…
Sau một quá trình suy xét, phân tích, tính toán chi li, kỹ lưỡng, giới trí sĩ yêu nước đã đặt lên bàn quốc hội một vài đề xuất mà mục đích của những đề xuất là không thể nghĩ bàn vì tính không cần thiết, sự không rõ ràng giá trị của vấn đề được đề xuất.
Cụ thể là đề xuất “thay tên, đổi họ” nước Việt Nam hiện hành với rất nhiều lý do. Một trong những lý do cần nên đổi tên nước là dựa vào nguồn lý luận triết học Mác - Lê nin việc tiến thẳng lên Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện, bối cảnh xã hội Việt Namhiện tại chứa đựng sự nóng vội, bỏ qua giai đoạn. Thế là quốc hội có việc làm. Những bản dự thảo, đề xuất “Tên nước” được giới chuyên gia phân tích, đánh giá,… và xét duyệt. Đến thời điểm hiện tại, nước Việt Nam vẫn chưa chính thức ban hành một cái tên mới hợp chuẩn.
Điều này đồng nghĩa với việc tên nước Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu, rà soát,… và không rõ là có việc thử nghiệm sử dụng tên đầy đủ của nước Việt Namhay không?
Trước tình hình tên nước Việt Nam có thể sẽ bị thay đổi một lực lượng giới trí sĩ yêu nước biết lo xa đã đưa ra đề xuất “Cần phải đổi mới bản Quốc ca cho phù hợp với chiếc áo khoác tên nước mới”. Quốc hội lại có việc làm. Lại dự thảo, kiến nghị, đề xuất, phát huy sáng kiến,…
Rồi nhìn sang nước bạn thấy có quốc hoa làm biểu tượng, giới trí sĩ thức thời mau chóng hay chậm trễ trình lên bản đề xuất chọn quốc hoa làm biểu tượng cho đất nước. Sứ, sen, hồng, đào, mai, cúc, phù dung,… được trưng ra và chọn lựa, phân tích, loại suy, hùng biện, tranh cãi,… để chọn ra một loài hoa biểu trưng cho khí tiết dân tộc Việt.
Hết màu cờ đến sắc áo, rồi quốc hoa, rồi quốc ca,… rồi tên nước,… và rồi còn gì nữa?
Quốc hoa hay quốc họa?
Mọi việc đề xuất, dự thảo, bàn bạc, phát huy sáng kiến,… đều được quy đổi bằng tiền. Và ngân sách đất nước hay nói cách khác tiền thu từ thuế dân đóng góp sẽ phải chi trả cho các khoản phí vô cùng phí phạm trên.
Hàng ngàn năm nay người Việt Nam vẫn sống dù không có một chủng loài hoa được đặt làm biểu tượng. Và với việc “mất” giá trị, khí tiết con người Việt Nam trong thực trạng xã hội hiện nay thì có lẽ một đóa phù dung sớm nở, tối tàn sẽ thiết thực hơn trong việc diễn đạt hình ảnh, con người Việt Nam ngày nay.
Thay quốc ca, quốc hiệu,… dựa vào triết học, khoa học, sự logic nghe có vẻ rất đúng mực, minh bạch. Nhưng thật ra tư tưởng, lý luận, khoa học, học thuyết,… ra đời nhằm phục vụ con người chứ không nhằm vào việc trói buộc con người. Và không hẳn những nguồn tư tưởng, triết lý, học thuyết,… luôn đúng mà có sự tùy thời.
Ngày nay, giá trị của triết học nói chung hay triết học Mác - Lê nin đã không còn hợp thời, không còn phù hợp với thời đại. Ngày nay, con người đang bị “chìm đằm” trong lòng tham, tính thực dụng, ích kỷ,… và nguồn tư tưởng Mác - Lê nin gần như không có lời giải giúp con người đối trị với lòng tham, sự thực dụng,…
Vậy phải chăng dùng lý luận Mác - Lê nin đã lỗi thời?
Vì thế việc vận dụng triết học Mác - Lê nin và thuyết duy vật biện chứng chủ quan vào bối cảnh hiện tại qua vấn đề đặt lại tên hiệu đất nước là sự thiếu xót, khập khiễng.
Trên thực tế tên đất nước không thể quyết định sự công bằng, bình đẳng hay tiến bộ, phát triển đất nước, con người ở mỗi nước. Sự gắn kết các tầng lớp, thành phần xã hội mới quyết định sự hài hòa, phát triển ở mỗi quốc gia.
