Những lời hứa bị cuốn trôi theo thời gian.
Tại sao tôi không đến Tử Cấm Thành vào tháng 6 năm 2013 để hoàn thành lời đã hứa?
Việc “Mượn trời qua biển” đã không được thông qua và ý tưởng “Đoạt trời qua biển” đã bị chậm do sự nhân từ, hòa hoãn của cá nhân tôi. Tôi cứ nghĩ tốc độ lan truyền bài viết sẽ nhanh và việc lan truyền những bài viết với tốc độ cao sẽ khiến các nhà quản lý sẽ “động tâm” sửa sai hoặc “đối mặt” cùng tôi kịp lúc.
Hơn nữa, tôi đã sai khi khởi sự viết blog bằng một trang wed trong nước mà không là trang google. Có lẽ vì thế mà việc lan truyền nội dung bài viết bị giới hạn ở phạm vi của trang vnweblogs.com và người Việt trong nước. Tôi cũng đã vụng về không tạo ra những “điểm nhấn” cần thiết nhằm gây ra chuỗi phản ứng vết dầu loang. Thế nên, tốc độ lan tỏa đã bị giới hạn.
Về sau, tôi nhận diện được sai lầm cá nhân “Trong một cơ chế sống thực dụng và tràn ngập thông tin bị ô nhiễm thì việc gây scandan thu hút sự chú tâm được con người vận dụng triệt để”. Thế nên về sau việc gây sốc, tạo scandan được tôi vận dụng như là một thủ thuật gây tiếng vang nhằm đánh thức giá trị hiểu biết khách quan có nơi tiềm thức, tư duy ở mỗi người.
Đây là một con dao 2 lưỡi. Scandan có thể giúp tôi có bạn đồng thời cũng có thể khiến tôi mất bạn. Tôi là người biết chấp nhận sự thật vì lẽ đó tôi sẽ chấp nhận việc mất bạn bởi sự “Đồng sàng, dị mộng”.
Nếu thứ ngôn từ của tôi là ô nhiễm, là bẩn tai người thì bạn hãy cứ rời xa tôi, từ bỏ trang blog Một thoáng Phương Đông. Hẳn là khi đó trang Một thoáng Phương Đông sẽ tự chết bởi sự nhiễm ô, dơ bẩn, không giá trị sẽ bị đào thải theo quy luật sự tồn tại của vạn vật. Khi không còn một ai xem blog thì tôi sẽ không còn động lực viết tiếp vì sự nhơ nhớm, ghê tởm, kém cỏi của chính mình. Là tự sinh, tự diệt.
Và cũng được sự góp ý của người bạn tôi đã sửa sai sai lầm cá nhân bằng việc cho ra đời blog doavouu.blogspot.com.
…
Việc đến Tử Cấm Thành đã trễ. Đã từng có lúc tôi nghĩ sẽ phản kháng cách hành xử của những người quản lý xã hội. Một ngọn đuốc sống lại bừng cháy giữa Sài Gòn hay Hà Nội để phần nào đánh thức lối tư duy, nhận thức cũ kỹ ở giới quản lý đất nước đương thời.
Ngọn đuốc sống này sẽ biểu trưng cho điều gì?
Học đòi theo nhà sư Thích Quảng Đức ư?
Đấu tranh cho đạo Phật, chấp nhận Tử vì đạo. Nhưng Phật giáo chẳng phải đang rất huy hoàng, rực rỡ. Thế nên nói đấu tranh vì đạo Phật nghe chừng rất hoang đường, vô lối và không cần thiết.
Còn bằng đấu tranh cho chánh pháp thì lại rất mơ hồ.
Chánh pháp là gì? Liệu có mấy ai rõ biết?
Vậy nên chẳng thể vì chánh pháp mà bỏ mạng. Chánh pháp không từng đòi mạng người và tôi cũng không “mắc nợ” chánh pháp.
Học theo Lê Văn Tám đòi độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc. Những thứ đó là tiêu chuẩn xây dựng xã hội ở hiện tại và tương lai thì việc thêm lần nữa đấu tranh chẳng phải là “Trên đầu gắn thêm đầu, trên mỏ gắn thêm mỏ”. Lúc bấy giờ, liệu có ai nhận ra thứ quái thai, dị dạng đó là gì?
Vậy nên chẳng có cái gì đáng để đấu tranh, để bỏ mạng?
