Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Lòng người bạc ác

Vượt qua những kiếp trong cõi Địa ngục về một kiếp trước đó. Tôi là con của một điền chủ giàu có. Tôi là Cậu Nhất, là quý công tử lắm bạc nhiều tiền và ngang tàng bậc nhất. Tôi tiêu tiền như nước. Không có kỹ viện, quán rượu, nhà trọ sang trọng nào mà không biết đến Cậu Nhất.
Sống đắm chìm trong hoang lạc, giàu có tôi không coi ai ra gì?
Không ít lần tôi cho người đánh gãy tay, gãy chân những người hầu bàn phục vụ mà tôi không vừa ý. Có thế lực quan quyền bao che, tôi mặc sức tung hoành không ít gia đình phải bỏ xứ đi khi động phạm phải tôi.
Hôm ấy là một buổi chiều cuối đông, tiết trời khá lạnh. Tôi mặc áo choàng bằng lông con báo gấm tuyệt đẹp. Tôi đứng giữa khoảng sân rộng, trên tóc tôi đầy những bông tuyết. Tôi đang dùng roi da hành hạ con người hầu, trên người không còn một mảnh vải che thân. Mỗi đòn roi tôi đánh xuống bông tuyết trên người tôi bay ra trắng xóa.
Mặc con người hầu quỳ lạy van xin, càng đánh tôi càng hung tợn hơn. Đánh chán chê vì con người hầu chẳng còn đủ sức kêu la nữa. Tôi cho người kéo xác cô hầu cột ở góc cây gần đó.
Tôi thấy “Tôi thật tàn nhẫn, ác độc”.
Lý do của việc hành hạ đó là cô người hầu đã không kịp châm thêm than củi vào lò sưởi ấm. Những con hầu khác sợ hãi đã chuẩn bị một lò sưởi khác. Tôi vào nhà, gia nhân đã chuẩn bị buổi tối đầy rượu thịt.
Trời trở lạnh thêm, tôi thấm mệt, nhấn nhá vài miếng thịt và uống hết hai vò rượu. Tên gia nhân bạo miệng xin tha con người hầu.
Ầm! Mâm thức ăn đã bay xuống nền nhà. Tên gia nhân lạy tôi như tế sao, tôi gằn giọng “Đứa nào dám thả con người hầu đó, tao sẽ móc mắt ra”.
Tôi bỏ vào nhà trong, mệt mỏi đánh một giấc tới sáng. Sáng ra, tôi mới biết con người hầu đã chết. Hóa ra bị tôi dọa, đám gia nhân không dám nói cho cha tôi. Đến khi biết chuyện, ông già cũng chẳng dám nói tôi câu gì. Bực dọc, tôi sai gia nhân chuẩn bị tiệc rượu và đi mời đám bạn nhà giàu đến, kêu cả bọn ca kỹ đến hát hầu.
Cả bọn ăn chơi đến khuya mỏi mệt thì lăn ra ngủ. Giữa đêm, tôi thấy ớn lạnh. Mở mắt nhìn thấy trời lờ mờ, tiếng chó ăng ẳng vang lại từ xa, gió thổi nghe xào xạc. Xa xa lờ mờ ẩn hiện những bóng người, tôi thấy rờn rợn nhớ lại xác chết trắng bệch,...
Từ đó, về đêm tôi không còn được giấc ngủ ngon. Tính tình càng thêm cáu gắt, tôi tiêu sài hoang phí hơn. Rượu thịt thừa mứa tôi cấm tiệt bọn người ở ăn. Tôi thường nói “Đồ ăn dư thừa thời đổ cho chó ăn, dư thời đổ bỏ cấm tiệt cho lũ vô tích sự ăn”.
Ông già mất sớm, mụ dì ghẻ thông đồng với quan lại địa phương bức hại đẩy tôi ra đường. Uất ức đói rách, tôi đến nhà đám bạn chén tạc, chén thù ngày trước bị chúng cho gia nhân xua đuổi.
Đói quá, tôi xin ăn cũng chẳng ai cho. Mọi người ghét bỏ xua đuổi, tôi ăn lại cơm thừa của chó. Đêm đói lạnh ngủ ở ngoài hiên nhà người cũng bị đánh đập, xua chó cắn đuổi. Tôi tháo chạy không may té xuống hố sâu gãy cả hai chân. Ngày lăn lê xin ăn, đêm lần ra khu mồ mả ngủ.

Rồi một hôm, tôi phát điên dại không bao lâu thì chết.

Kiếp dòi bọ

Lại một kiếp khác, tôi thấy một đồng cỏ hoang vu không một bóng người. Không tin vào mắt mình. Tôi là một con bọ hung. Tôi đang vo tròn những viên phân bò trên đồng cỏ. Tôi làm việc rất chăm chỉ và cẩn thận như thể đó là một công việc cao quý, thiêng liêng.
Quái lạ sao có thể thế được?
Tôi đi tìm nguyên nhân thì bắt gặp tôi có mặt trong một đám đông nhung nhúc.
Ôi! Trời ơi! Một xác người vàng bủng, trương thối. Tôi là một trong vô số những con dòi bọ đang đánh chén thịt người. Tôi cảm nhận mùi xác chết nồng lên trên mũi. Thật tởm lợm!
Nhưng không phải, trong kiếp sống của một con dòi, những con dòi hăm hở ăn cái xác thối. Với chúng đó là một món ăn ngon lành, béo bổ. Những kiếp lâu xa liền kề đó, tôi vẫn là con dòi trong đống phân, trong xác chuột chết, trong những mảng thịt dư thừa của bọn sư tử, chó hoang,...
Lại rơi vào vùng tối đen, tôi thấy đói ghê gớm bụng sôi lên ùng ục, nước dãi chảy đầy quanh mặt. Tôi thấy người ta đang bày tiệc, những mâm đầy thức ăn. Tôi rón rén lần tới. Dường như người ta không chú ý đến tôi. Tôi đánh liều nhấc một cái đùi gà hấp còn nóng hôi hổi, rồi vùng chạy vào trong gốc khuất. Đưa lên mồm. Cốp! Đau buốt cả răng. Xòe tay ra, tôi không thấy đùi gà đâu. Tôi dáo dác đưa mắt tìm kiếm, không rơi rớt ở đâu cả. Nhìn lại, cái đùi gà vẫn nằm nguyên trên bàn.
Quái lạ! Lần này, tôi thận trọng hơn. Tôi lần đến con heo sữa quay. Tôi đói ghê gớm, cúi xuống. Cốp! Hai hàm răng lại đánh vào nhau. Sợ mọi người đuổi theo, tôi bỏ chạy nhưng cũng chẳng ai đuổi theo. Bụng tôi réo mỗi lúc một lớn. Tôi đói dữ dội.
Tôi chợt nhìn thấy một cái bánh ai đánh rơi ven đường, tôi nhặt lên ăn, cũng lại không được. Kinh hoảng, tôi nhận ra mình là con quỷ đói lang thang. Tôi đói lả người và chết ngất bên cạnh chiếc bánh. Trải qua thời gian không biết bao lâu, tôi dần tỉnh, có tiếng chuông chùa từ xa vọng lại.

Tôi tiếp tục đi tìm chân tướng sự việc. Tôi nghe tiếng kêu gào rên siết. Ở Địa ngục, tôi đang bị trói chặt vào một trụ sắt nung đỏ và một hình hài gớm ghiếc đang dùng một cái kềm to cũng được nung đỏ bành miệng tôi ra những viên sắt góc cạnh nóng hừng hực, đỏ lòm được nhét vào miệng. Tôi giãy dụa gào khóc xin tha. Tôi nghe tiếng thịt cháy xèo xèo, rát bỏng. Tôi nhìn thấy từng viên sắt đỏ trôi chảy trong cơ thể, tôi chết ngất. Lại sống, lại chịu hình phạt. Nhiều kiếp sau tôi vẫn ở Địa ngục chịu nhiều hình phạt thống khổ khác.

Con cò gian trá

Có một kiếp lâu xa khác. Lúc ấy, tôi là một con cò trắng. Tôi vẫn thường bay đi bắt cá, mò tôm. Có hôm đang bay, tôi bắt gặp một đàn gà con lạc mẹ, kêu la rối rít. Đang đói, đáp xuống tôi tiến lại một chú gà con. Chớp mắt, tôi đã xơi một con, thấy cũng rất ngon miệng. Đàn gà con la hoảng, kêu cứu, trốn chạy. Chỉ cần bước vài bước, tôi với cái cổ dài ra là tóm ngay được một chú gà con xấu số khác, dễ bắt hơn bọn tôm cá ở dưới nước.

Thoáng chốc, tôi đã thịt bốn chú gà con. Vẫn còn thòm thèm, tôi tiến tới chú thứ năm thì mụ gà mái ở đâu xuất hiện đá cho tôi một cú đau điếng. Loạng choạng, cố nén đau tôi bay lên. Bụng rủa thầm “Đồ mụ gà mái độc ác!”.