Chế độ phong kiến, quân chủ đã từng tạo ra vô số triều đại huy hoàng, phát triển. Tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa hay dân chủ cộng hòa đều đã từng tạo ra không ít đất nước đẹp giàu.
Vậy nên sự dân chủ, tiến bộ, văn minh,… nằm trong lòng người chứ không do một cái tên nước quyết định. Và thành phần lãnh đạo, giới quản lý xã hội sẽ là yếu tố có tính chất tiên quyết cho sự phát triển của đất nước chứ không do một cái tên được chọn lựa, trao chuốt đẹp đẽ, hợp thời trang.
Nếu giới lãnh đạo, các nhà quản lý đất nước biết điều tiết xã hội bằng sự chân thành, có hiểu biết đúng mực, hướng mọi người trong xã hội biết sống vì nhau, cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau với một sự đoàn kết, gắn kết hài hòa thì đất nước sẽ phát triển ngày càng giàu đẹp, tiến bộ,…
Còn bằng việc quản lý đất nước dựa vào lòng tham, lối sống thực dụng, sự che đậy, dối lừa, giả trá,… thì việc điểm tô, trao chuốt một cái tên để gọi sẽ càng làm cho xã hội rối ren, hỗn độn nhiều thêm.
Câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” lẽ nào giới trí sĩ học rộng, hiểu nhiều chưa từng nghe đến. Việc điều tiết xã hội bằng lòng tham, việc “thay tên, đổi họ” đất nước thì cũng chỉ là trò “Bình mới, rượu cũ” xã hội Việt Namkhông thể giàu mạnh, tiến bộ bằng vào việc “lừa người, dối mình”.
Và … việc “rút ruột” ngân sách đất nước để làm những việc vô bổ, không nhiều lợi ích cho sự phát triển đất nước như đổi tên nước, thay lời quốc ca, chọn quốc hoa,… sẽ làm tổn hao nguyên khí quốc gia.
Người dân phải “gồng gánh” toàn bộ chi phí cho xã hội mà đặt biệt là chi phí quản lý đất nước vượt mức đến một lúc nào đó sẽ mất niềm tin hoàn toàn vào đảng, vào thành phần lãnh đạo, giới quản lý thì đất nước Việt Nam sẽ ra sao?
Hơn nữa, việc đề xuất đổi mới tên đất nước, thay lời quốc ca có khác gì việc thành phần trí sĩ mang tội danh chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trưng ra lá cờ vàng 3 sọc đỏ hay dòng chữ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?
Tại sao lại có sự khác biệt đối xử giữa 2 thành phần trí thức khi họ trưng ra chung cùng một ý tưởng?
Một bên bị kết tội, chịu phạt. Một bên được tuyên dương, tặng thưởng, gom góp được đặc quyền, đặc lợi, đặc ân…
Sự công bằng, đúng mực phải chăng chỉ có trong lòng mỗi người còn trên bàn cân công lý, ở xã hội thì sự bất công, thiên vị vẫn luôn làm chủ mọi vấn đề?
…
Giới trí sĩ có ở các bộ ngành nơi hệ thống quản lý đã làm gì để góp phần xây dựng đất nước tiến lên giàu đẹp?
Sau một thời gian đắn đo, suy xét những nhà quản lý xã hội đã đưa ra một nghị định về thực phẩm được ban hành. Nghị định quy định việc giết mổ, tiêu thụ gia súc, gia cầm trong vòng 8 giờ đã được thông qua. Và hiển nhiên là để ban hành một thông tư có tính chất xã hội sẽ tiêu tốn không ít tiền của, giấy mực và những cuộc họp hành quan trọng, cần thiết.
Một nghị định có tầm cỡ đã được thông qua do những chuyên gia phân tích, đánh giá, những vị trí thức học rộng, hiểu nhiều,…
Thông tư ra đời và sớm chết vì tính xa rời thực tế, kém khả thi. Một vài lời biện hộ được đưa ra nhằm bảo vệ uy tín, sự thông tuệ, tầm nhìn xa, trông rộng của những người ban hành thông tư cũ trước khi một thông tư liền kề ra đời “trảm” thông tư trước đó.
Tuổi thọ của một thông tư, một nghị định của nhà nước chỉ sống sót được vài ngày. Có lẽ đây là kỷ lục Việt Nam về tuổi đời ngắn ngủi của một thông tư, nghị định cấp nhà nước.