Sai lầm của giới quản lý đất nước không thể đổ hoàn toàn trách nhiệm lên nhận thức, tư duy của họ. Nếu nói đến trách nhiệm thì không thể không nói đến những thành phần, tầng lớp khác của xã hội. Và … người dân, người lao động là thành phần chiếm số lượng đông đảo của đất nước “gánh” trách nhiệm không nhỏ. Đành rằng đây là lực lượng có trình độ nhận thức, tư duy không cao nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc kém cỏi, không hiểu biết. Có chăng là sự thực dụng, ích kỷ, xấu xa,… chỉ biết sống cho riêng mình, cam chịu thân phận “Thấp cổ, bé miệng”.
Một thành phần xã hội khác đáng kể đến là một đồng phạm rất quan trọng đã a dua, dung dưỡng, góp phần tạo ra sự xuống cấp mọi mặt nơi xã hội, đất nước và con người là thành phần trí thức, giới học giả nhiều hiểu biết.
Thành phần đại diện cho tri thức đất nước và nhân loại trên đã sai lầm khi bán rẻ giá trị của sự học cùng giá trị của chính họ. Họ chỉ có thể học hỏi được sự thực dụng, lối sống hưởng thụ, học để gom góp quyền lợi, địa vị và danh tiếng còn sự khách quan, tổng thể, đúng mực, giá trị gốc của việc học thì họ đã quên bỏ.
Vai trò, vị trí, giá trị của sự hiểu biết dùng cho việc xây dựng, định hướng phát triển xã hội con người đã mất đi khi giá trị của người học, giới trí thức mất đi.
Có lẽ sẽ không sai khi nói chính giới học giả, trí thức đương thời đang làm hoen ố, bẩn dơ giá trị của việc học.
Sự thực dụng, ích kỷ,… lớn lên là cột mốc đánh dấu sự hèn kém, nhu nhược, ti tiện, xấu xa,… tăng trưởng. Giá trị, nhân cách, đạo đức,… của con người trở thành những giá trị vô hình, không thật,… không đáng để gìn giữ. Lòng tham, sự si mê, mù quáng,… đã “vùi chôn” sự tồn tại, vai trò, vị trí và giá trị của giới tri thức xã hội. Thế nên xã hội suy đồi, bại hoại; lòng người điên đảo, hỗn độn; thế giới trở nên loạn lạc, chìm vào đêm tối sẽ là điều hiển nhiên, khó thể tránh khỏi.
Bạn thử nghĩ xem. Một xã hội được xây dựng bằng vào nền tảng “Thượng bất minh” thì kết quả đã rõ “Hạ tất loạn”.
Rõ thật giới quản lý xã hội trên thế giới nói chung và ở mỗi nước nói riêng đều định hướng xây dựng xã hội mắc vô số sai lầm, giới trí thức sống hời hợt, tự thủ bàng quang ra vẻ tôn quý, thanh cao giả tạo, người dân, người lao động sống lầm lũi trong cơm áo, gạo tiền cùng sự ích kỷ trói buộc ngàn đời “Thấp cổ, bé miệng” thì tôi còn có thể làm được gì?
Đấu tranh ư?
Đấu tranh vì ai?
Không thể đấu tranh vì ai nên đành thôi tự sửa mình. Đó là một trong những thông điệp mà tôi gửi đến mọi người thông qua nội dung bộ sách cùng trang blog. Thiết nghĩ ta không thể chờ đợi sự đổi thay từ nơi khác, người khác mà không “đổi mới” tư duy ngay chính bản thân - Hãy bắt đầu sửa sai xã hội bằng việc sửa sai chính mình ở mỗi người.
Với bút danh Vô Ưu tôi đã viết lại sự hiểu biết của loài người một cách an nhiên, bình thản. Dù vậy ngôn từ có phần mềm mại nên không đủ lực tạo nên “Điểm nhấn” trong lòng người đọc. Cho đến khi viết sách “Trung Hoa, còn mãi một tình yêu” tôi nhận ra cần viết gần với sự thật hơn và với thân phận Ngạo Thuyết sẽ phần nào khắc họa được toàn cảnh vấn đề cần trình bày.
Vô Ưu - Ngạo Thuyết, tôi thực sự là ai?