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Tàng thức mê mờ

Với nguyện lực như thế nhưng đáng tiếc những kiếp ngay sau đó tôi trả nghiệp cũ rơi vào kiếp ma đói sống lang thang vất vưởng, đói khát triền miên. May nhờ đi theo đám chúng bạn vào được một ngôi chùa đổ nát nương náu qua ngày. Vị sư ở chùa cho ăn, được nghe kinh Phật.
Sau một thời gian dài tôi siêu sinh vào một gia đình nghèo khó. Tôi được cho vào chùa làm một chú tiểu theo kề cận sư phụ. Có lẽ tánh xấu huân tập ở nghiệp ma đói khiến tôi ăn nhiều. May nhờ sư phụ nghiêm khắc nên tôi giữ giới khá chu toàn nhưng đạo lực thì yếu kém. Là kẻ chỉ đường không phải là người qua sông.

Ngay kiếp sau đó làm vua một nước lớn. Phước báo quá lớn, đạo lực lại yếu kém. Tôi làm một hôn quân vô đạo, ăn chơi sa đọa, trụy lạc. Tôi tại vị không bao lâu gây ra cảnh máu đổ đầu rơi, dân tình oán thán. Lại gặp nạn binh đao nên nỗi nước mất, nhà tan. Tôi từ bỏ ngai vàng trốn chạy vào rừng nhưng bị quan quân truy bắt. Sau đó, tôi chết thảm giữa pháp trường còn bị cắt đầu thị chúng.

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Vào Địa Ngục

Một nơi tối đen ẩm thấp, vừa nóng bức vừa lạnh lẽo. Tiếng kêu gào, tiếng gầm thét, tiếng kim khí chạm vào nhau nghe thật quá ghê rợn. Tôi hoảng loạn chạy trốn vào những nơi tối tăm nhất. Tiếng la hét càng thảm thiết hơn. Kinh hoàng, tôi bịt cả hai tai lại nhưng không ngăn được những âm thanh đinh tai, nhức óc kia.
Cứ thế ... cứ thế ... mỗi tiếng kêu gào cứ như là một mảng thịt trên người tôi bị xé toạc ra, tiếng xương dính vào thịt gãy nghe răng rắc. Tiếng ầm ầm như tiếng búa đập trên đe, tôi cảm nhận xương thịt vỡ vụn. Tôi bắt đầu gào thét điên loạn, kinh hoàng tột độ. Tôi không biết mình chết đi, sống lại bao nhiêu lần?
Rồi một thời gian rất lâu, rất lâu sau, tôi cảm thấy những đau đớn nhẹ dần. Tôi đã nhìn thấy ánh sáng. Có những vùng sáng đỏ rực và có những mảng sáng xanh lạnh lẽo, chập chờn. Thật ghê rợn. Tôi lại nghe những tiếng thét, tiếng gào vang ra từ những vùng ánh sáng và cả ở những vùng tối đen.
Quá quen với bóng tối, tôi lại tìm đường rúc vào những nơi tối tăm nhưng đã không được. Hoảng sợ, tôi lại gào khóc nhưng rồi lại nhận ra những đau đớn trong thân đã không còn.
Ngoài kia vẫn còn đó những âm thanh chát tai, thảm thiết. Tôi cố trấn tỉnh lại. Tôi đang ở trong vùng ánh sáng vàng rực rỡ, ấm áp, êm dịu quen thuộc. Tôi nhận ra đây là luồng ánh sáng phát ra từ thân Phật. Tôi dõi mắt tìm nhưng không thấy bóng Phật đâu. Nhớ lại những điều Phật thuyết, tôi nhận ra nơi đây là Địa ngục và biết được nguyên do vào Địa ngục, rùng mình kinh sợ. Tiếng kêu gào ngoài kia không lúc nào dừng ngớt. Tôi tiến lại những vùng tối đen. Dưới ánh sáng phát ra, tôi nhận ra lố nhố những bóng đen, đông vô số kể di chuyển, cựa quậy, lăn lóc kêu gào. Cảm thương tôi dang tay đón lấy, những bóng đen hoảng loạn kêu gào, rên siết tháo chạy.
Tôi nhận ra nguyên do tôi đã từng trốn chạy ánh sáng như thế. Tôi chầm chậm di chuyển và bất chợt túm lấy một bóng đen.
Bóng đen bị túm lấy hoảng loạn, vùng vẫy, kêu cứu, van xin. Tôi ra sức vỗ về trấn an. Một lúc sau, bóng đen hết hoảng loạn, tôi nhẹ nhàng buông ra. Một vùng ánh sáng màu vàng khác nhưng nhỏ hơn và không rực rỡ bằng.
Tiếp tục công việc, tôi tiến đến túm lấy từng bóng đen. Và những vùng ánh sáng vàng mới lại xuất hiện nhiều hơn. Những vùng ánh sáng vàng được tạo ra cũng góp phần làm việc cùng.
Trải qua thời gian dài, những vùng ánh sáng vàng đã nhiều hơn nhưng vùng ánh sáng đỏ, vùng ánh sáng xanh và vùng tối đen vẫn không hề thuyên giảm...
Tôi lấy làm lạ. Dừng lại, tôi nhìn những vùng ánh sáng vàng được tạo ra. Một số khi tiến vào vùng ánh sáng đỏ, xanh và vùng tối đen thì gào lên thảm thiết và mất hẳn. Một số khác thoát ra được thì kinh hoàng hoảng loạn.
Tôi do dự từng bước tiến vào vùng ánh sáng đỏ rực. Một cảm giác nóng bức, tôi thấy vùng ánh sáng vàng quanh tôi như muốn tan chảy ra. Tôi dừng lại, bên trong vùng ánh sáng đỏ tiếng kêu gào vang lên, âm thanh bi thảm, phẫn uất. Sau cùng, tôi đã đi vào vùng ánh sáng đỏ một cảnh tượng khó thể phai mờ trong tâm trí. Tầng tầng, lớp lớp thân người rơi vào trong những chảo lửa to lớn tan chảy, tiếng gào thét, tiếng rên rĩ nghèn nghẹn xen lẫn tiếng xì xèo, không gian khô khốc, khét lẹt. Nhưng lạ thay những xác người đó nguyên lành lại và vẫn còn vẫy vùng kêu gào. Lại bị rơi vào trong chảo rú lên gào thét. Dường như những thân người đó chỉ có thể kêu gào, rên siết, vùng vẫy nhưng không thể tháo chạy. Chỉ thấy bật lên nguyên vẹn rồi ngã xuống kêu gào, tan chảy. Tôi tiến đến dang tay đón lấy nhưng không thể nào chạm vào họ được.
Tôi rời khỏi vùng ánh sáng đỏ tiến về vùng sáng xanh. Ôi! Thật âm u, lạnh lẽo, tôi bước vào vùng ánh sáng vàng như co lại, nứt ra tôi lấy làm kinh hãi nhưng cũng trấn tỉnh lại. Nhìn thấy những thân người co quắp, tiếng da thịt vỡ lách cách. Tiếng xương rạn nứt, rời vỡ phát ra những âm thanh rắc rắc. Xen lẫn tiếng gào, tiếng kêu cứu rên rĩ. Ôi! Nhiều thân xác quá không thể tính đếm được. Cũng như ở trong vùng ánh sáng đỏ, những xác thân gào khóc cho đến khi vỡ vụn thì dừng lại. Một lúc sau cũng một thân xác đó lành lặn, nguyên vẹn, rên rĩ rồi lại vỡ ra từng mảng, phơi bày những ruột gan tim óc, tiếng gào thét cũng không ngừng dứt. Tôi thấy quá đau xót dang tay đón lấy nhưng vô ích,... Tôi thoát ra vùng ánh sáng xanh.
Có một vùng ánh sáng trắng tinh sạch mà bây giờ tôi mới nhìn thấy. Tôi tiến lại gần, những bóng đen lăn lóc thối lui. Có những vùng ánh sáng vàng tiến vào vùng ánh sáng trắng và mất hút, có một số bóng đen cũng đi vào vùng ánh sáng trắng cũng không có tiếng kêu la vọng lại.
Tôi định tĩnh quan sát lại mọi việc. Nhận thấy có những bóng đen lao vào vùng sáng đỏ, xanh họ cố vượt ra như không thể và tiếng kêu gào, tiếng kim khí chạm vào nhau vang lên. Ngược lại cũng có những bóng đen từ trong vùng ánh sáng văng vào vùng tối đen kêu gào rên siết. Thật quá thương tâm!
Tôi lại nhớ đến bi nguyện của Phật Thích Ca cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Tâm từ bi của đức Phật thật lớn lao, vĩ đại. Tôi cũng có tâm từ tâm bi nhưng không thể giúp chúng sinh trong cõi Địa ngục thoát khỏi khổ não, bức hại và hành hạ.
Lại nhớ lời nguyện của Địa tạng vương Bồ tát. Phật và Bồ tát có chí nguyện thật cao cả. Tôi vẫn đang ở Địa ngục nhưng lại không bị khổ não bức hại. Tôi cảm thấy rất an toàn, ấm áp.
Tôi quỳ xuống phát nguyện “Nguyện vì chúng sinh trong cõi Địa ngục, thường tu tập các Pháp Phật để mang ánh sáng về thắp sáng Địa ngục tối tăm. Giúp chúng sinh trong cõi Địa ngục không còn đau khổ, phiền não, bị bức hại”.
Từ bốn phương đồng vang lên âm thanh trầm ấm, hùng tráng “Lành thay! Lành thay! Làm bừng sáng Địa ngục là việc khó làm. Chúng sinh cõi Địa ngục phần nhiều nghiệp nhân xấu ác rơi vào Địa ngục, tâm thức mê mờ, sợ sệt, hoảng loạn. Vì nhớ tưởng đến những việc làm xấu ác đã làm, sợ đòi nợ, sợ đền mạng,... Chạm phải ánh sáng cuống cuồng chui rúc. Làm bừng sáng Địa ngục là việc khó làm. Lành thay! Lành thay!”.