Hãy nên nhớ rằng đã không có một lời xin lỗi về sự yếu kém khả năng quản lý xã hội nào được đưa ra mà có chăng chỉ là những lời biện hộ, bảo vệ sự đúng đắn ở các nhà quản lý xã hội, giới định hướng phát triển đất nước.
Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý xã hội luôn đúng chăng?
Ở nghị định trên nếu có sai thì người dân đã sai vì không theo kịp sự tiến bộ ở các nhà quản lý chăng?
Cứ cho rằng lời khẳng định trên của các nhà quản lý là đúng mực, hợp chuẩn.
Rồi các nhà quản lý xã hội, giới lãnh đạo đất nước phản biện của người dân là “Các nhà quản lý xã hội hiện đang sống ở đâu mà lại ban hành những quy định trên mây, xa rời thực tế đến vậy?
Phải chăng đó là biểu hiện không thể chối cãi, không thể biện minh của thói cửa quyền, quan liêu,…?”.
Đừng phản biện với tôi đây chỉ là một sai lầm ít gặp, là một rủi ro nghề nghiệp. Và… vì thể diện của giới lãnh đạo, quan chức chính phủ, cùng bộ mặt quốc gia nên … nếu là một người dân có hiểu biết không nên bươi móc, làm xấu mặt nhau. Việc biện hộ các nhà quản lý xã hội là việc nên làm, việc xin lỗi người dân là điều không thật cần thiết, người dân ngu muội, “đầu tắt, mặt tối” biết gì đến việc điều tiết xã hội mà giới lãnh đạo, những nhà quản lý thông thái của xã hội phải hạ mình.
Thiết nghĩ, nếu không thẳng thắn, thành thật nhận lỗi thì làm sao những nhà quản lý nghĩ đến việc sửa sai. Điều đó sẽ là lý luận biện chứng cho thực trạng các nhà quản lý đất nước càng làm, càng sai.
Là sai lầm ít gặp, rủi ro nghề nghiệp.
Vậy nghị định quy định về xe chính chủ phải chăng là chuẩn mực, đúng đắn?
Nếu là chuẩn thì tại sao nghị định vừa đi vào ban hành khiến lòng dân rối loạn, hoang mang?
Nghị định về xe chính chủ đã tạo ra xe khổ chủ cho phần lớn người dân trên cả nước.
Những thông tư, nghị định hành dân đã ra đời sau rất nhiều cuộc họp bàn, phân tích, đánh giá của giới chuyên gia, những nhà quản lý hàng đầu đất nước.
Tại sao lại tồn tại những thông tư, nghị định gây ra sự công phẫn, bấn loạn lòng người?
Lại không có một lời xin lỗi nào được đưa ra. Cũng lại là sự biểu hiện của sự quan liêu, cửa quyền - Giới lãnh đạo, thành phần quản lý luôn đúng.
Chẳng lẽ lại ban hành nghị định mới “trảm” nghị định xe chính chủ. Và một giải pháp thay thế là ra một thông tư dời nghị định xe chính chủ về năm 2015. Đây là một giải pháp tình thế nhằm giảm áp lực dư luận người dân đang bùng phát.
Và rồi vấn đề bảo hiểm xe, mũ bảo hiểm, tăng mức xử phạt nhằm hạn chế tai nạn giao thông hay việc gom góp tiền dân vào túi ngân sách nhà nước một cách “danh chính, ngôn thuận”?
Việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm mà không quản lý tốt chất lượng mũ bảo hiểm để rồi nhà quản lý ban hành xử phạt người dân đội mũ bảo hiểm kém chất lượng. Người dân kém hiểu biết mất tiền mua mũ bảo hiểm kém chất lượng, rồi lại mất tiền đóng phạt vì đội mũ bảo hiểm thiếu chuẩn.
Và … tai nạn vẫn rình rập vì thực tế là số lượng tai nạn giao thông không tụt giảm là bao so với số mức phạt tiền mà các nhà quản lý không ngừng tăng lên?
Vì sao?
Vì tai nạn giao thông không bắt nguồn từ mũ bảo hiểm, chế tài, mức đóng phạt,… mà là ý thức, nhận thức của người tham gia giao thông.
Dễ thấy các nhà quản lý xã hội chỉ ra sức sửa sai ở ngọn mà gốc thì dè dặt hoặc không sửa.
Vì sao?
Vì sửa ngọn mới gom góp được tiền của, các khoản thu, phí chồng phí,...
Bảo hiểm xe máy thật sự có giá trị với người tham gia giao thông hay không?