Vô Ưu, Ngạo Thuyết hay tôi cũng chỉ là một người đang sống trong cuộc đời này. Người đó đã trực nhận cuộc sống một cách rất thật. Sau cùng, người đó đã nói rõ những điều mà bản thân nhận diện nơi cuộc sống bằng sự khách quan, tổng thể, sáng rõ mà không hạn cuộc vào quá khứ, hiện tại, tương lai, nơi này hay nơi khác, sống hay chết,...
Không chỉ vậy! Tôi là người đã từng tham khảo vài quyển kinh sách có trong Tam Tạng Kinh để rồi bình thản bật ra câu nói “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn” mà không có sự nề hà, mặc cảm hay tự ti. Tôi là người thứ hai sau Phật Thích Ca dám tự khẳng định với toàn thể mọi người rằng đã chứng ngộ pháp vô sinh, thấu triệt 3 cõi, 6 đường ở cả 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai và tự tại trong việc chọn lựa con đường sinh tử hay con đường giải thoát hoàn toàn, ra ngoài tam giới.
Vậy nên những điều tôi trình bày không chỉ là ở thế giới vật chất mà có cả ở thế giới vô hình. Tôi sẽ nói rõ về 3 cõi, 6 đường, sự luân hồi, con đường giải thoát hoàn toàn thoát ra mọi khổ não, dính mắc cũng như cách thoát khỏi tam giới.
Hơn 2500 trước Phật Thích Ca đã dùng thanh gươm trí tuệ để chặt đứt phiền não có trong lòng nhân loại cùng chúng sinh 3 cõi, 6 đường. Để rồi hơn 2500 sau Vô Ưu lĩnh hội được yếu chỉ Tam Tạng kinh mà một phen “chọc trời, khuấy nước” rộng truyền chánh pháp.
Lẽ ra Vô Ưu dùng thanh gươm trí tuệ của tiền nhân nhưng thế sự vô thường, lòng người nhiều thay đổi vậy nên Vô Ưu đã dùng đến một ngọn quái đao để đoạn dứt vô minh có trong lòng nhân loại.
Khác với cách dùng gươm tinh xảo, ảo diệu, khoan thai của Phật Thích Ca, Vô Ưu sẽ dùng thanh quái đao với độ biến ảo linh hoạt, vừa tà vừa quái. Có thể xem là cách xử đao rất bá đạo nhưng điểm đến vẫn là hiển bày lại chánh pháp chân thật có trong tâm mỗi người cùng nhân loại.
Về sau, sẽ có không ít học giả học đòi làm “Thánh nhân văn tự” đem việc của Vô Ưu làm phân tích hay dở, đúng sai cũng như là việc so sánh Phật Thích Ca cùng Vô Ưu để xếp ngôi vị, thứ lớp. Đây là một việc làm nông nổi, cạn cợt bởi lẽ mọi sự so sánh giữa hai thời đại, hai bối cảnh xã hội khác nhau đều dễ đi đến sự khập khiễng, chệch choạng. Nhất là khi tầm nhìn, sự hiểu biết của cá nhân còn dính mắc chủ quan, phiến diện thì việc làm sao có thể đạt đến sự khách quan, đúng mực. Có lẽ việc cần làm là nên rõ biết chính mình hơn là việc hiểu Phật Thích Ca cùng Vô Ưu.
Cũng đừng vội chủ quan cáo buộc tôi đã tự phụ vượt mức khi nâng tầm vị thế đồng với Phật Thích Ca. Vì lẽ tôi không cần đến quả vị Phật giả tạm. Hơn nữa, nếu tôi là Phật thì có lẽ đã ngồi trên bàn thờ hưởng hương khói, sự lễ lạy cùng việc cầu nguyện tự lâu rồi. Nhưng khói hương sẽ khiến tôi đau lòng và cay mắt, tôi không có ý định tìm một chỗ đứng trên bàn thờ nghi ngút khói.
…
Có thể nhận thấy thông qua loạt bài viết vừa qua mọi người dễ dàng nhận thấy đầy dẫy sự ưu tư, niềm trăn trở chứ không mấy khi “cảm” được sự vô ưu.
Vậy nên Vô Ưu là bút danh nhằm dối gạt người đời chăng?
Vật có đầu cuối, cây có gốc ngọn. Thế nên, bạn đừng nhìn vào hiện tượng mà hãy nên nhận diện bản chất của vấn đề.
Có lẽ những điều mà bạn nhận diện là ưu tư, phiền não,… sẽ khó thể chạm đến Vô Ưu.
