tâm chứ không thể vạch ra lối đi sáng rõ cho người chết.
Tại sao lại như vậy?
Tại vì tôi rõ biết các vị thầy này không thật sáng rõ lối đi trong 3 cõi, 6 đường và con đường giải thoát khỏi luân hồi cũng như đường về cõi giới A Di Đà. Đã không rõ biết đường đi thì sao có thể chỉ đường cho thần thức người chết rành rẽ lối đi ở các con đường cho được. Vấn đề này giống như là việc:
Có người hỏi bạn nước Pháp nằm ở đâu?
Làm sao để đến được nước Pháp?
Nếu bạn chưa từng đặt chân đến Pháp cộng với một ít kiến thức thì bạn chỉ có thể nói “Nước Pháp ở phương Tây còn đường đi thì thật sự là tôi không rõ”.
Thêm nữa, ở những năm chiến tranh tàn khốc, ác liệt, người chết như rạ, thây ma đầy đường,... Lấy đâu ra sư thầy, đạo tràng hộ niệm, trì chú “tiễn đưa” vậy không lẽ người chết không tìm được lối đi trong 6 nẻo.
Rõ thật lễ nghi, hủ tục, hình thức,... là do nơi con người "lừa mình, dối người" tạo ra, do "phú quý sinh lễ nghĩa",... Những việc làm thành lệ khiến thần thức người chết thêm rối loạn, mê mờ, và tạo ra "gánh nặng" vật chất cho người sống.
Cũng lại như vậy, những người đã khuất ở các tín ngưỡng Công giáo, Tin lành,... không nhang đèn, vàng mả, không cúng thất, không rườm rà lễ nghi,...
Có lẽ nào thần thức người chết theo các tín ngưỡng đó không có lối đi sau khi chết?
Đừng làm việc "lừa mình, dối người", tự che mắt mình rồi cho rằng là chân lý, là chánh pháp của Phật Thích Ca thì khó mong thoát khổ, có đời sống an lạc, hạnh phúc thật sự.



2 nhận xét:

  1. Đúng những điều tui đang thắc mắc, hoài nghi. Đúng là "Phật ở trong tâm", không cần hình thức.

    Trả lờiXóa
  2. ĐỨC PHẬT DẠY VỀ VIỆC CÚNG CHO GIA TIÊNlúc 08:31 2 tháng 1, 2014

    Đại Tạng Kinh: Kinh - Tăng Chi Bộ IV - Phẩm Janussoni

    Đức Phật giải thích rằng, thần thức của Thân trung ấm và các loài Ngã quỷ thọ dụng các phẩm vật mà loài người dâng cúng một cách bình thường vì đó là “tương ưng xứ” của họ. Chúng sinh địa ngục không thể thụ hưởng hiến cúng. Tuy nhiên, mọi dạng chúng sinh đều thụ hưởng thiện phước được thân quyến hồi hướng cho họ như Đức Phật đã thuyết Kinh “Tirokuṇṇapetavtthu” - bộ Petavatthu

    Thế Tôn ở tại trú xứ của người Bàlamôn tên là Janussoni.
    Sau khi cung kính đảnh lễ, hỏi thăm, Bàlamôn Janussoni bạch Thế Tôn:
    – “Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng việc cúng thí này cho bà con đã chết được lợi ích! Mong rằng, bà con huyết thống đã chết, thụ hưởng bố thí này! Bố thí như thế có lợi ích gì cho bà con đã chết không? Bà con huyết thống đã chết có được thụ hưởng hay không?”
    Đức Phật giải thích:
    – “Này Bàlamôn, nếu có tương ưng xứ, thì có lợi ích; nếu không có tương ưng
    xứ thì không có lợi ích.
    Những người nào sau khi mạng chung, thác sinh vào địa ngục, sinh vào loại
    bàng sinh, sinh cộng trú với loài người, sinh cộng trú với chư Thiên. Những vị này, được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của các vị
    ấy. Đây là không tương ưng xứ; tái sinh ở những nơi ấy, các vị ấy không được hưởng lợi ích của sự cúng thí này.
    Những, người nào sau khi mạng chung, sinh vào cõi ngã quỷ. Vị ấy được nuôi sống và tồn tại với những món ăn ứng với cảnh giới của ngã quỷ. Món ăn nào, các bạn bè, thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống muốn hướng cúng cho vị ấy; tại đấy, vị ấy sống với món ăn đó, tồn tại với món ăn đó. Này Bàlamôn, đây là tương ưng xứ, trú nơi đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.”

    Trả lờiXóa