Dường như không có nhiều giá trị. Tin rằng “Nếu có được quyền tự chủ chọn lựa việc mua hay không mua bảo hiểm xe máy thì phần lớn người dân sẽ không mua vì sự không có nhiều giá trị của bảo hiểm xe máy”. Dù vậy bảo hiểm xe máy vẫn là một chế tài bắt buộc người dân vì khoản thu từ bảo hiểm xe sẽ mang về cho các nhà quản lý xã hội một nguồn lợi lớn.
Đừng bao biện những quy chế nhà nước ban hành là vì dân. Hãy nên xét lại “Có bao nhiêu quy định, chế tài, án phạt,… hợp với lòng dân rồi mới nói đến hai chữ vì dân cao cả?”.
Người dân không hài lòng, đẹp dạ nhưng vì “thấp cổ, bé miệng”, vì muốn sống sót mà chưa phản kháng ra mặt mà thôi,… Và vì người dân đã chia chẻ, không còn đoàn kết. Sự ích kỷ, lối sống thực dụng, lòng tham,… ngự trị rộng khắp mọi thành phần, tầng lớp xã hội con người.
Đến một lúc nào đó, với cách hành xử sai không cần sửa, càng làm, càng sai thì vấn đề đổ vỡ hình thái xã hội hiện tại không hẳn là chuyện viễn vông, thiếu thực tế.
…
Các nhà quản lý xã hội, giới lãnh đạo đất nước, thành phần chuyên gia,… là lực lượng đại diện dân tộc, là thành phần trí sĩ yêu nước đã nói gì?
Họ nói đến sự phát triển, tiến bộ, việc vươn lên tầm cao mới.
Nhưng tầm cao mới ở đâu tin rằng không một ai trong giới trí sĩ hàng đầu Việt Namrõ biết.
Vậy nên nếu cho rằng đó chỉ là những lời nói suông, lời hứa hão huyền để che đậy sự giới hạn tri thức, để “danh chính, ngôn thuận” ngồi ôm giữ chiếc ghế quyền lực được lâu hơn ở một thành phần người thì không hẳn là lời nói sai trái, không đúng mực.
Điểm đến của định hướng xây dựng, phát triển của đất nước Việt Namlà gì?
Những con ong chăm chỉ, những con kiến cần mẫn,… những con thú sống bằng bản năng giống loài động vật chăng?
Sự tiến bộ, văn minh, tăng trưởng giá trị của con người sẽ được thể hiện bằng lòng tham, lối sống thực dụng, sự ích kỷ chăng?
Đó là điểm đến của tầm nhìn Việt Nam ngày mai. Đó là sự tiến bộ hay lui sụt xã hội Việt Nam mọi người và bạn cứ nhìn vào thực trạng xã hội - kinh tế - chính trị - khoa học - giáo dục - y tế - quốc phòng - toàn dân Việt Nam thì sẽ rõ. Câu trả lời có trong sự hiểu biết đúng mực, khách quan ở mỗi người.
Hiện tại, con người Việt Nam đang mất dần giá trị. Bản sắc dân tộc, khí tiết con người theo đó cũng mất đi. Giới trí sĩ yêu nước tỏ ra thức thời, bàng quang đối cảnh. Giới trí thức lãnh đạo đang bay trên mây với những tầm cao mới cho thấy họ và người dân không cùng sống chung một khoảng trời.
Với sự ích kỷ, thực dụng, lòng tham và sự đen tối trong tâm hồn ở mỗi người đất nước Việt Nam rồi sẽ về đâu?
Thời may, có một ngọn đuốc sáng đang được mọi người chuyền tay nhau. Có một sự do dự ở ý nghĩ cùng thắp lên ngọn đuốc sáng trong lòng mỗi người và việc chia sẻ nguồn ánh sáng hài hòa nhằm giúp cho xã hội Việt Nam, cho nhân loại bừng sáng, xua đi những đêm dài tăm tối - sự hiểu biết nửa vời của tri thức nhân loại ngày nay.
…
Hãy nên nhớ rằng tôi đang không cố chỉ ra sai lầm để hạ gục bất kỳ ai mà chỉ là một động thái cởi trói tư duy, nhận thức nơi mỗi người.
Lý do của việc cần đổi mới tư duy và ra sức sửa sai là vì có một người dân Việt đã lên tiếng phản kháng về cách điều hành, quản lý, xây dựng đất nước mắc rất nhiều lỗi ở thành phần quản lý đất nước và người dân hèn mọn đó chấp nhận sự trả giá khi làm sai.