Vậy tại sao tôi vẫn trình bày những vấn đề mà bạn cho rằng chất chứa ít nhiều phiền não?
Đã có rất nhiều người cho Vô Ưu lời khuyên “Hãy nên xa rời chuyện thị phi, điên đảo của xã hội. Nếu có thật tỏ ngộ thì hãy nên vì người học Phật mà phơi bày sự chân ngụy, thật giả có nơi Tam tạng kinh cũng như ở đạo Phật mà thôi. Chạm đến các vấn đề xã hội - kinh tế - chính trị dễ thường nguy hiểm đến tính mạng”.
Tôi thật cảm ơn và rất trân trọng những tấm chân tình mà mọi người đã gửi đến tôi. Nhưng họ đã sai - Đạo đời vốn không hai, chính do sự tách rời đời đạo mà họ chẳng thể tỏ ngộ được Tam tạng kinh của Như Lai, việc giải thoát hoàn toàn sinh tử vì thế đã mấy ngàn năm đã không có người học Phật nếm trải tròn vị.
…
Hiển nhiên là việc trình bày cả việc đời và đạo với tôi hiện đã không còn giá trị nhưng tôi vẫn trình bày vì từ bi tâm của tiền nhân và vì chánh pháp đang cần được thắp sáng trong lòng mỗi người nhằm giải nguy nhân loại. Có thể nói việc trao trả sự hiểu biết về cho nhân loại là dấu vết biểu thị sự chấm hết ở Vô Ưu và là sự khởi đầu hoặc là nét khởi sắc cho công cuộc về nguồn ở mọi người và bạn. Một bên là sự kết thúc, một bên là sự khởi đầu. Kết thúc thì chẳng chất giữ phiền não, muộn phiền còn khởi đầu sẽ phải vượt qua nhiều chướng ngại, lo toan, chộn rộn…
…
Một rào cản mà những vị Tăng bảo khó thể vượt qua đó là buộc các nhà quản lý xã hội thừa nhận “Chết không là hết”. Đây chính là chiếc chìa khóa để mở ra lối thoát cho xã hội hiện tại và tương lai. Bởi do nhận thức, tư duy sai lầm một thời của nhân loại đã trói con người vào quan niệm “Chết là hết” mà xã hội và con người đang ngụp lặn trong những vực xoáy lòng tham, thù hận, si mê, hoài nghi,…
Đã trải qua khoảng thời gian đằng đẳng con người tin nhận quan niệm sai lầm “Chết là hết” và từ đó sự hiểu biết về thế giới tâm linh đã mai một, không còn đúng mực. Dù rằng số người tin nhận sự tồn tại của thế giới tâm linh không hề ít và không ngừng tăng lên. Nhưng điều đó không thể giúp con người sáng rõ, tường tận thế giới tâm linh cũng như con đường liễu thoát sinh tử. Còn lại chăng chỉ là niềm tin, đức tin mù quáng, bảo thủ, cực đoan; sự hiểu biết về thế giới tâm linh thật sự đã bị nghẽn lối do định kiến, do không có người chứng ngộ Tam giới. Đó chính là gốc rễ của sự sai lầm nơi tri thức nhân loại. Sai ở gốc mà con người ngày nay hiện đang tìm cách sửa ở ngọn thì không thể là việc làm hợp lẽ, đúng mực.
Việc chia chẻ, chuyên biệt cho từng vai trò, vị trí ở các thành phần, bộ ngành xã hội đã tạo ra góc nhìn thiên kiến, chủ quan, phiến diện, đánh mất sự tổng thể, sáng rõ,… Sai lầm nối tiếp sai lầm đã dẫn đến nhận thức, tư duy con người bị trói buộc, sự giới hạn tri thức kéo theo sự điều tiết định hướng, xây dựng xã hội mắc nhiều sai lầm, dìm đời sống con người vào hàng loạt cuộc khủng hoảng, rối ren, không có một lối thoát thật sự cho con người ở thời điểm hiện tại - Thời điểm nội tâm con người mất cân bằng toàn diện và rộng khắp.
Phải chăng giới lãnh đạo, các nhà quản lý xã hội, nhà giáo dục, giới chuyên gia, thành phần học giả… với số lượng đông đảo, đa dạng có cùng khắp trong nước cũng như trên thế giới đã không thể đưa ra một giải pháp hữu hiệu, có tính khả thi nhằm “vực dậy” xã hội con người thoát khỏi lòng tham, tính thực dụng, sự ích kỷ, và vô vàn những thói tật xấu xa đang xâm thực giá trị con người?