Tôi cúi người xuống vọng bái, rồi đứng lên, đi vào vùng ánh sáng trắng.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Cánh cửa vào Địa Ngục

Nhớ lại kiếp lâu xa. Khi Phật còn tại thế. Lúc ấy, tôi là con muỗi thường bay quanh Phật, nghe thuyết pháp. Ở bên cạnh Phật, tôi rất an ổn, ánh sáng phát ra từ thân Phật vàng rực rỡ nhưng lại rất ấm áp và êm dịu. Có khi tôi đậu bên vai trái, có khi ở vai phải, có lúc đậu trên tai trái, có lúc đậu trên tai phải.
Tôi là con muỗi, thi thoảng tôi vẫn hút máu Người. Cứ thế cho đến hôm, Phật thuyết về năm tội vô gián gồm giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hiệp Tăng, làm thân Phật chảy máu. Chúng sinh nào phạm một trong năm tội trên sẽ bị đọa vào Địa ngục vô gián chịu các sự hành hạ khổ bức, không lúc nào dừng nghỉ.
Do nhân duyên nghe thời pháp đó, những kiếp về sau tôi bị rơi vào Địa ngục đến hàng ngàn kiếp.
Sau khi đạt đóa vô ưu, tôi đã quán sát nguyên do làm thân muỗi.
Tôi nhận ra trong rất nhiều kiếp trước đó. Khi Phật còn hành hạnh Bồ tát, tôi đã từng là con của Người. Lúc tôi còn là một đứa trẻ, Bồ tát đã cho tôi cho một người bà la môn xấu xa, ác độc. Bỏ mặc tôi kêu gào, than khóc Người vẫn bình thản bước đi. Vì mối hận đó tôi đã nguyện “Nếu có kiếp sau sẽ theo Bồ tát mà báo thù”. Đến khi khôn lớn tôi hiểu rõ và nhận ra lỗi lầm nhưng đã không còn kịp để hóa giải lời thệ nguyện.
Lời nguyền đó chứa đầy sự hận thù căm tức ghi sâu trong tàng thức, không dễ hóa giải.

Ba lần đối diện với Tâm Ma

Trước ngày đạt đóa vô ưu, tôi đang thiền định. Tâm Ma xuất hiện vẻ mặt vênh váo, cười khinh bỉ, chất vấn:
- Ngươi định đi tìm sự an lạc, thoát khổ trong tấm thân xác khô gầy đó sao? Phải rồi ngươi sẽ thoát khổ khi ngươi thành xác chết.
Nói xong, Tâm Ma cất lên tiếng cười the thé, cười mà như khóc. Tôi thoáng rùng mình nhưng lấy lại được sự định tỉnh và im lặng. Tâm Ma lại lên tiếng, giọng âm u, đầy vẻ hăm dọa:
- Ta và ngươi ở cùng chung một nhà. Ngươi chết mặc ngươi, hà cớ gì hành hạ, bức hại ta. Khiến ta đói khổ, nhìn rượu thịt ê hề, của ngon, vật lạ mà ta phải nuốt nước miếng ừng ực. Hãy mau trả sự tự do lại cho ta! Nếu không ta sẽ khiến ngươi sống không bằng chết.
Tôi vẫn giữ sự im lặng. Không gian về đêm lành lạnh, tĩnh mịch. Hai hố mắt Tâm Ma rực đỏ lửa hận thù, người rung bần bật thể hiện sự căm tức tột độ.
Rồi ánh mắt Tâm Ma như dịu lại, cất tiếng nói có phần hòa hoãn, chiêu dụ:
- Thôi được! Ta nhường ngươi vậy. Thôi, ngươi đừng cố tìm đạo nữa chỉ hại thân. Ta sẽ vì ngươi kiếm thật nhiều tiền bạc, của báu, rượu ngon, gái đẹp,... Ngươi muốn gì ta chiều theo ý ngươi hết.
Tôi điềm nhiên buộc miệng hỏi:
- Những thứ ngươi nói có khiến ta thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống, thoát khỏi luân hồi sinh tử không?
Nghe xong câu nói này Tâm Ma đột nhiên biến mất.
Ngày đạt đóa vô ưu, tôi đang ở trong tâm thái hỷ lạc của thiền định.
Tâm Ma bất chợt xuất hiện cười hềnh hệch vẻ mặt đầy gian trá buông lời:
- Chúc mừng! Chúc mừng Ngài đã đạt được sự vô ưu. Ngài sẽ làm giáo chủ của bốn phương. Tông giáo của Ngài là gì? Ngài lấy pháp hiệu là gì?
Tôi lên tiếng:
- Hãy thôi đi Tâm Ma! Ta sẽ vào Địa ngục.
Tâm Ma ngẩn ngơ:
- Ngài mượn pháp Phật sao lại nói lời ma?
Tôi trả lời:
- Ta không nói lời hư dối, ta vào Địa ngục. Xác thân này ta sẽ gửi về cho thiên hạ, những người có bệnh về thân, những người thật sự cần đến nó.
Tâm Ma lên tiếng:
- Nhưng đức Phật thành đạo, Người không làm vậy. Tại sao Ngài làm vậy?
Tôi bình thản nói:
- Tâm Ma ngươi thật khéo dụng tâm phân biệt. Những người có bệnh về thân cũng cần được chữa trị. Ta chết để muôn người sống được thật sống, khi có Tình yêu thương chân thật trong đời.
Tâm Ma gào lên:
- Không! Ta không cho phép ngươi làm vậy. Ngươi bức hại ta phải bỏ thân mà đi nhưng ta không cho phép ngươi phá hoại xác thân của ta. Tại sao ngươi làm vậy?
Tôi cười nhẹ:
- Tâm Ma, ngươi vẫn u mê như người đời. Ngươi chỉ biết đến đức Phật toàn tri, Thánh Ala toàn thiện, Chúa Jesu toàn năng nhưng lại không biết đến một Ma Vương đáng yêu.
Tâm Ma rít lên những tiếng đinh tai:
- Ta sẽ ngăn không cho ngươi làm điều này! Ta sẽ ngăn lại! Ngăn lại!
Sau ngày đạt đóa vô ưu, tôi thiền định quán chiếu. Quả nhiên nhân loại có hai loại bệnh chính - Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Cả hai loại bệnh này nguyên nhân phần nhiều là do của cải, tiền bạc mang lại. Người thì tham lam tích góp sinh ra ích kỷ, tranh giành ganh ghét, tạo nhiều nghiệp xấu ác,... gây bệnh về tâm. Ăn uống vô độ, thừa mứa, tham đắm ngũ dục gây bệnh về thân. Người thì nghèo khổ, đói lạnh, chịu quả báo đời trước, bệnh tật triền miên. Người này ngược xuôi, tất tả tìm miếng cơm manh áo, đâu có thời gian tìm hiểu chánh pháp, làm sao tiêu được nghiệp cũ?
Thôi, ta nên lập quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc”. Ta sẽ vì người mà nuôi dưỡng lòng từ bi, xóa bỏ sự ích kỷ tham lam,… giúp người nghèo khó có đủ cơm ăn áo mặc, bệnh tật thuyên giảm, tin sâu nhân quả, học hỏi hành trì theo chánh pháp nhằm tiêu trừ nghiệp cũ, dứt khổ đau, sớm đạt sự giác ngộ, giải thoát.
Tâm Ma lại xuất hiện cười giễu cợt:
- Ha ha! Ma Vương hỡi, Ma Vương ơi! Ai đã từng nói tiền bạc, của báu, vũ khí,... là vật bất tường, là vật phá hỏng sự nghiệp tu hành. Người ngay thẳng hãy nên tránh xa. Người thiếu đức được vật, mất người. Nay ông tham đắm, ham mê lợi dưỡng. Ông sẽ rơi vào Địa ngục.
Tôi nghiêm giọng:
- Tâm Ma! Ngươi đã quên rằng ta là Ma vương vì Tam giới sẽ vào Địa ngục thắp sáng cõi tối tăm. Ngươi chỉ là đồ chúng còn không mau quy phục.

Tâm Ma giật mình kinh hãi, đảnh lễ lui ra.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Những câu chuyện Tiền kiếp

Khi  đạt đóa vô ưu, tôi nhìn lại những kiếp lâu xa trong quá khứ, lòng tôi kinh hãi không ít. Tôi đã trầm luân trong bể khổ hằng hà sa số kiếp lăn lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường. Địa ngục đầy dấu chân tôi để lại. Lang thang đói lạnh cũng không ít. Phước báo cõi Trời, A tu la, cõi Người chưa lần nhàm mỏi. Ở nẻo súc sinh thì muôn hình vạn dạng. Những kiếp hưởng phước báo nhiều hại con đường tu hành thêm khó khăn, gian truân thêm.