Phải chăng là hiện không có một giải pháp mang tính tổng thể, đột phá được thành phần đại diện tri thức nhân loại đặt ra nhằm cứu vãn xã hội con người thoát ra những cuộc khủng hoảng hàng loạt, liên hoàn?
Vì sao?
Vì sự giới hạn của tri thức, sự hiểu biết thiếu tính tổng thể, khách quan, đúng mực. Sự hiểu biết nửa vời do luôn có sự vướng mắc, trói buộc một bên hoặc chủ nghĩa duy vật hoặc chủ nghĩa duy tâm mà tầm nhìn theo đó bị hạn chế. Thậm chí do chủ nghĩa thực dụng xâm thực mà lòng họ nhiều hoài nghi, đánh mất hoặc quên bỏ sự khách quan cần thiết. Ngay trong chính họ sự mất cân bằng nội tâm đang trỗi dậy những đợt sóng ngầm. Nhất là khi họ trở nên già yếu “Mai này, chết ta sẽ về đâu?”. Do không rõ biết chính mình họ cố khỏa lấp bằng vật chất hoặc bằng thế giới tâm linh và do không rõ biết tất cả nên những việc điều tiết, tác động vào xã hội loài người đều mắc nhiều lỗi lầm và gây ra việc “lừa người, dối mình”,… càng làm, càng sai.
Thế nên muốn mở lối thoát cho nhân loại trong bối cảnh hiện tại thì việc làm quan trọng đầu tiên nhất mà người có ý thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp cần làm là bắt tay vào việc sửa sai ở gốc. Buộc nhân loại thừa nhận sai lầm khi nhân loại chưa ý thức nhận diện sai lầm là một điều rất nguy hiểm. Cái chết có thể là cái giá phải trả.
Tôi đã từng chờ đợi một ai đó ra mặt chỉ thẳng sai lầm nơi tư duy, tri thức chủ quan của nhân loại nhưng chờ mãi mà không có ai ra sức cứu vãn hiện trạng nhân loại. Chẳng lẽ mãi chờ người khác chết thay mình chi bằng một phen tận lực.
Hơn nữa, điều quan trọng nhất ở người chỉ ra sai lầm then chốt của tri thức nhân loại là phải rõ biết 3 cõi 6 đường, rành rẽ con đường giải thoát hoàn toàn thì cơ may cứu nguy sự đổ vỡ nhân loại mới thật sự khả thi.
Hiện tại các nhà quản lý xã hội đã dần thừa nhận sự tồn tại của thế giới tâm linh với lối hành xử tựa như là sự ban ơn của Kẻ cả. Đây lại là một sai lầm tiếp nối sai lầm của các nhà quản lý xã hội cũng như ở những người đại diện cho tri thức tiến bộ của nhân loại. Và với cách hành xử như vậy ở các nhà quản lý xã hội sẽ khó thể mang lại sự bình an, ổn định ở nhân loại và con người.
Bởi do không có sự nhận thức, ý thức đúng mực về sự sai lầm điều tiết xã hội một cách chủ quan, máy móc, phiến diện các nhà quản lý đã trói con người “Chết là hết” gây ra lỗi lầm khiến con người từ bỏ giá trị con người, nhân cách, đạo đức, phẩm giá, khí tiết ở loài người là những thứ vất đi, con người đã sống tham đắm, hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ. Lối tư duy sai lầm trên đã “thấm” vào máu của mọi thành phần xã hội. Trong đó có cả giới lãnh đạo xã hội, những nhà quản lý đất nước cùng thế giới. Vì thế nên tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, bạc ác, độc tài, chuyên, quyền, hống hách,… là những biểu hiện thường thấy trên chính trường ở các nước cũng như trên thế giới. Đây là điều không khó để nhận biết.
Và các nhà quản lý cũng dần nhận ra giá trị an định lòng người của thế giới tâm linh họ đã đồng thuận sự tồn tại của tôn giáo nhằm tạo ra chiêu bài cân bằng sự bấn loạn nội tâm ở mọi thành phần xã hội và dễ bề “nắm giữ” duy trì vai trò lãnh đạo xã hội.
Do không nhận thức rõ gốc của sai lầm là ở những nhà quản lý cũng như là giá trị thật sự của tôn giáo, sự tồn tại và mối liên hệ mật thiết, sự luân chuyển, hoán đổi qua lại giữa thế giới tâm linh và thế giới hữu hình mà các nhà quản lý đã phạm sai lầm liên tiếp. Với sự hiểu biết hạn hẹp, kém cỏi các nhà quản lý những tưởng việc dùng tôn giáo làm một công cụ trấn an lòng người và gián tiếp duy trì vai trò lãnh đạo, dẫn dắt con người của họ.
Tôn giáo dưới sự xâm thực của lòng tham và tính thực dụng dối lừa đã không còn là một tôn giáo đơn thuần. Giá trị an định tâm linh cả ở thế giới hữu hình và vô hình đều đã bị mai một. Có một điều chắc chắn rằng con người không thể chỉ sống sót dựa vào niềm tin và hy vọng. Sự hiểu biết là điều mà con người luôn cần đến. Thế nên thế giới tâm linh vô hình cũng không thể mơ hồ, nhòa nhạt dù là với bản chất vô hình. Và… mối tương quan giữa thế giới người sống và người chết phải có sự gắn kết rõ ràng. Nếu không có một “mối nối” cụ thể, xác đáng giữa hữu hình - vô hình hay nói cách khác 2 thế giới là 2 mảng tách rời riêng biệt thì thế giới tâm linh chẳng đáng để tồn tại và cũng không thể chi phối hay an định được lòng người.
Các nhà quản lý đã không nhận thức rõ điều đó. Họ chỉ dùng tôn giáo như là một dụng cụ để tiện bề sai xử con người. Họ sống thực dụng, kém hiểu biết nên đã vội quên rằng họ cũng là con người, họ cũng sẽ luân chuyển giữa 2 miền sinh tử tương tục chứ không phải là sự hiểu biết nông cạn “Chết là hết”. Quy luật nhân quả chưa từng rời bỏ mà chỉ do họ không thể nhận biết mà thôi.
Các nhà quản lý đã sai khi sử dụng một món đồ vật huyền diệu, bá đạo mà không rõ biết tính năng, công dụng, giá trị thực sự của món đồ. Đây là một việc làm nông nổi, kém khôn ngoan. Con người đang sống trong vô số những dối lừa nơi cuộc sống thật dẫn đến sự bấn loạn, hoài nghi, mất cân bằng nội tâm. Con người tìm đến tôn giáo để an định tâm hồn nơi thế giới vô hình. Nhưng tôn giáo đã đánh mất giá trị gốc với đầy dẫy dối lừa, giả trá, hoang đường.
Phải chăng con người lại bị dối lừa thêm lần nữa?
Liệu lòng người có thể tự “lừa người, dối mình” an định nội tâm được bao lâu? Khi niềm tin tan vỡ con người còn nơi nào để tựa?
Do không rõ biết giá trị tôn giáo và sự trí xảo thực dụng các nhà quản lý đã dùng tôn giáo đánh mất giá trị lừa dối người dân thêm lần nữa. Đã rất nhiều lần dối lừa như thế lập đi, lập lại xuyên suốt lịch sử loài người.
Và lần dối lừa này có thể gọi là gì? Trên cả dối lừa chăng?
Việc tôn giáo đánh mất giá trị là điều không khó để nhận biết. Khi được “tháo xích” thì tôn giáo sẽ mọc lên như nấm sau mưa, có không ít tôn giáo ấp ủ mưu đồ chính trị, giành giật vai trò lãnh đạo xã hội. Đây là biểu hiện sự hiện diện tôn giáo của lòng tham hay lòng tham xâm thực tôn giáo vốn đã có mặt từ ngàn xưa nơi xã hội con người.
Lòng người đang hoang mang, bấn loạn, hoài nghi giá trị thế giới vật chất sẽ lũ lượt gia nhập các loại hình tôn giáo, từ bỏ lao động và trở thành những kẻ ăn bám hạng sang thật sự (vì không rõ chân giá trị tôn giáo) thì xã hội sẽ đi về đâu?
Người lao động hiện đang “gồng gánh” dưỡng nuôi một lực lượng ăn bám hạng sang có ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội thì liệu họ có thể “gắng gượng” được thêm bao lâu?
Phải chăng dấu vết của sự hỗn loạn, rối ren, rạn nứt ở nhân loại đang dần lộ rõ?
Dùng các chế tài, luật hình để ngăn chặn dòng người “trốn đời, vào đạo” ư?