Nay tôi sẽ vì bạn mà kể đôi điều về tiền kiếp.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Đốn ngộ, tiệm tu theo cách nhìn của Vô Ưu

Qua một câu chuyện, Vô Ưu sẽ nói về tiệm tu và đốn ngộ.
Ví như có một bậc minh sư ẩn cư trong một ngôi chùa nhỏ, ở một khe núi hoang vắng. Một hôm, có hai người đến tìm đạo xin được làm đệ tử. Sau một thời gian thử thách, bậc minh sư nhận rõ hai người đệ tử. Có người căn tánh lanh lẹ, thông minh xuất chúng, có niệm tin sâu vào đạo. Người còn lại có phần chậm lụt hơn nhưng cũng có niềm tin về đạo sâu sắc. Vào một đêm trăng sáng, vị minh sư chỉ vầng trăng và nói “Cả hai con đều có một vầng trăng sáng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm”. Ngay đó, người lợi căn liền nhận ra bản tâm của mình. Người chậm lụt nhìn thấy trăng trên trời đẹp nhưng cao quá, lại thấy có vầng trăng sáng tròn đầy nguyên vẹn ở trong hồ nước. Muốn nhìn trăng cho rõ hơn, anh múc nước trong hồ đổ đi. Cứ mỗi lần anh ta múc nước thì ánh trăng tan mất, anh chờ đợi ánh trăng nguyên vẹn rồi lại múc nước đổ đi. Cứ thế ... cứ thế ..., anh ta có niềm tin sâu sắc  “Khi nước trong hồ cạn dần đi thì anh ta sẽ gần với vầng trăng hơn”.
Ngày tháng qua mau, nước trong hồ đã cạn, anh ta nhận ra “Trong hồ không có vầng trăng nào cả". Tuyệt vọng, anh ngồi xuống và ngước nhìn lên bầu trời, cũng đúng vào đêm trăng tròn tuyệt đẹp. Anh chợt nhận ra trăng đáy nước do trăng trên bầu trời mà có. Bấy lâu nay, ta đi tìm bóng ở trong gương. Nhớ lại lời dạy của vị minh sư, anh có ngay vầng trăng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm.
Sẽ có rất nhiều người đọc xong mẩu chuyện này sẽ cười anh chàng múc nước tìm trăng thật ngu ngốc, đáng thương hại.
Còn bạn thì sao bạn có tin trong bạn có vầng trăng viên dung tuyệt đẹp và bạn sẽ tìm thấy vầng trăng đó bằng cách nào?
Còn anh chàng kia không chắc đã đáng thương hại bằng bạn. Ít nhất anh ta cũng đã tìm được vầng trăng ở trong tâm.
Người tu đốn ngộ như chàng thanh niên căn tính lanh lợi là bậc thượng căn nghe thấy liền biết. Người tu đốn ngộ trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Khi được thiện tri thức khai ngộ tự tu, tự chứng nhanh chóng đạt thể.
Đáng tiếc, do dễ dàng đạt quả vị A la hán nên chí nguyện phần nhiều không lớn. Tự liễu thoát sinh tử cho mình. Việc độ thoát chúng sinh trong 3 cõi tùy duyên.
Hãy mau nghĩ tưởng bi nguyện của Phật! Trả ơn tam bảo lập hạnh Bồ tát. Nhập thế độ sinh làm đấng trượng phu trong tam giới. Tam giới chúng sinh căn tánh lợi độn muôn ngàn sai biệt, việc thuyết pháp tùy theo căn tánh.
Người tiệm tu như chàng thanh niên múc nước tìm trăng, cực khổ vô cùng mới tìm được đạo. Hiểu mình, hiểu người, thương tưởng chúng sinh trong 3 cõi thường phát chí nguyện lớn. Cứu độ khắp hàm linh.
Tuy nhiên, người tiệm tu mất nhiều thời gian múc nước tìm trăng, việc hoằng dương chánh pháp cũng ít nhiều hạn chế. Dẫu sao cũng là đấng trượng phu trong tam giới.

Chúng sinh trong 3 cõi 6 đường hãy tự chiêm nghiệm xem mình là bậc thượng căn, đại trí hay người hạ căn, chậm lụt tùy nghi tiệm tu hay đốn ngộ chóng viên thành Phật quả. Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu. Nếu được làm người, hãy mau tu tập thoát khỏi mọi khổ não của thế gian, rời xa tam giới vô thường, khổ, không, vô ngã, thể nhập Niết bàn.

Phương pháp tìm thể và dụng của Đạo

Thể tịnh như hàn thạch, dụng mãn thiên hoa vũ.
Để rõ nghĩa hơn tôi xin tỏ bày phương pháp tìm đạo của bản thân. Khi tôi nhận rõ lý vô thường thì sự vẫn không đạt được nên đối cảnh sinh tâm, buồn lo đau khổ không dứt. Về sau, tôi nhận ra tự thân không sống được trong đạo lòng bấn loạn, không an cho đến cùng cực phát sinh diệu ý - Phải giết chết cảm giác, tri giác,... bằng cách sống mà như chết.
Nhưng vì không thật chết nên việc ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, hành trì không gián đoạn. Sống mà như chết nên không dính mắc vào việc làm, đối cảnh không còn sinh tâm như một xác chết. Thật đúng là tĩnh lặng như băng đá.
Giữ mãi thể tịch tịnh như thế lâu ngày, dài tháng đạt được chánh định.
Không cần miên mật giữ, thể vẫn rỗng rang, tịch tịnh vì không xuất thế gian nên vẫn nhận rõ các pháp thế gian nhận thấy khổ đau trong ba mẹ, anh em, người thân,... xót thương nhưng vẫn giữ vững chánh định, tâm từ bi tăng trưởng ngày một lớn thêm, lưu xuất ý cứu khổ nhân loại và muôn vật nhưng mình chưa đạt được an lạc sao có thể giúp người?
Nghe tin người bạn mất, vợ chồng người bạn và gia đình bất hòa càng nung nấu ý chí cứu khổ. Ngộ nhận ép thân đạt đạo, quay về kiểm nghiệm lối tu khổ hạnh.
Sau một thời gian dài, chánh định cảnh tỉnh “Chết chẳng thể giúp được người”. Bất chợt, tôi đạt đạo - Ta chưa từng sống. Ngay đó, tôi nhận được đóa vô ưu. Dụng tự lưu xuất như mưa gió đầy trời - Mãn thiên hoa vũ.
Những ai muốn tìm đạo chân chính, những người sống trong tuyệt vọng cứ y pháp hành trì sẽ mau chóng liễu ngộ. Đây chỉ là một trong muôn pháp giải thoát của đức Phật. Nếu thông đạt một pháp thì bạn sẽ nhận rõ muôn pháp.
Sự khác biệt về phương cách hành đạo của chúa Jesu, Phật Thích Ca và Vô Ưu:
Chúa Jesu ra đời để cứu sống người chết, chữa lành người bệnh, chết được sinh về cõi thiên đàng. Phật Thích Ca ra đời giúp người sống được an lạc, người chết được giải thoát, chứng nhập niết bàn. Vô Ưu ra đời với câu nói “Hãy để người chết yên nghỉ và người sống hãy sống lại”.

Câu nói này được diễn đạt rõ nghĩa hơn là Vô Ưu đến giết chết người chết và cứu sống người sống.

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Tiễn Bạn - Tạ Từ



Người đến và đi ngắn ngủi  thôi
Mà tình đâu dễ sớm phai phôi
Một bầu nhiệt huyết sôi không cạn
Một bút cuồng ngôn thức dậy trời

Đây như quán trọ đến rồi đi
Một đóa vô ưu gửi gắm gì
Tôi cắm vào đêm trăng vỡ mộng
Một niềm trân quí gửi người đi
19/8/2013 
 
Viết bởi ngoxua — 19 Aug 2013, 04:48

Người sang sông bỏ lại chiếc đò con
Thong dong trôi giữa hai miền sinh tử
Người đến đi thật không đến, không đi
Chỉ gieo duyên vì người xưa hữu ý
Vô tâm thôi sinh tử hóa Niết bàn
Đau khổ, hận,… mạt vàng bay vào mắt
Nở nụ cười như gió thoảng, mây bay
Ai sang sông thư thả bước lên đò?
Cảm ơn chung rượu tiễn đậm vị tình của chú ngoxua! latuan0907 rời quán trọ lòng son còn gửi lại.
Chúc chú và mọi người vui khỏe, an lạc!
Viết bởi latuan0907 — 20 Aug 2013, 17:14

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Quy Nguyên Phật Giáo(P.3)

Đừng chấp chặt vào câu “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”. Đó chỉ là câu an ủi khi một ai đó bị gục ngã trên đường, để người đó bình tâm trở lại, trước khi nghe một bài pháp và người đó tự đứng lên tiếp tục bước đi. Nếu thật là “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”, Thế Tôn đã không từ chánh định mà nhập thế trải qua 49 năm thuyết pháp. Đừng hiểu lầm tâm Phật!
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Chiếc bè của tôi nhỏ bé không đưa được nhiều người qua sông, đưa nhiều người đi như vậy rất nguy hiểm. Bè tôi chỉ có thể đưa mỗi mình tôi qua sông. Tôi qua được bên sông rồi sẽ nghĩ cách giúp người khác qua sông. Có thể bằng cách thả chiếc bè qua bên này sông để mọi người có phương tiện bơi qua”. Điều này thể hiện cái bản ngã và ích kỷ của bạn. Cả hai điều này người tu hành cần ngay lập tức buông bỏ. Thật ra, ai cũng có một chiếc bè. Có thể nhiều người có những chiếc bè lớn nhưng họ mải mê quên  mất việc qua sông, bạn nên đến giúp họ nhớ ra. Khi có nhiều người cùng đi sẽ an toàn hơn cho bạn. Rủi như giữa dòng, bè của bạn bị hư hỏng, những người có bè lớn sẽ cho bạn nương nhờ. Mọi người sẽ phụ giúp bạn sửa chiếc bè của bạn. Khi chiếc bè bạn đã được gia cố chắc chắn thì cuộc hành trình sẽ tiếp tục. Hơn nữa, trong số đông những người đi cùng sẽ có những người sáng suốt và những người rành về dòng sông, con nước. Họ sẽ giúp cuộc hành trình qua bên sông được thuận lợi, đảm bảo đi đúng đường, đúng hướng không lạc vào ngã rẽ, không vướng lại ở những bến bờ,... Bạn sẽ về đến đích nhanh hơn.
Nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải tìm được nhiều người bạn tốt. Bạn cũng đừng lôi kéo, cưỡng cầu người khác qua sông một cách thái quá. Việc này làm mất thời gian của bạn và làm người bị lôi kéo bực dọc, xem thường tam bảo. Điều này có hại cho họ và người tu hành thì không làm người khác không vừa ý.
Thêm một lý do khác để bạn nên có những người bạn đồng hành. Đã có nhiều người có chí nguyện xuất trần, tinh tấn hạ thủ công phu. Một mình dũng mãnh bước đi trên con đường đạo. Ban đầu, người này đi rất đúng hướng, có được chút kết quả, phát sinh thần thông như có thể xuất hồn đi dạo hoặc đạt được thiên nhãn,... Chỉ tiếc chưa đạt được chánh định nên ngộ nhận đi đúng chánh pháp, mê mải đuổi theo thần thông.
Kết quả là nuôi bản ngã thêm lớn, lạc vào lối rẽ rơi vào ma đạo. Vọng tưởng đạt đạo, chối bỏ pháp Phật sinh tâm khinh mạn.
Nghĩ thật đáng tiếc! Một lời nhắn gửi tha thiết đến các bạn đồng tu “Trong quá trình tu tập nếu phát sinh thần thông mà chưa đạt được chánh định, hãy nên xả bỏ quay về hạ thủ công phu sao cho đạt được chánh định thì bạn sẽ sớm thành tựu trên con đường đạo”.
Thật ra, việc phát sinh thần thông chỉ giúp cho bạn có thêm niềm tin sâu vào chánh pháp nhưng nếu bạn đeo đuổi theo thần thông thì ngay lập tức rơi vào ngã rẽ, đường cùng mà thôi.
Đừng quá chấp chặt vào ý nghĩ “Tham tâm cầu pháp, mong cầu chóng đạt thành đạo quả”. Hãy giữ tâm bình thường mà cầu pháp! Đừng quá dễ duôi, giải đãi cũng đừng quá gò bó, khổ nhọc dụng công. Cả hai hình thức trên đều gây cảm giác mệt mỏi, chán chường không có lợi cho việc tu học.
Việc học Phật là buông bỏ những ham muốn, mong cầu. Thế nên, cho dù là cầu pháp cũng rơi vào ma chướng vì tâm ma sẽ nhận ra sự mong cầu trong tâm người học Phật, tâm ma sẽ lưu xuất dẫn người tu học rơi vào ngã rẽ.
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Tôi lập hạnh bồ tát, tôi phải hướng dẫn giúp mọi người lên hết trên bờ bên kia rồi tôi mới qua sông”. Một ý nghĩ rất tốt nhưng để thực hiện được thì điều kiện duy nhất là bạn phải thật sự là Bồ tát.
Vì sao?
Nếu bạn không thực sự là Bồ tát thì khi chỉ dẫn mọi người sang đến bờ bên kia thì chiếc bè của bạn đã cũ nát; Chỉ còn lại mỗi mình bạn, niềm tin bị lui sụt và bạn không còn đủ thời gian và sức lực để qua đến bờ bên kia.
Với phước báo tạo ra, bạn sẽ sinh về cõi Trời ở trên đó nhiều ngàn năm thọ hưởng vui thú, bạn sẽ quên đi mục đích quan trọng nhất của một đời người.
Hết phước, bạn rơi vào 6 đường, nhập thai trưởng dưỡng. Thời gian ở trong thai ngục chịu nhiều bức ngặt, một lần nữa thần thức mê mờ. Đến khi sinh ra sẽ trở về làm một chúng sinh luân hồi trong 6 nẻo.
Vì thế nên ngay ở cuộc hành trình đầu tiên, bạn phải là một hành khách trong số những người vượt sông hôm đó.
Tôi cũng không chủ trương khuyên bạn phải cắt ái, ly gia, bạn vẫn có thể cùng gia quyến, họ hàng qua sông. Chỉ trừ khi bạn có chí nguyện lớn, muốn cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi và có đủ nhân duyên xuất gia.
Nhắn những ai muốn đi tìm đạo mà tâm kiêu mạn không dứt, tự phụ thông minh hoặc vướng vào định kiến của khoa học hoặc là tín đồ thuần thành của tôn giáo khác,... Hãy xem những bộ kinh Phật như: Kinh Trường a hàm, Đại Bát Niết bàn, Nikaya, Mi tiên vấn đáp,... sẽ lập tức giật mình trí tuệ bát nhã của đức Phật, trí tuệ cách đây hơn 2500 quá thâm diệu, bao nhiêu hào khí kiêu mạn, tự phụ ngay đó tan thành tro bụi, tin sâu Phật pháp tự biết đã gần đạo.
Còn những tín đồ tôn giáo khác cứ mượn pháp hành trì Phật không yêu cầu bạn bỏ tôn giáo cũ quy y Tam bảo, cứ theo chánh pháp hành trì thì không có lỗi.
Khi Phật tại thế, Người chẳng phải là đã thuyết pháp độ sinh cho cả chúng sinh trong 3 cõi. Tôn giáo khác theo học chánh pháp đạt đạo không ít. Việc quy y Phật, đối với Phật mà nói như bóng trong gương, như trăng đáy nước, như dấu chim bay trên không,...
Đáng tiếc, người đời u mê ngộ nhận tâm Phật tạo ra đạo Phật cách biệt thế gian. Nào hay vào cửa Phật là vào không môn. Không môn, không đạo chính thật là chánh đạo.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Trí Sĩ Yêu Nước Đã Nói Gì?(P.2)

Sau một quá trình suy xét, phân tích, tính toán chi li, kỹ lưỡng, giới trí sĩ yêu nước đã đặt lên bàn quốc hội một vài đề xuất mà mục đích của những đề xuất là không thể nghĩ bàn vì tính không cần thiết, sự không rõ ràng giá trị của vấn đề được đề xuất.
Cụ thể là đề xuất “thay tên, đổi họ” nước Việt Nam hiện hành với rất nhiều lý do. Một trong những lý do cần nên đổi tên nước là dựa vào nguồn lý luận triết học Mác - Lê nin việc tiến thẳng lên Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện, bối cảnh xã hội Việt Namhiện tại chứa đựng sự nóng vội, bỏ qua giai đoạn. Thế là quốc hội có việc làm. Những bản dự thảo, đề xuất “Tên nước” được giới chuyên gia phân tích, đánh giá,… và xét duyệt. Đến thời điểm hiện tại, nước Việt Nam vẫn chưa chính thức ban hành một cái tên mới hợp chuẩn.
Điều này đồng nghĩa với việc tên nước Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu, rà soát,… và không rõ là có việc thử nghiệm sử dụng tên đầy đủ của nước Việt Namhay không?
Trước tình hình tên nước Việt Nam có thể sẽ bị thay đổi một lực lượng giới trí sĩ yêu nước biết lo xa đã đưa ra đề xuất “Cần phải đổi mới bản Quốc ca cho phù hợp với chiếc áo khoác tên nước mới”. Quốc hội lại có việc làm. Lại dự thảo, kiến nghị, đề xuất, phát huy sáng kiến,…
Rồi nhìn sang nước bạn thấy có quốc hoa làm biểu tượng, giới trí sĩ thức thời mau chóng hay chậm trễ trình lên bản đề xuất chọn quốc hoa làm biểu tượng cho đất nước. Sứ, sen, hồng, đào, mai, cúc, phù dung,… được trưng ra và chọn lựa, phân tích, loại suy, hùng biện, tranh cãi,… để chọn ra một loài hoa biểu trưng cho khí tiết dân tộc Việt.
Hết màu cờ đến sắc áo, rồi quốc hoa, rồi quốc ca,… rồi tên nước,… và rồi còn gì nữa?
Quốc hoa hay quốc họa?
Mọi việc đề xuất, dự thảo, bàn bạc, phát huy sáng kiến,… đều được quy đổi bằng tiền. Và ngân sách đất nước hay nói cách khác tiền thu từ thuế dân đóng góp sẽ phải chi trả cho các khoản phí vô cùng phí phạm trên.
Hàng ngàn năm nay người Việt Nam vẫn sống dù không có một chủng loài hoa được đặt làm biểu tượng. Và với việc “mất” giá trị, khí tiết con người Việt Nam trong thực trạng xã hội hiện nay thì có lẽ một đóa phù dung sớm nở, tối tàn sẽ thiết thực hơn trong việc diễn đạt hình ảnh, con người Việt Nam ngày nay.
Thay quốc ca, quốc hiệu,… dựa vào triết học, khoa học, sự logic nghe có vẻ rất đúng mực, minh bạch. Nhưng thật ra tư tưởng, lý luận, khoa học, học thuyết,… ra đời nhằm phục vụ con người chứ không nhằm vào việc trói buộc con người. Và không hẳn những nguồn tư tưởng, triết lý, học thuyết,… luôn đúng mà có sự tùy thời.
Ngày nay, giá trị của triết học nói chung hay triết học Mác - Lê nin đã không còn hợp thời, không còn phù hợp với thời đại. Ngày nay, con người đang bị “chìm đằm” trong lòng tham, tính thực dụng, ích kỷ,… và nguồn tư tưởng Mác - Lê nin gần như không có lời giải giúp con người đối trị với lòng tham, sự thực dụng,…
Vậy phải chăng dùng lý luận Mác - Lê nin đã lỗi thời?
Vì thế việc vận dụng triết học Mác - Lê nin và thuyết duy vật biện chứng chủ quan vào bối cảnh hiện tại qua vấn đề đặt lại tên hiệu đất nước là sự thiếu xót, khập khiễng.
Trên thực tế tên đất nước không thể quyết định sự công bằng, bình đẳng hay tiến bộ, phát triển đất nước, con người ở mỗi nước. Sự gắn kết các tầng lớp, thành phần xã hội mới quyết định sự hài hòa, phát triển ở mỗi quốc gia.
Chế độ phong kiến, quân chủ đã từng tạo ra vô số triều đại huy hoàng, phát triển. Tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa hay dân chủ cộng hòa đều đã từng tạo ra không ít đất nước đẹp giàu.
Vậy nên sự dân chủ, tiến bộ, văn minh,… nằm trong lòng người chứ không do một cái tên nước quyết định. Và thành phần lãnh đạo, giới quản lý xã hội sẽ là yếu tố có tính chất tiên quyết cho sự phát triển của đất nước chứ không do một cái tên được chọn lựa, trao chuốt đẹp đẽ, hợp thời trang.
Nếu giới lãnh đạo, các nhà quản lý đất nước biết điều tiết xã hội bằng sự chân thành, có hiểu biết đúng mực, hướng mọi người trong xã hội biết sống vì nhau, cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau với một sự đoàn kết, gắn kết hài hòa thì đất nước sẽ phát triển ngày càng giàu đẹp, tiến bộ,…
Còn bằng việc quản lý đất nước dựa vào lòng tham, lối sống thực dụng, sự che đậy, dối lừa, giả trá,… thì việc điểm tô, trao chuốt một cái tên để gọi sẽ càng làm cho xã hội rối ren, hỗn độn nhiều thêm.
Câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” lẽ nào giới trí sĩ học rộng, hiểu nhiều chưa từng nghe đến. Việc điều tiết xã hội bằng lòng tham, việc “thay tên, đổi họ” đất nước thì cũng chỉ là trò “Bình mới, rượu cũ” xã hội Việt Namkhông thể giàu mạnh, tiến bộ bằng vào việc “lừa người, dối mình”.
Và … việc “rút ruột” ngân sách đất nước để làm những việc vô bổ, không nhiều lợi ích cho sự phát triển đất nước như đổi tên nước, thay lời quốc ca, chọn quốc hoa,… sẽ làm tổn hao nguyên khí quốc gia.
Người dân phải “gồng gánh” toàn bộ chi phí cho xã hội mà đặt biệt là chi phí quản lý đất nước vượt mức đến một lúc nào đó sẽ mất niềm tin hoàn toàn vào đảng, vào thành phần lãnh đạo, giới quản lý thì đất nước Việt Nam sẽ ra sao?
Hơn nữa, việc đề xuất đổi mới tên đất nước, thay lời quốc ca có khác gì việc thành phần trí sĩ mang tội danh chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trưng ra lá cờ vàng 3 sọc đỏ hay dòng chữ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?
Tại sao lại có sự khác biệt đối xử giữa 2 thành phần trí thức khi họ trưng ra chung cùng một ý tưởng?
Một bên bị kết tội, chịu phạt. Một bên được tuyên dương, tặng thưởng, gom góp được đặc quyền, đặc lợi, đặc ân…
Sự công bằng, đúng mực phải chăng chỉ có trong lòng mỗi người còn trên bàn cân công lý, ở xã hội thì sự bất công, thiên vị vẫn luôn làm chủ mọi vấn đề?
Giới trí sĩ có ở các bộ ngành nơi hệ thống quản lý đã làm gì để góp phần xây dựng đất nước tiến lên giàu đẹp?
Sau một thời gian đắn đo, suy xét những nhà quản lý xã hội đã đưa ra một nghị định về thực phẩm được ban hành. Nghị định quy định việc giết mổ, tiêu thụ gia súc, gia cầm trong vòng 8 giờ đã được thông qua. Và hiển nhiên là để ban hành một thông tư có tính chất xã hội sẽ tiêu tốn không ít tiền của, giấy mực và những cuộc họp hành quan trọng, cần thiết.
Một nghị định có tầm cỡ đã được thông qua do những chuyên gia phân tích, đánh giá, những vị trí thức học rộng, hiểu nhiều,…
Thông tư ra đời và sớm chết vì tính xa rời thực tế, kém khả thi. Một vài lời biện hộ được đưa ra nhằm bảo vệ uy tín, sự thông tuệ, tầm nhìn xa, trông rộng của những người ban hành thông tư cũ trước khi một thông tư liền kề ra đời “trảm” thông tư trước đó.
Tuổi thọ của một thông tư, một nghị định của nhà nước chỉ sống sót được vài ngày. Có lẽ đây là kỷ lục Việt Nam về tuổi đời ngắn ngủi của một thông tư, nghị định cấp nhà nước.
Hãy nên nhớ rằng đã không có một lời xin lỗi về sự yếu kém khả năng quản lý xã hội nào được đưa ra mà có chăng chỉ là những lời biện hộ, bảo vệ sự đúng đắn ở các nhà quản lý xã hội, giới định hướng phát triển đất nước.
Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý xã hội luôn đúng chăng?
Ở nghị định trên nếu có sai thì người dân đã sai vì không theo kịp sự tiến bộ ở các nhà quản lý chăng?
Cứ cho rằng lời khẳng định trên của các nhà quản lý là đúng mực, hợp chuẩn.
Rồi các nhà quản lý xã hội, giới lãnh đạo đất nước phản biện của người dân là “Các nhà quản lý xã hội hiện đang sống ở đâu mà lại ban hành những quy định trên mây, xa rời thực tế đến vậy?
Phải chăng đó là biểu hiện không thể chối cãi, không thể biện minh của thói cửa quyền, quan liêu,…?”.
Đừng phản biện với tôi đây chỉ là một sai lầm ít gặp, là một rủi ro nghề nghiệp. Và… vì thể diện của giới lãnh đạo, quan chức chính phủ, cùng bộ mặt quốc gia nên … nếu là một người dân có hiểu biết không nên bươi móc, làm xấu mặt nhau. Việc biện hộ các nhà quản lý xã hội là việc nên làm, việc xin lỗi người dân là điều không thật cần thiết, người dân ngu muội, “đầu tắt, mặt tối” biết gì đến việc điều tiết xã hội mà giới lãnh đạo, những nhà quản lý thông thái của xã hội phải hạ mình.
Thiết nghĩ, nếu không thẳng thắn, thành thật nhận lỗi thì làm sao những nhà quản lý nghĩ đến việc sửa sai. Điều đó sẽ là lý luận biện chứng cho thực trạng các nhà quản lý đất nước càng làm, càng sai.
Là sai lầm ít gặp, rủi ro nghề nghiệp.
Vậy nghị định quy định về xe chính chủ phải chăng là chuẩn mực, đúng đắn?
Nếu là chuẩn thì tại sao nghị định vừa đi vào ban hành khiến lòng dân rối loạn, hoang mang?
Nghị định về xe chính chủ đã tạo ra xe khổ chủ cho phần lớn người dân trên cả nước.
Những thông tư, nghị định hành dân đã ra đời sau rất nhiều cuộc họp bàn, phân tích, đánh giá của giới chuyên gia, những nhà quản lý hàng đầu đất nước.
Tại sao lại tồn tại những thông tư, nghị định gây ra sự công phẫn, bấn loạn lòng người?
Lại không có một lời xin lỗi nào được đưa ra. Cũng lại là sự biểu hiện của sự quan liêu, cửa quyền - Giới lãnh đạo, thành phần quản lý luôn đúng.
Chẳng lẽ lại ban hành nghị định mới “trảm” nghị định xe chính chủ. Và một giải pháp thay thế là ra một thông tư dời nghị định xe chính chủ về năm 2015. Đây là một giải pháp tình thế nhằm giảm áp lực dư luận người dân đang bùng phát.
Và rồi vấn đề bảo hiểm xe, mũ bảo hiểm, tăng mức xử phạt nhằm hạn chế tai nạn giao thông hay việc gom góp tiền dân vào túi ngân sách nhà nước một cách “danh chính, ngôn thuận”?
Việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm mà không quản lý tốt chất lượng mũ bảo hiểm để rồi nhà quản lý ban hành xử phạt người dân đội mũ bảo hiểm kém chất lượng. Người dân kém hiểu biết mất tiền mua mũ bảo hiểm kém chất lượng, rồi lại mất tiền đóng phạt vì đội mũ bảo hiểm thiếu chuẩn.
Và … tai nạn vẫn rình rập vì thực tế là số lượng tai nạn giao thông không tụt giảm là bao so với số mức phạt tiền mà các nhà quản lý không ngừng tăng lên?
Vì sao?
Vì tai nạn giao thông không bắt nguồn từ mũ bảo hiểm, chế tài, mức đóng phạt,… mà là ý thức, nhận thức của người tham gia giao thông.
Dễ thấy các nhà quản lý xã hội chỉ ra sức sửa sai ở ngọn mà gốc thì dè dặt hoặc không sửa.
Vì sao?
Vì sửa ngọn mới gom góp được tiền của, các khoản thu, phí chồng phí,...
Bảo hiểm xe máy thật sự có giá trị với người tham gia giao thông hay không?
Dường như không có nhiều giá trị. Tin rằng “Nếu có được quyền tự chủ chọn lựa việc mua hay không mua bảo hiểm xe máy thì phần lớn người dân sẽ không mua vì sự không có nhiều giá trị của bảo hiểm xe máy”. Dù vậy bảo hiểm xe máy vẫn là một chế tài bắt buộc người dân vì khoản thu từ bảo hiểm xe sẽ mang về cho các nhà quản lý xã hội một nguồn lợi lớn.
Đừng bao biện những quy chế nhà nước ban hành là vì dân. Hãy nên xét lại “Có bao nhiêu quy định, chế tài, án phạt,… hợp với lòng dân rồi mới nói đến hai chữ vì dân cao cả?”.
Người dân không hài lòng, đẹp dạ nhưng vì “thấp cổ, bé miệng”, vì muốn sống sót mà chưa phản kháng ra mặt mà thôi,… Và vì người dân đã chia chẻ, không còn đoàn kết. Sự ích kỷ, lối sống thực dụng, lòng tham,… ngự trị rộng khắp mọi thành phần, tầng lớp xã hội con người.
Đến một lúc nào đó, với cách hành xử sai không cần sửa, càng làm, càng sai thì vấn đề đổ vỡ hình thái xã hội hiện tại không hẳn là chuyện viễn vông, thiếu thực tế.
Các nhà quản lý xã hội, giới lãnh đạo đất nước, thành phần chuyên gia,… là lực lượng đại diện dân tộc, là thành phần trí sĩ yêu nước đã nói gì?
Họ nói đến sự phát triển, tiến bộ, việc vươn lên tầm cao mới.
Nhưng tầm cao mới ở đâu tin rằng không một ai trong giới trí sĩ hàng đầu Việt Namrõ biết.
Vậy nên nếu cho rằng đó chỉ là những lời nói suông, lời hứa hão huyền để che đậy sự giới hạn tri thức, để “danh chính, ngôn thuận” ngồi ôm giữ chiếc ghế quyền lực được lâu hơn ở một thành phần người thì không hẳn là lời nói sai trái, không đúng mực.
Điểm đến của định hướng xây dựng, phát triển của đất nước Việt Namlà gì?
Những con ong chăm chỉ, những con kiến cần mẫn,… những con thú sống bằng bản năng giống loài động vật chăng?
Sự tiến bộ, văn minh, tăng trưởng giá trị của con người sẽ được thể hiện bằng lòng tham, lối sống thực dụng, sự ích kỷ chăng?
Đó là điểm đến của tầm nhìn Việt Nam ngày mai. Đó là sự tiến bộ hay lui sụt xã hội Việt Nam mọi người và bạn cứ nhìn vào thực trạng xã hội - kinh tế - chính trị - khoa học - giáo dục - y tế - quốc phòng - toàn dân Việt Nam thì sẽ rõ. Câu trả lời có trong sự hiểu biết đúng mực, khách quan ở mỗi người.
Hiện tại, con người Việt Nam đang mất dần giá trị. Bản sắc dân tộc, khí tiết con người theo đó cũng mất đi. Giới trí sĩ yêu nước tỏ ra thức thời, bàng quang đối cảnh. Giới trí thức lãnh đạo đang bay trên mây với những tầm cao mới cho thấy họ và người dân không cùng sống chung một khoảng trời.
Với sự ích kỷ, thực dụng, lòng tham và sự đen tối trong tâm hồn ở mỗi người đất nước Việt Nam rồi sẽ về đâu?
Thời may, có một ngọn đuốc sáng đang được mọi người chuyền tay nhau. Có một sự do dự ở ý nghĩ cùng thắp lên ngọn đuốc sáng trong lòng mỗi người và việc chia sẻ nguồn ánh sáng hài hòa nhằm giúp cho xã hội Việt Nam, cho nhân loại bừng sáng, xua đi những đêm dài tăm tối - sự hiểu biết nửa vời của tri thức nhân loại ngày nay.
Hãy nên nhớ rằng tôi đang không cố chỉ ra sai lầm để hạ gục bất kỳ ai mà chỉ là một động thái cởi trói tư duy, nhận thức nơi mỗi người.

Lý do của việc cần đổi mới tư duy và ra sức sửa sai là vì có một người dân Việt đã lên tiếng phản kháng về cách điều hành, quản lý, xây dựng đất nước mắc rất nhiều lỗi ở thành phần quản lý đất nước và người dân hèn mọn đó chấp nhận sự trả giá khi làm sai.

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Một thoáng Phương Đông


Trí Sĩ Yêu Nước Đã Nói Gì?(P.1)

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây?
Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?
Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ
Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây? 

Ở bài viết Không Mở Miệng, Người Bảo “Đồ Câm” tôi đã trình bày một góc nhìn hiện tượng về những con người dường như ôm giữ lý tưởng biết yêu người, ước mong về một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả để rồi họ trở thành thành phần được gọi là không yêu nước - Những kẻ phản bội dân tộc, phản bội đất nước mà xã hội đang tạm thừa nhận, đồng thuận lời tuyên án mang danh nghĩa Tòa án công lý của hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Và… họ đã phải trả giá bằng một cái giá mà một thành phần người nào đó cho rằng đảm bảo sự đúng đắn, cần thiết,…
Nhưng nếu chỉ xét riêng một thái cực của giới trí thức tạm gọi không thức thời nơi xã hội Việt Nam hiện tại thì tôi khó tránh khỏi điều thiếu xót, chủ quan, phiến diện. Thế nên tôi lại xét đến một thái cực khác của giới trí thức Việt Nam. Do thái cực khác này có vài điểm đặc trưng sai biệt với thành phần trí thức được xã hội Việt Namhiện tại mặc định là những kẻ phản bội nên tôi tạm gọi đây là thành phần trí thức thức thời - Trí sĩ yêu nước.
Họ là ai?
Đây là một thành phần đông đảo của đất nước Việt Namđương thời. Thật đáng mừng là giới trí thức Việt Nam nhiều đến vậy. Tiêu biểu cho giới Trí sĩ yêu nước Việt Nam đáng kể đến là các vị dân biểu, các vị đại biểu quốc hội, giới lãnh đạo, các nhà quản lý xã hội Việt Nam,…
Trước hết, tôi sẽ xét đến các vị dân biểu, đại biểu quốc hội.
Họ có phải là giới học nhiều, hiểu rộng; là thành phần trí thức đáng tự hào của dân tộc Việt Nam hay không?
Và… phải chăng họ chính là những tấm gương tiêu biểu, điển hình của tình yêu dân tộc, tình yêu đất nước - Trí sĩ yêu nước?
Hay họ chỉ đơn giản là giới trí sĩ thức thời, biết cúi lòn để sống mập thân, tốt tướng, phì gia, để thụ hưởng danh lợi cùng địa vị…?
Họ là những trí thức được người người thừa nhận và tôn trọng; Người Việt Nam nói chung đã kính cẩn mời họ ngồi vào những chiếc ghế nơi quốc hội nhà nước Việt Nam. Thế nên nếu bảo họ là thành phần ngu dốt, tri thức kém cỏi, sự hiểu biết nông cạn,… là điều không thể được. Vì lẽ đó họ chính thật là giới trí thức nhiều hiểu biết của dân tộc Việt Nam. Họ đại diện cho người dân trên mọi miền đất nước, được sự tin yêu, trọng dụng, nể vì; là tiếng nói của người dân cho một đất nước của dân, do dân và vì dân thì hẳn họ là những trí sĩ yêu nước hàng đầu của đất nước Việt Nam.
Phải chăng mọi người ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội Việt Nam đã tin cậy, giao vận mạng đất nước, giá trị con người Việt Nam, sự phát triển, tiến bộ xã hội cho họ?
Họ thật đáng để được mọi người tung hô, tán dương, khen thưởng…! Họ đáng được người dân gom góp phần giá trị thặng dư mà người lao động lao nhọc, cần mẫn tạo ra và được quy đổi thành cái gọi là thuế, là tiền quản lý rồi trả lương cho những người góp công xây dựng, phát triển đất nước. Họ xứng đáng nhận lấy phần công sức xây dựng xã hội, con người và đất nước Việt Nam với một niềm tự hào cùng lòng tự trọng…
Và … họ, những trí sĩ yêu nước Việt Nam đã làm được gì để đền trả sự tin yêu, niềm kỳ vọng của người dân trên mọi miền đất nước Việt Nam?
Quốc hội Việt Nam được đánh giá là một tổ chức lãnh đạo hàng đầu đất nước có tính thụ động bậc nhất. Tính thụ động của một người thường là biểu hiện của sự tiêu cực, biếng lười, ăn không ngồi rồi của con người đó.
Vậy các vị đại biểu, các vị dân biểu đã làm gì trong những buổi họp, hội liên hoàn nơi quốc hội?
Và… giá trị của những buổi họp là gì?
Sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về để được điểm danh, ghi nhớ và hàng tháng sẽ được kết toán, cộng dồn để tính số lương và bổng lộc được nhận chăng?
Những vị đại biểu quốc hội, những vị dân biểu đáng kính đã góp phần công sức gì cho định hướng xây dựng và phát triển đất nước, xã hội Việt Nam?
Sự tiến bộ của ngành giáo dục, sự phát triển vượt bậc của khoa học, sự ổn định của xã hội, sự kín kẽ của hệ thống chính trị, sự hài hòa của ngành kinh tế, dịch vụ, sĩ nông công thương,… chăng?
Dường như họ không có một tiếng nói nào có giá trị thiết thực, có trọng lượng đúng mực, đáng kể cho định hướng phát triển đất nước, xã hội, con người Việt Nam trong kỷ nguyên được nhân loại (nói riêng) đã ra sức phô trương, điểm tô, thêu dệt là Kỷ Nguyên Văn Minh, Tiến Bộ, Bình Đẳng và Hiện Đại hay với tôi chỉ đơn giản là Kỷ Nguyên Con Người Sống Trong Sự Hiểu Biết, Yêu Thương Chân Thành.
Vậy sự hiện diện, giá trị tồn tại của quốc hội, của các vị đại biểu, dân biểu là gì?
Để tiêu tốn một lượng tiền khổng lồ mà người dân đóng thuế hàng năm cũng như là các khoản vay từ nước ngoài, cộng đồng quốc tế chăng?
Và … với một giá trị không rõ ràng gần như là không có giá trị, sự hiện diện vô ích, xa xỉ cho mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước.
Có phải việc tồn tại gần như vô nghĩa đã góp phần làm tiêu tốn, thâm thủng nguồn nợ công nơi ngân sách của đất nước (Tôi không nói là ngân sách của nhà nước) chăng?
Với sự cồng kềnh, kém hiệu quả của hệ thống quản lý cùng sự mất giá trị của giới trí thức trong định hướng xây dựng, phát triển đất nước thì có lẽ khủng hoảng nợ công Châu Âu sẽ sớm đến Việt Nam vào một thời gian không xa.
Khi đó, ai sẽ gánh trả những khoảng nợ khổng lồ mà người Việt Nam(nói riêng) đã vay?
Các nhà quản lý, giới lãnh đại, những vị đại biểu quốc hội, các ngài dân biểu, những trí sĩ yêu nước chăng?
Tại sao tôi nói người Việt Nam (nói riêng) mà không là người Việt Nam?
Vì lẽ chỉ có một số ít người đã vay và tùy tiện sử dụng, chi tiêu các khoản vay mà không thông qua người dân cũng như các thành phần, tầng lớp xã hội khác cùng được biết dù rằng chính thành phần lực lượng lao động này đã phải “gồng gánh” chi trả các khoản vay nước ngoài hết đời này sang đời khác. Thế nên dùng cụm từ người Việt Namsẽ là có lỗi với người dân Việt và điều đó sẽ đánh mất đi lòng tự trọng còn sót lại trong tôi.
Tại sao sao tôi dùng cụm từ ngân sách của đất nước mà không là ngân sách nhà nước?
Bởi lẽ tôi không mong các nhà quản lý xã hội sử dụng tiền ngân sách quốc gia như tiền của cá nhân, tiền của gia đình. Vì lẽ đó tôi cảm thấy và nhận thức rằng nên dùng cụm từ ngân sách của đất nước sẽ hợp lẽ hơn. Và tôi cũng mong rằng điều này sẽ khiến các nhà quản lý xã hội (nói chung - Phạm vi thế giới) sẽ ý thức, tự trọng khi sử dụng tiền của người dân đúng mực. Điều này sẽ góp phần hạn chế, ngăn chặn hiện trạng tham nhũng tràn lan, việc khủng hoảng nợ công rộng khắp trên quy mô thế giới.
Quả thật, ăn không ngồi rồi hưởng lương cao dù rằng lòng không sinh hổ thẹn nhưng khó tránh khỏi miệng đời dị nghị, dèm pha; Lại mang tiếng tiêu cực, thụ động, biếng lười.
Thế là giải pháp đôi khi ném một khối đá tảng xuống mặt hồ đang yên ả được lựa chọn. Vì là thành phần trí thức, nhiều hiểu biết nên họ đã tư duy, do dự, suy tính rất nhiều trước khi cất lên một tiếng nói, đưa ra một đề xuất cho có lệ, có lẽ chỉ nhằm vào mục đích cho người biết rằng “Ta còn sống” vì thế Ta còn lãnh lương.
Có lẽ vậy nên lời nói đã được chắt chiu, gạn lọc tránh chạm đến những vấn đề nhạy cảm của xã hội, tránh gây ra xung đột với giới chính trị và các vấn đề thời cuộc nóng bỏng như tranh chấp biển Đông, mua sắm vũ khí, chạy đua vũ trang,… Những vấn đề cấp thiết của xã hội, những vấn đề vì quyền lợi người dân thường sẽ dẫn đến sự va chạm không đáng có với thành phần lãnh đạo, giới chính trị. Và… khi đó thì nguy cơ “mất ghế” sẽ được tính đến; việc bị trù dập, xa lánh; rồi quyền lợi, danh dự, địa vị xã hội cá nhân được nâng lên quan điểm gia đình, dòng tộc khiến lòng người trí sĩ yêu nước, đại diện cho sự tinh khôn của dân tộc thêm rối bời, lo lắng, nghĩ suy.
Người không vì mình trời tru, đất diệt. Thế là đành thôi phải biết sống yêu mình; Còn yêu người - đó là chuyện của xã hội, chuyện của người Ta chẳng cần lo kẻo phí hoài tâm trí, công sức…
Phải chăng đó là giá trị của sự học, của ngành giáo dục ngày nay?
Học để khôn ngoan, gian xảo. Học để biếng lười, để sống ích kỷ, để tư duy thu hoạch phần hơn, phần lợi về mình; Còn thiên hạ, xã hội, người lao động,… thì sống chết mặc bây. Học để biết sợ những điều mà từ lâu con người đã tự trói buộc, mặc định là đáng sợ, là nguy hiểm cho bản thân rồi trốn tránh, lòn cúi khi cần thiết; Sống sót là điều cần thiết, là điều quan trọng cho cá nhân và dòng tộc.
Còn lòng tự trọng ư? Nó là gì? Nó không là gì cả, nó không đáng để ta giữ gìn. Từ xưa đến nay và lịch sử chẳng từng đánh dấu những cái chết bi thảm cho những kẻ ôm giữ lòng tự trọng. Ta chẳng làm kẻ dại sống chết vì lòng tự trọng rẻ tiền, mạt hạng.
Tôi viết ra những điều này với lòng tự hào, niềm kiêu hãnh khi dám nói ra những điều mà sự hiểu biết, tư duy, nhận thức nhân loại chưa dám đối mặt chăng?
Có đáng để tự hào khi nhìn thấy và chỉ ra vết nhơ, sự bại hoại, suy đồi, sút kém về giá trị của ngành giáo dục, nền tảng của tri thức nhân loại bằng vào tiếng kêu cứu tuyệt vọng, rã rời mà không thể cứu vãn thời cuộc, cục diện xã hội không?
Đây có phải chăng chỉ là sự đi xuống, tụt giảm giá trị của riêng ngành giáo dục ở đất nước Việt Nam?
Không. Đó là giá trị lệch lạc của sự học ở con người và ngành giáo dục trên phạm vi thế giới. Và chính sai lầm nơi giá trị của sự hiểu biết nhân loại đã khiến cục diện xã hội thế giới lâm vào tình trạng rối ren, bấn loạn, hỗn độn,…
Người Việt Namcũng chỉ là một con thiêu thân trong vô số con thiêu thân trên thế giới đang lao vào lửa mà thôi. Vì lẽ đó tôi viết những bài viết không chỉ vì người Việt Nam mà tôi viết vì nhân loại.
Giá trị của sự học và ngành giáo dục đang xây dựng, định hướng, tạo ra thế hệ những con người không có còn lòng tự trọng thì xã hội loài người sẽ đi về đâu?
Định hướng Kỷ Nguyên Văn Minh, Tiến Bộ, Bình Đẳng và Hiện Đại không bao giờ, không thể được dựng xây bởi những con người đánh mất lòng tự trọng, hèn kém và bạc nhược. Vì lẽ đó tôi mong rằng những nhà quản lý xã hội thế giới, những tri thức hàng đầu nhân loại hãy thiết thực hơn khi đánh giá định hướng của sự phát triển con người trong bối cảnh xã hội hiện tại.
Đừng quá phô trương, lạc quan, che đậy hay tô hồng,.. thực tại khiến con người mãi sống trong sự ảo vọng rồi từng bước hủy hoại sự tồn vong nhân loại - Khi giá trị con người không còn nữa, lòng tự trọng của con người bị đánh mất hoàn toàn. Lòng tự trọng ở con người đó là giá trị phần người của con người. Đó là dấu vết còn lại để nhận biết, phân biệt giữa con người và loài vật. Hãy nên nhớ lấy điều đó!

(Còn tiếp)