Lý do của việc ngăn trở gia nhập tôn giáo là gì?
Thời đại tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo kia mà.
Lấy lý do phải tự cung, tự cấp không được làm kẻ ăn bám của xã hội chăng?
Các nhà quản lý sẽ trả lời ra sao trước phản biện “Các ông chẳng phải là những kẻ ăn bám hạng sang đó sao? Nói hay, nói tài đâu phải ít người làm được nhưng nói mà không có người ủng hộ, chung tay làm thì chẳng phải là của dư thừa, là ăn bám cả sao?”.
Hơn nữa, tôn giáo là thuốc phiện đó là sự thật. Đã có rất nhiều người từ bỏ mạng sống bằng việc Thánh chiến, Tử vì đạo đó là một minh chứng về tính chất gây nghiện của tôn giáo. Vì lẽ đó ngăn cản con người gia nhập tôn giáo, “cắt ái, ly gia”, từ bỏ lao động, xa rời xã hội là điều gần như bất khả thi. Tôn giáo đã tồn tại hàng ngàn năm là bằng chứng xác thực cho điều đó. Nếu có chăng chỉ là việc tắm máu loài người mà thôi.
Một điều cần xác thực lại “Tôi không là người chết vì tôn giáo”.
…
Phải chăng với ngôn từ và việc tôi đang làm thì dẫu có 100 cái mạng để đền trả cho sự ngông cuồng, “dưới mắt không người” là điều không hẳn không có lý?
Dù vậy tôi vẫn trình bày cho hết những điều cần phải gửi trả lại cho nhận thức, tư duy, tri thức nhân loại. Tôi vẫn làm việc một cách khách quan và bình thản.
Tôi rõ biết đang làm gì và tường tận nhân loại đang đi về đâu?
Thế nên tôi đã chọn lựa việc trình bày con đường mà nhân loại cùng con người đang đi ngõ hầu giúp bạn dễ dàng cho việc chọn lựa.
Với những nhà quản lý có tâm, có tầm những may có duyên với những điều tôi trình bày sẽ có lối thoát cho định hướng xây dựng phát triển đất nước, hướng con người về một lối đi sáng rõ. Bằng vào việc thành thật nhận diện sai lầm và ra sức sửa sai là một việc làm đúng mực, hợp thời.
Còn với những nhà quản lý kém cỏi, bảo thủ, độc tài, chuyên quyền, ăn ở hai lòng, “lòng lang, dạ sói”,… chỉ biết chất chứa hận thù, sự trút giận và tìm diệt kẻ ngông cuồng Ngạo Thuyết thì cứ việc đến đòi công bằng, tôi đã sẵn sàng trả giá.
Nhân tiện tôi cũng xin nhắn lời với những kẻ “mặt người, dạ thú” cùng sự tối tăm, tham đắm, gian trá,… trong lòng thì việc “thay khuôn, đổi mặt”, khoác lên người lớp lông thú chỉ là vấn đề thời gian.
Phải chăng có câu “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”?
Khẩu Phật, tâm xà. Bản chất là rắn thì sớm muộn cũng sẽ hiện ra nguyên hình, lộ rõ chân tướng thật.
Đây không là lời nguyền, không là sự đe dọa mà là sự cảnh tỉnh khách quan, đúng mực để chúng sinh 3 cõi có đủ sự hiểu biết cần thiết cho việc chọn lựa lối đi cho riêng mình.
Đây không là sự răn đe, uy hiếp tinh thần vì lẽ nếu là người tin sâu vào khoa học, chủ nghĩa duy vật hoàn toàn - “Chết là hết” thì câu nói này đã bị vô hiệu. Kẻ làm nhiễu loạn lòng người, gây ra tội ác chống lại nhân loại cần phải bị trừng phạt đích đáng.
Có một điều chắc chắn rằng nếu tôi không thể giúp người cũng sẽ không bao giờ “dìm” người vào địa ngục. Dẫu rằng tôi có đủ năng lực làm điều đó nhưng đó không phải là điều đáng để tôi làm. Hãy nhớ rằng mỗi người hoàn toàn có thể tự chủ chọn lối đi cho chính mình nơi 3 cõi, 6 đường cũng như sự giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi.
Sẽ có nhận định rằng “Tôi sẽ chết vì sự nông nổi, dại khờ vì can thiệp vào quy luật nhân quả khách quan nơi 3 cõi. Tôi sẽ chết vì trò “chọc trời, khuấy nước, không rõ “Trời cao, đất dầy”…
Chết. Trong thế giới hữu hình có ai lại không chết. Nhưng với tôi thì đó chỉ là sự dừng lại, là nghỉ ngơi mà thôi. Nếu là người liễu ngộ chánh pháp thì sẽ rõ biết người chứng ngộ pháp vô sinh không có cái gọi là chết đó mới là sự thật. Chỉ có những người còn hạn cuộc vào việc sinh tử mới phải trôi lăn trong sinh tử.
Cũng lại như vậy. Người chứng ngộ pháp vô sinh tâm tại Niết bàn. Vì lẽ đó không phải đợi đến lúc tôi chết đi, tứ đại tan rã thì mới thể nhập Niết bàn mà hiện tôi thường tại Niết bàn mới là chánh pháp chân thật. Nếu tâm không thường tại Niết bàn rồi chết đi tìm về Niết bàn là lời nói nhị nguyên, là sự trái đạo. Hay nói cách khác người học Phật đạt sự giác ngộ thật sự là người rành rẽ 3 cõi, 6 đường và cả Niết bàn ngay khi còn ở hiện đời. Việc luân hồi hay chấm dứt sinh tử ở hậu kiếp là do tùy tâm chọn lựa mà không có sự ngăn ngại.
Có lẽ việc đan xen đời đạo sẽ khiến những người chuyên đời khó thể “nắm bắt” sự việc. Đành thôi. Nếu có quan tâm thì bạn tìm tòi, học hỏi. Còn bằng không thì bạn hãy tùy tiện bỏ qua.
Sở dĩ việc trình bày đời đạo đan xen là việc làm tôi đang dụng tâm. Bởi lẽ việc tách rời đời đạo đã khiến đạo hỗn độn, đời rối ren, nguy biến nên việc tôi cần làm là hợp nhất đời đạo. Mối nguy của việc tách rời đời đạo thì bạn cùng mọi người cứ nhìn vào thực tại sẽ rõ.
Còn về việc can thiệp vào nhân quả. Việc nhân quả là điều khiến phần đông người học Phật không tường lý sự e dè, kinh sợ. Thế nên nghe đến việc can thiệp vào nhân quả sẽ khiến cho lòng người học Phật không an.
Tại sao tôi tự tại can thiệp vào quy luật nhân quả?
Tôi đã không còn là người học Phật, không còn sự ngán ngại nhân quả. Tuy nhiên, không vì lẽ đó mà tôi xem thường nhân quả. Tôi rõ biết nhân quả. Nhân quả vốn không đáng sợ, nhân quả vốn khách quan, sáng rõ, công bằng. Việc can thiệp nhân quả đúng mực thì không có lỗi.
Tôi rõ biết dòng chảy của sự sống, của xã hội loài người là những con nước ròng, nước lớn đan xen tương tục. Chỉ có những người chứng ngộ pháp vô sinh là có được sự tự tại, bình thản đến đi. Họ có thể dừng lặng luân hồi, họ có thể vờn trên sóng sinh tử mà đi nếu chưa nỡ “buông bỏ” từ bi tâm. Cũng chính do rõ bản chất của con nước ròng, con nước lớn nên tôi một phen ra sức điều tiết dòng chảy. Dù là không thể ngăn con nước lớn, nước ròng một cách tuyệt đối, lâu dài nhưng con người vẫn có thể ngăn ngừa, giảm thiểu việc hủy hoại, sức công phá do dòng nước chảy gây ra cho loài người. Khi có sự điều tiết đúng mực, hợp lý con người sẽ làm chủ được dòng chảy, tận dụng sức nước làm được nhiều việc có ích cho con người và muôn vật.
Việc ngăn lũ lụt cuốn trôi nhà cửa, hủy diệt con người đâu phải là việc làm sai mà là việc làm hợp lòng người, thỏa bi nguyện từ tâm của các bậc hiền thánh, Phật Thích Ca. Việc can thiệp vào lý nhân quả này âu cũng đáng làm, nên làm.
Can thiệp nhân sẽ gánh quả ư?
Tôi ra ngoài nhân quả đã gần 3 năm có lẻ. Thật chẳng còn nhân để tạo, chẳng có quả để gánh. Có chăng chỉ là việc đoạn dứt chút duyên thừa.
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét