Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay (P.4)

Mật tông:
Người học Phật theo pháp tu Mật tông thường xuyên hành trì bùa chú, độ vong,... Việc làm này thường chạm đến cõi vô hình, xen vào nhân quả nghiệp báo. Pháp tu Mật tông có nét giống như Pháp tu của đạo Bà la môn. Pháp tu Mật tông hiện nay chân sư khó gặp, phần lớn người tu pháp môn này dùng phương tiện độ người cõi dưới nhằm thọ nhận vật phẩm cúng dường, tạo ra sự an tâm tu học, dẫn đến việc giải đãi tu hành chờ ngày Phật Di Lặc hạ sinh. Nếu người tu học theo pháp môn Mật tông mà tâm không minh, trí không sáng dễ rơi vào ma đạo. Người tu Mật tông đòi hỏi phải giữ giới nghiêm cẩn. Nhất là dâm giới, khá nên “cắt ái, ly gia” vì việc luyện bùa chú khiến không ít chúng sinh nẻo không thân bên mình phò trợ, cũng như học pháp. Vạn nhất người tu học Mật tông cũng như người thân hành dâm sẽ dễ tạo ra những hình nhân không hoàn chỉnh về thể xác và tinh thần. Nguyên do là có không ít chúng sinh nẻo không thân theo bên mình người tu Mật tông dù chưa kịp xóa đi tâm thức tàn hoại ở tiền kiếp nhưng lại ham thân, vội vàng nhập thai khi có đủ duyên. Đó là điều mà người học Phật cần nên rõ biết.
Đôi nét về tì vết nơi đạo Phật ngày nay:
Trước đây có vị đệ tử của Phật sau khi trì một thời kinh cho một gia đình giàu có. Sau thời kinh, vị đệ tử đó được cúng dường “3 đấu 3 thăng vàng”, vị đệ tử đó trong lòng mừng rỡ về trình với Phật. Phật đã bảo: Trì một thời kinh mà nhận 3 đấu 3 thăng vàng thì con cháu sau này lấy gì mà dùng.

Tôi lại xét câu chuyện này, 3 đấu 3 thăng vàng cho một thời kinh mà sao Phật lại nhận định là ít bởi vì pháp Phật là vô giá. Nếu dùng pháp Phật để mang về lợi dưỡng mà sinh lòng mừng rỡ là đồng nghĩa với vị đệ tử này không cầu pháp xuất thế gian. Hiển nhiên là việc học Phật theo phương cách đó thì khó thoát ra khỏi 3 cõi luân hồi. Con cháu mà Phật dùng nói với người học Phật là ám thị chính người học Phật ở những kiếp về sau chứ không đơn thuần là con cháu của người học Phật vì lẽ con người nếu sống tốt và không có biến cố lớn lao xảy đến trong cuộc sống thì về cơ bản con người sẽ luân chuyển ở kiếp người tại những nơi quen thuộc. Cụ thể là sự luân chuyển chỉ diễn ra trong gia đình, dòng tộc hoặc vùng miền, quốc gia cư trú,... Thế nên vị đệ tử đó sẽ lại là con cháu của chính mình và nhận lấy phần phước báo đã tạo ra. Nhưng quy luật của gia đình, dòng tộc là “Con nước ròng, con nước lớn”, dù cho tiền của có chất cao thành núi thì cũng sẽ có ngày đói nghèo. Bạn hãy cố tìm xem có gia đình, dòng tộc nào giàu có, hưng thịnh mãi không? Đến như trữ lượng khoáng sản dầu mỏ, than đá, các mỏ kim loại,… trong lòng trái đất vô cùng dồi dào, phong phú mà theo năm tháng cứ vơi dần, cạn kiệt dưới sức tiêu thụ của con người. Vậy tài sản của gia đình, dòng tộc lấy gì đảm bảo cho tính bền vững, còn mãi?
Quay lại vấn đề “Khi nào Phật Di Lặc ra đời?”. Ngay trong Hiện kiếp của trái đất sẽ chẳng có Phật Di Lặc ra đời, chỉ có hóa thân Phật Di Lặc khắp mọi nơi. Nhưng hóa thân Phật Di Lặc nếu có thì cũng chỉ do nhân loại nhìn nhận chứ không ở nơi người học Phật vọng ngữ tự nhận mà thành tựu hóa thân Phật. Phật Di Lặc chỉ thật sự ra đời khi trái đất bị nổ tung. Đến mãi hàng ngàn tỷ năm sau, một sự sống mới lại thành hình trên khối vật chất của trái đất được tái cấu trúc. Sự sống tiến hóa dần từ thấp lên cao và đến một lúc nào đó theo tâm ý của chúng sinh nơi trái đất mới mà Phật Di Lặc sẽ hạ sinh. Bạn hãy tự chọn lựa nên giải thoát trong hiện đời hay chờ Phật Di Lặc thọ ký đạo quả.
Hiện nay, người học Phật về cơ bản được chia làm hai dòng tu chính:
Dòng tu tiểu thừa còn gọi Nam Tông, cội nguồn dòng tu là do những vị đệ tử Phật xuôi về phía nam sông Hằng lập nên. Điểm đặc trưng  của dòng tu này là người học Phật hành trì dựa theo lối tu của đạo Phật nguyên thủy sơ khai, lối tu này thường mỗi ngày chỉ ăn 1 bữa, được phép ăn mặn. Bởi do những vị đệ tử này sau khi học hỏi pháp Phật đạt bậc bất thối chuyển thì rời Phật xuôi về phương Nam hành đạo, truyền pháp nên về sau không tiếp nhận được thêm giáo lý đại thừa nơi Phật Thích Ca. Nguyên ủy của việc ăn mặn như tôi đã nói từ trước là do việc đi khất thực nên người tại gia cúng dường món gì đành phải thọ thực món đó, khó thể chọn lựa. Song ngày nay, dòng tu này cũng đã hành pháp ở trong các chùa, tự viện.
Khi đã tự túc được việc nấu ăn nên chăng người học Phật chuyển sang dùng thức an chay tịnh?
Việc làm đó nhằm giúp cho thân tâm người học Phật an lạc, nuôi dưỡng lòng từ bi, đức hiếu sinh theo mong mỏi của Phật Thích Ca.
Hơn nữa, việc thường xuyên dùng thức ăn mặn, “món ngon, vật lạ” dễ khiến người học Phật sơ cơ rơi vào lợi dưỡng, lui sụt chí bồ đề.
Lời góp ý vụng về, nếu không hợp lẽ mong người tu Nam Tông độ lượng, bao dung, “Người xuất gia nên mở không nên trói”, việc làm tùy tâm, từ bi hỷ xả.
Dòng tu đại thừa còn gọi Bắc Tông, nguồn gốc dòng tu phát khởi ở những vị đệ tử Phật phát triển, truyền pháp hướng lên phía bắc sông Hằng. Những vị đệ tử này sau khi đạt bậc bất thối chuyển vẫn theo Phật hoằng pháp nên được tiếp nhận thêm phần giáo lý, kinh điển đại thừa. Người tu học theo dòng tu đại thừa việc hành trì dựa vào giáo lý, kinh Phật sau khi chánh pháp được lưu bố rộng ở Ấn Độ. Lúc bấy giờ, người dân các nước quanh lưu vực sông Hằng đã biết đến giáo đoàn khất sĩ, những vị cư sĩ tại gia dựng lên những giảng đường cho khất sĩ có nơi tá túc, trú ngụ. Trong thời gian này, giới luật của đạo Phật đã được thiết lập chặt chẽ gồm khoảng 250 giới đối với sư và 350 giới đối với ni sư. Người học Phật theo lối tu đại thừa về sau thường luôn dùng thức ăn chay tịnh.
Trước khi Phật nhập diệt, Người có phó chúc lại “Giới luật tùy thời có thể bỏ bớt hoặc thêm vào”.
Đây là cái thấy cùng tột của Như Lai. Bởi lẽ khi con người có sự hiểu biết nhất định tìm đến học Phật thì họ sẽ cầu Vô thượng bồ đề mà đến.
Khi đó, họ tự biết hành trì, chuẩn mực đúng với chánh pháp, việc làm hẳn là không phạm vào giới cấm, sẽ có những giới luật bị vô hiệu (Do không có người phạm giới) và những giới vô hiệu thời không cần giữ lại. Đó là cái nhìn thông suốt sáng rõ của người đạt pháp xuất thế gian, chứng trí Như Lai.
Đến nay, giới luật vẫn được giữ nguyên phải chăng người học Phật đã không thật sự sống được trong chánh pháp, vẫn còn sai phạm giới luật?
Có không ít vị Tăng bảo cao niên đã không giữ đúng giới vì cho rằng giới luật chỉ áp dụng cho người sơ cơ học Phật. Việc này khiến cho người học Phật sơ cơ chẳng nhận rõ chân ngụy nơi chánh pháp và “Thượng bất minh, hạ tất loạn”. Những điều tiếng này khiến người tại gia có hiểu biết chẳng thể tin nhận giáo lý nhà Phật.
Tội phá hoại Tam bảo liệu những vị Tăng bảo lầm lạc, nông nổi có thể kham lãnh chăng?
Vì những chỗ không minh bạch đó mà giới cư sĩ tại gia phân người xuất gia ra làm 2 hạng:
- Hạng thứ nhất là người tâm xuất gia, thân xuất gia. Người học Phật thân tâm xuất gia hành trì chuẩn mực theo chánh pháp, giữ gìn phạm hạnh thân, khẩu, ý. Thật đáng tham bái, kính cẩn cúng dường.
- Hạng thứ hai là người thân xuất gia mà tâm tại gia. Người học Phật thân xuất gia mà tâm tại gia thể hiện “Lý sự chẳng đồng, tâm hành sai biệt”, dối truyền nối pháp Phật, phụng sự Tam bảo chỉ mong gồm thâu tài vật, lợi dưỡng, lợi danh,… Thật luống uổng việc tham học giáo lý, kinh điển, mê mờ lý sự, chỉ mong “Chùa to, Phật lớn”, thừa sự cúng dường,… Người học Phật này lầm lạc đường tu bởi do học pháp xuất thế gian mà lầm tưởng pháp thế gian nên bị lưới vô minh che lấp thần trí.
Đối với pháp thế gian, người sống nơi vựa lúa thường chẳng bao giờ sợ thiếu gạo nhưng điều này không đồng nghĩa với việc họ sẽ không rơi vào nạn đói. Người học Phật này cũng lại như vậy ở nơi Tam tạng kinh điển và lại thừa hành phụng sự việc Tam bảo, tạo nhiều phước đức nên cả nghĩ sớm muộn gì cũng được Phật Di Lặc thọ ký đạo quả nên khó thể tiến tu, Phật A Di Đà chẳng thể tiếp dẫn, lại luân hồi trong 3 cõi.
Vạn nhất trái đất nổ tung việc tìm lại “Gương mặt mình lúc cha mẹ chưa sinh ra” phải chăng khó càng thêm khó?
Người học Phật nên chăng sớm mau quay đầu, tìm về bờ giác ngộ.
Khác với cách phân định đại thừa - tiểu thừa như trên, ở những phần trình bày sau tôi sẽ giả lập phân định lại:
- Người tu tiểu thừa là người học Phật theo Thanh văn thừa, chỉ cầu 1 trong 4 quả vị thánh, mọi việc làm Phật sự chỉ mong giải thoát hoàn toàn nơi bản thân ra khỏi 3 cõi và cả những người học Phật giải đãi tu hành, chỉ mong lợi dưỡng,…
- Người tu đại thừa là người học Phật phát tâm bồ tát dũng mãnh, học Phật cầu cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian, thường hay tùy nghi dùng pháp, giúp người thoát khổ, chỉ bày chánh pháp chân thật. Tâm bồ tát của người học Phật hiển lộ nơi người sống chứ không phải ở nơi người chết và cõi giới vô hình vì những nơi đó không người nhận biết.
Cả pháp tu đại thừa và tiểu thừa đều là chánh pháp chân truyền của Phật Thích Ca nhưng sao lại có sự sai khác?
Sau khi Phật thành đạo nhận biết chúng sinh trong 6 đường mong cầu dứt khổ, giải thoát hoàn toàn nên Phật đã dấn thân vào con đường truyền đạo.
Lúc bấy giờ, con người chưa biết đến giáo lý, kinh điển chánh pháp nên việc làm có phần tùy tiện, buông lung tánh ý, sống với tâm phân biệt, dính mắc “tham sân si mạn nghi” vì thế cái thấy nghe hay biết bị lưới vô minh che lấp, mê mờ tâm tánh, sự hiểu biết vì thế cũng không còn sáng rõ, khách quan. Phật đã phương tiện giải giảng về luân hồi, nghiệp quả, sự giải thoát hoàn toàn,… Con người qua lời Phật thuyết mơ hồ tin nhận nhưng vẫn không thể rõ biết vì thế Phật lại dùng phương tiện chỉ bày cho người học Phật việc giữ gìn thân, khẩu, ý nhằm thu thúc thân tâm. Việc dừng lặng đó giúp người học Phật chuyển cái hiểu của chánh pháp thành việc hành trì, sống đúng theo chánh pháp. Việc thiền định và quán chiếu giúp người học Phật nhận rõ tự tâm, tường tận chân tánh, thoát ra khỏi tham sân si mạn nghi, dứt trừ khổ đau, đạt được sự tự tại, đắc quả vị thánh.
Rồi khi người học Phật đã sáng rõ chánh pháp, đạt sự tự tại giải thoát thì Phật khuyến khích họ phát tâm đại thừa, lập hạnh bồ tát, cứu độ chúng sinh 3 cõi, làm việc lợi ích cho xã hội chứ không nên giữ riêng sự an lạc cá nhân. Bởi do nếu chỉ biết đến sự giải thoát tự thân thì người học Phật sẽ nuôi lớn bản ngã, chấp giữ đại ngã người học Phật thật sự chưa thể giải thoát hoàn toàn vì còn tâm phân biệt vi tế, nhỏ nhẹm.
Xét lại việc “Trước, Phật phương tiện chỉ bày pháp tiểu thừa. Sau, đúng thời Phật chỉ bày pháp đại thừa”, ta sẽ thấy Phật vì giúp con người nhận rõ tự tâm, vạn pháp đã khuyên người tu học buông bỏ tham sân si qua việc quán chiếu mà nhận biết “vô thường, khổ, không, vô ngã” cùng với việc nhốt thân tâm vào pháp. Đến khi người học Phật không còn tham sân si,… thì Phật hướng họ đến việc mở lòng ra hòa vào cuộc sống, nhằm buông bỏ pháp tiểu thừa, hành trì pháp tu đại thừa, sống tự tại, không dính mắc mọi thứ ở cuộc sống, giúp người sống tốt cũng là giúp mình phá bỏ hoàn toàn bản ngã, đạt sự giải thoát hoàn toàn thật sự.
Vì người học Phật hành pháp đại thừa nơi pháp thế gian mà buông bỏ được bản ngã và tất cả các pháp nên theo cách nói của “Pháp môn không hai” là hành mà không hành, đắc mà không để đắc, không có người để đắc.
Thế nên, việc làm đó là tương ưng, khế hợp với lời Phật đã thuyết “Chánh pháp còn bỏ huống hồ là phi pháp”.
Qua đó, người học Phật sẽ rõ biết “Cứu cánh của đạo Phật không chỉ là sự giải thoát hoàn toàn cho tự thân mà là việc giúp người thoát khổ, chỉ bày và cùng người hành trì đạt sự giải thoát hoàn toàn”.
Tất cả những vấn đề được trình bày ở trên cho thấy tri thức người học Phật và nhân loại đang bị trói trong tấm lưới vô minh, nhị nguyên dày đặc.

Việc các tôn giáo trên thế giới chia rẽ dẫn đến sự phân biệt, giết hại lẫn nhau qua rất nhiều cuộc thánh chiến, tòa án xử dị giáo,… hẳn những việc làm đó không là chủ trương của nhà tiên tri Mohamet, Chúa Jesu,… những vị đó thật sự vốn là những người yêu dân tộc, yêu đất nước. Họ ra đời vì niềm mong mỏi của con người về một cuộc sống ấm no, bình yên, hạnh phúc của đất nước, dân tộc và bây giờ là cho cả nhân loại.

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay (P.3)

Thiền tông:
Dựa vào pháp Tâm truyền tâm được cho là “của riêng” Sơ Tổ Trung Hoa, ngài Bồ Đề Đạt Ma. Trói người học Phật vào pháp với việc thiền hành, thiền tọa, xa rời ngôn thuyết, giáo lý kinh điển. Mục tiêu của người học Phật theo pháp tu Thiền tông là chứng đắc 1 trong 4 quả vị Thánh, cầu A la hán, tham học pháp xuất thế gian.
Do việc hạn chế tham khảo giáo lý, kinh điển, không học hỏi sự hiểu biết và ít va chạm nơi pháp thế gian nên sự chứng ngộ đạo lý giác ngộ, giải thoát ở người tu Thiền tông có phần giới hạn.
Tuy nhiên, người tu Thiền Tông quả thật có chứng, có đắc và vì có sự “đột ngột” khai mở trí tuệ nên người học Phật dễ sinh tâm ngã mạn, nuôi lớn bản ngã.
Có không ít người tu thiền đã “Coi trời bằng vung”, “Dưới mắt không người”, “Khinh Sư, diệt Phật”.
Cụ thể là có không ít người tu học một thời gian được khai mở sự hiểu biết đã lập ra tông giáo mới, phân biệt ra Như Lai thiền, Tổ Sư thiền, thêm nhiều pháp thiền khác nhau và cả Tối thượng thừa thiền.
Không chỉ vậy, có một vài Tông phái thiền dõng dạc tuyên bố “Pháp môn tu cao hơn pháp Phật, hoặc là nếu y pháp môn của Tông phái đó thì sẽ đảm bảo đắc A la hán,…”.
Những người học Phật này nếu không rơi vào lợi dưỡng, lợi danh thì hẳn là đã dừng nơi Đại ngã. Đành rằng: Vạn pháp đồng tánh không nhưng cũng đừng quên cụm từ “chẳng thật không”.
Với trí tuệ của Đại ngã nơi tự thân mà dám tự thị “Pháp môn tu cao hơn pháp Phật” thì không phải là quá ngông cuồng sao?
Hãy nên nhìn nhận lại cội nguồn nơi đâu mà đạt pháp, phát khởi trí tuệ lớn. Dù rằng là vì người học Phật đời sau nói lời hư vọng nhưng không thể “một sớm, một chiều” “tắm máu” Như Lai.
Rõ thật là việc làm cuồng ngông đó chỉ ở nơi Đại ngã chưa thực chứng Vô ngã. Nếu dừng lại nơi Đại ngã thì người học Phật chưa thật sự sống với Chánh vị. Nếu nhận biết phạm lỗi Đại ngã mạn thì người học Phật nên tự tâm sám hối chí thành nhằm phục hồi giới thể, tự tìm về bản tâm thanh tịnh, không dính mắc.
Tôi lại kể một câu chuyện về sự hành trì sai chánh pháp của một người học Phật rơi vào đại ngã. Đây là một câu chuyện có thật.

Trước đây, có một người học Phật chuyên tâm thiền định. Sau một thời gian hành trì, người đó khai mở được sự hiểu biết trở nên thông tuệ. Do chưa phá bỏ hoàn toàn bản ngã và do dục tính huân tập sâu dày chưa được điều phục rốt ráo, người đó đã hướng sự phát triển tông giáo theo hướng mới nhằm thỏa mãn tính dục bản thân mà về sau nhân loại tạm gọi tông giáo đó là tà giáo. Người đứng đầu tông giáo đó được gọi là nhà truyền giáo tình dục. Nguyên do tông giáo đó hướng con người đến sự tự do tình dục, tổ chức những buổi quan hệ tình dục nam nữ tập thể, quần hôn,… Kết quả nhà truyền giáo đó đã chết không minh bạch. Cái chết không minh bạch đó có thể xét đến khía cạnh việc truyền bá tư tưởng của nhà truyền giáo trên không đúng với lòng người, trái đạo. Trái đạo tất sẽ mạng vong.

Xét lại vấn đề này, ta sẽ thấy việc làm của người truyền giáo trên là sai trái, không đúng với chánh pháp Phật Thích Ca. Nếu chưa sống được chánh vị thì hẳn là người truyền giáo đó sẽ phải luân hồi trở lại.
Đáng buồn hơn là những tín đồ của Tông phái tà quái trên sẽ bị dìm sâu hơn trong những nẻo tối tăm, xấu ác.
Ở đây sẽ có sự khác biệt giữa pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Với pháp thế gian thì người “biết luật phạm luật” sẽ bị trừng phạt nặng hơn còn ở pháp xuất thế gian thì ngược lại, người “biết luật phạm luật” sẽ nhận nghiệp quả nhẹ hơn.
Bởi do mọi việc đều lưu xuất ngay nơi tâm ý, người học Phật đúng pháp rõ biết nghiệp quả nên việc làm e dè, thận trọng, không ngừng sửa sai vì thế sẽ dễ dàng hơn trong việc “Cầm lên được thì buông xuống được” đồng nghĩa với việc không dính mắc, buông bỏ được việc đã làm.
Tuy nhiên để làm được điều này đòi hỏi người học Phật có sự hiểu biết sáng rõ và thường sống nơi pháp Phật, sống với tâm không dính mắc, sáng rõ.
Để rõ hơn về việc trừng phạt nơi pháp xuất gian giữa người học Phật và người không học Phật tôi sẽ đưa ra một câu chuyện có trong giáo lý nhà Phật:

Ví như 2 người phạm tội và nhận cùng một hình phạt là chạm tay vào thanh sắt cực nóng. Người không học Phật, không biết đến pháp xuất thế gian sẽ không rõ biết thanh sắt cực nóng nên dùng bàn tay nắm cả vào thanh sắt, còn người học Phật dù vừa mới tiếp xúc đến pháp xuất thế gian nhưng do nhận biết thanh sắt nóng nên chỉ chạm nhẹ vào thanh sắt và rút tay về.

Hậu quả của việc trừng phạt ở 2 người, bạn hãy tự nhìn nhận lấy.
Liên quan đến việc làm trái đạo của nhà truyền giáo trên tôi phải trình bày lại sáng rõ một vấn đề nhằm tránh tạo ra sự ngộ nhận đáng tiếc và cũng là giải một mối nghi trong tri thức nhân loại.
Từ lâu, người học Phật và phần lớn nhân loại lầm lạc tin rằng “Việc học Phật cần phải “cắt ái, ly gia” vì vậy mà nhân loại đã tạo ra khoảng trống là sự xa rời pháp Phật”.
Nay tôi trình bày việc xiển dương “tự do tình dục” là việc làm không đúng với chánh pháp của nhà truyền giáo cũng lại là vấn đề liên quan đến tình dục.
Nếu tôi không trình bày rõ ràng thì nhân loại lại mặc nhiên tin rằng “Người học Phật phải lìa bỏ tình yêu, hôn nhân, gia đình”. Nhận thức như thế thì con người sẽ khó thể đồng thuận dẫn đến việc xa rời pháp Phật và không thể tùy thuận sống theo chánh pháp.
Thực tế là giáo lý Phật Thích Ca chưa bao giờ khuyên con người từ bỏ yêu thương.
Vậy sao có thể thừa nhận người học Phật là nên lấy “cắt ái, ly gia” làm sự chuẩn mực và là thước đo của việc học Phật?
Người học Phật học gì nơi Phật?
Việc học đó không gì khác hơn ngoài việc học hỏi, hành trì theo chánh pháp.
Chánh pháp là gì?
Chánh pháp có ở nơi đâu?
Chánh pháp có nơi lòng người, lòng người chứa đựng chánh pháp. Thật vậy, sâu thẳm nơi lòng người chính thật là việc cầu giải thoát khỏi mọi khổ đau và sinh tử. Chánh pháp là các pháp giúp con người thực hiện việc thoát ra mọi khổ đau, thoát khỏi sinh tử.
Để rõ hơn vấn đề này tôi sẽ xét lại việc ngài A Nan trúng mê dược của cô Ma Đăng Già suýt phạm giới thể. Phật đã cho người đến nhà cô Ma Đăng Già đưa cả A Nan và cô Ma Đăng Già về gặp Phật.
Việc làm đó nhằm “giải cứu” ai?
Từ lâu, người học Phật cho rằng “Việc làm đó nhằm giải cứu ngài A Nan.
Đây là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Thật ra Phật đã giải cứu cô Ma Đăng Già giúp cô không rơi vào tận cùng đau khổ và tuyệt vọng.
Lúc bấy giờ, ngài A Nan đã đạt quả Dự lưu bất thối chuyển. Vạn nhất ngài A Nan phạm sắc giới thì sinh lòng hổ thẹn, sám hối nơi tự tâm và trước đại chúng nhằm phục hồi giới thể.
Việc này hoàn toàn phù hợp với chánh pháp bởi lẽ ngài A Nan không “Tham dâm, túng dục” mà do trúng phải mê dược và gian kế của mẹ cô Ma Đăng Già.
Hơn nữa, ngài A Nan đã đạt bậc bất thối chuyển thì sẽ “Cầm lên được và buông xuống được” nên đối với ngài A Nan mà nói thì đây không phải là kiếp nạn ghê gớm.
Với cô Ma Đăng Già thì lại khác, vừa nhìn thấy ngài A Nan cô đã đem lòng yêu say đắm. Hiển nhiên là ngài A Nan từ chối. Nàng Ma Đăng Già “ngày nhớ, đêm mong” dung mạo đẹp đẽ, khôi ngô của ngài A Nan. Việc yêu đơn phương khiến cô Ma Đăng Già lâm bệnh nặng, thân hình tàn tạ, đến chẳng còn thiết sống. Mẹ cô vì quá thương con nên đã dùng mê dược nhằm giữ ngài A Nan làm “của riêng” cho con.
Nếu Phật không kịp đến giải cứu thì hẳn là trinh tiết của cô Ma Đăng Già không còn.
Nhưng việc đó có giữ được ngài A Nan ở mãi bên cô Ma Đăng Già không?
Nếu ngài A Nan rời đi thì cô ta vạn phần đau khổ.
Còn khi ngài A Nan ở lại và sống trong cảnh “Đồng sàng dị mộng” liệu cô Ma Đăng Già có được mấy ngày vui?
Rõ thật là ngài A Nan không hề yêu cô Ma Đăng Già. Khi đi theo Phật ngài A Nan một lòng cầu giải thoát hoàn toàn, mong chứng quả vị thánh.
Việc hôn nhân của A Nan hiển nhiên là Phật không thể tùy tiện xen vào. Nếu như ngài A Nan cũng yêu thương cô Ma Đăng Già bằng tình yêu nam nữ và muốn cưới cô Ma Đăng Già làm vợ thì hẳn là Phật tác thành mối nhân duyên đó vì thực tế ngài A Nan đã vào bậc bất thối chuyển cho nên việc giải thoát hoàn toàn về cơ bản sẽ không gặp nhiều trở ngại. Đây là lý lẽ đúng thật, không hề trái với chánh pháp Phật Thích Ca.
Có một điều rõ thật là Phật Thích Ca chưa bao giờ khuyên vua cha Tịnh Phạn, vua Tần Bà Sa La, A Xà Thế, Thái tử Kỳ Đà, vị trưởng giả Cấp Cô Độc, ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, y sĩ Kỳ Bà (Jivaka),… “cắt ái, ly gia”.
Nếu việc “cắt ái, ly gia” là “cứu cánh” của đạo giải thoát thì Phật Thích Ca đã nhất mực khuyên vua cha Tịnh Phạn xuất gia, cầu pháp. Người học Phật đừng hiểu sai về chánh pháp của Phật Thích Ca.
Thêm nữa, chánh pháp của Phật Thích Ca khuyên người học Phật không nên tham Dục. Chữ Dục mà Phật đề cập đến không chỉ là tình dục - giới Dâm mà gồm rất nhiều thứ khác như tiền bạc, của báu, địa vị, danh lợi, sắc đẹp,… Vì là khi con người tham đắm dục họ sẽ không từ bất cứ thủ đoạn nào để chiếm hữu, giành giật, cướp về,… làm những việc gây ra hàng loạt đau khổ cho con người và chính cả bản thân.
Nếu con người sống với hành vi chân chính thì không có gì là trái với chánh pháp cả. Đối với giới Dâm có hai vấn đề người học Phật cần rõ biết. Trong đó, chánh dâm là hoàn toàn đúng với chánh pháp vì việc này đảm bảo sự tồn vong của nhân loại, là việc quan hệ tình dục giữa những đôi vợ chồng hợp pháp.
Còn tà dâm là việc làm sai với chánh pháp, nó thể hiện sự “túng dục, khát ái”, buông thả tà tâm, vụng trộm, việc làm không đúng chánh pháp này sẽ khiến con người thân hình suy hoại, héo khô, tâm trí loạn động, chẳng an,… và nơi hành dâm là những nơi được xem là “vũng lầy xã hội” hoặc là những nơi hoang vắng, tối tăm mà người đời thường gọi là “mèo mả, gà đồng”. Khi người tham dâm tạo thành thói quen thì đến lúc chết đi sẽ lai vãng, thọ sinh ở những nơi xấu tối. Cứ thế mà những người “tham dâm, khát ái” sẽ từng bước rơi vào những nẻo xấu trong 6 đường.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay (P.2)

Tịnh độ tông:
Tịnh độ tông ra đời dựa vào bộ kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ. Người học Phật hành trì theo pháp môn Tịnh độ tin sâu lời nguyện của Phật A Di Đà, nương cầu tha lực. Lâu ngày thành tánh, người tu Tịnh độ không còn tin nơi tự tâm, tự tánh vội nhận căn tánh ngu độn, trí tuệ cạn cợt, phước mỏng,… Hành trì tu học chỉ cầu Phật A Di Đà tiếp dẫn Tây Phương Cực Lạc khi nhắm mắt lìa đời.
Người học Phật theo Tịnh độ tông phần nhiều không chú trọng học hỏi pháp Phật nhằm nhận biết sáng rõ con đường liễu thoát sinh tử và tự chủ bước đi vượt qua luân hồi. Sự không tự tin vào tự tâm mỗi người đều có Phật tánh thể hiện rõ ở nơi người học Phật theo pháp môn Tịnh độ.
Cụ thể là có không ít vị cao Tăng danh tiếng học theo pháp tu Tịnh độ trải qua thời gian rất lâu xa. Vậy mà khi được Phật tử đến lễ bái lòng e dè không muốn nhận vì sợ hóa thân Bồ tát tham bái sẽ bị tổn hại phước lực. Nếu gắng gượng cho rằng vì là người học Phật nên thể hiện phép khiêm cung, kham nhẫn. Nhưng đến việc dặn dò Phật tử vào ngày họ viên tịch hãy cùng hộ niệm, trợ duyên giúp họ tiến nhập Tây Phương thì không thể là sự khiêm cung. Bởi lẽ khi người học Phật đạt pháp sẽ tự biết chọn đường để đi nếu vì sự khiêm cung mà nói lời hư vọng là dối truyền pháp Phật, không là người học Phật chân chính.
Quả thật, khi trình bày vấn đề này dù vô tình hay cố ý thì tôi cũng đã phạm vào lỗi “Đại ngã mạn”, tôi sẽ sám hối nơi tự tâm.
Đây thật là việc bất đắc dĩ tôi phải làm chứ không vì danh lợi phù vân. Nếu tôi có lòng hư dối “Khinh Sư, diệt Tổ” nguyện đọa địa ngục Vô gián muôn ngàn kiếp không thể siêu sinh.
Lý do tôi trình bày vấn đề trên là vì chỉ ra điểm sai then chốt của người học Phật khi hành trì pháp môn Tịnh độ mà thiếu sự hiểu biết sáng rõ. Tôi sẽ kể 1 câu chuyện được nghe từ một người học Phật khác. Chuyện kể rằng:

Một hôm, người học Phật đó gặp các cô, các bác Phật tử đi từ trong chùa ra sau một thời kinh. Vốn có quen biết, người học Phật buộc miệng hỏi:
- Hôm nay các bác đi chùa trì kinh gì?
Người Phật tử trả lời:
- Tụng kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Người học Phật lại hỏi:
- Trong kinh viết gì?
Người Phật tử đáp:
- Trong đó viết “tùm lum, tùm la”, đọc không hiểu gì hết.
Đến đây, người học Phật chẳng còn lời nào để hỏi.

Xét lại vấn đề này, câu trả lời cuối cùng của người Phật tử cho thấy họ là người rất chân chất, tri thức không rộng nhưng đến chùa học Phật mà như thế thì “Tham, sân, si, mạn, nghi” có dứt trừ được không?
Nếu không thể dứt trừ “Tham, sân, si, mạn, nghi” thì sao có thể có “cửu phẩm liên hoa” chờ sẵn nơi Tây Phương cực lạc. Nếu không có cái nhìn sáng rõ để tự tiến tu thì Phật đâu thể tiếp dẫn đặng.
Phật Thích Ca đã từng thuyết “Bất kỳ chúng sinh nào trong 6 đường đều có Phật tánh”.
Hiển nhiên chỉ có chúng sinh nẻo Người là có thể hiểu được câu nói đó.
Vậy bạn có tin nơi bạn có Phật tánh không?
Nếu không tin nhận thì bạn học Phật mà làm gì?
Nếu đã tin nhận sao lại còn u mê vướng vào tà kiến căn tánh ngu độn, chậm lụt, phước mỏng, cần tu học Phật rất nhiều đời?
Nếu thật tin nhận “Phật tánh có nơi tự tâm” thì hãy lấy Phật tánh ra chuyển thành Tánh Phật. Ngay đây chính là nơi người học Phật không bị kinh chuyển mà đã chuyển được kinh. Nếu hành trì tinh tấn, miên mật chuyển Phật tánh thành Tánh Phật thì sẽ mau chóng giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Tánh Phật là gì?
Nơi Tánh Phật không có “Tham sân si mạn nghi”, trợ pháp hiển lộ Tánh Phật là 6 pháp ba la mật - Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.
Hiển nhiên là nơi bạn luôn sẵn có. Nếu bạn phát tâm bồ tát dũng mãnh, hành trì tùy thuận 6 pháp ba la mật bạn hoàn toàn có thể thành Phật, Bồ tát cũng như quả vị của những bậc bất thối chuyển ngay trong hiện đời. Đây là lời nói không hư dối, đúng thật.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay (P.1)

Nguyên nhân của sự ra đời bài viết “Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay”
Ngọc bất trát bất thành khí
Nhân bất học bất tri lý
Thật vậy ngọc có siêng lau chùi thì mới sáng, người phải có học thì mới thấu rõ mọi sự, biết mọi lẽ đạo đời.
Bởi đạo Phật thời Phật Thích Ca do một bậc giác giả hoàn toàn trao truyền mà giáo lý về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn đã trở nên sáng rõ, rực rỡ, lợi lạc cho loài người.
Giáo lý mà Phật Thích Ca đã thuyết chính là con đường chánh pháp giúp loài người và muôn vật thoát khổ, sống an lạc, hạnh phúc. Giá trị cùng tột của chánh pháp là giúp con người thoát khỏi luân hồi sinh tử nơi 3 cõi, 6 đường.
Chánh pháp vốn từ đâu mà có?
Nhiều người cạn nghĩ cho rằng chánh pháp từ nơi Phật Thích Ca mà có nhưng trên thực tế chánh pháp có trong tâm của mỗi con người. Khi dừng lặng lại những tham sân si mạn nghi thì chánh pháp trong mỗi người sẽ sáng rõ như vầng trăng đêm 16. Và dù con người có trói trong cuộc sống bon chen, giả trá, đảo điên,… thì chánh pháp vẫn không từng rời bỏ mỗi người. Đó là những đức tính tốt đẹp luôn có trong bất kỳ một con người nào dù rằng kẻ đó cùng hung, cực ác, giam tham, xấu xa… Chút thiện tâm còn xót lại trong họ chính là dấu vết của chánh pháp. Đó cũng chính là Phật tánh, chủng tử Phật thường hằng, luôn có ở mỗi người. Duy có điều Phật tánh đó tròn hay khuyết, tỏ hay mờ mà thôi. Vì tham sân si mạn nghi mà chủng tử Phật ở con người khi vơi, khi đầy,… Do vậy mà con người cứ phải nhào lên, lộn xuống nơi 3 cõi, 6 đường không biết đến ngày ra khỏi luân hồi.
Ngày nay, con người kiến chấp càng nhiều do tự phụ vào sự hiểu biết không ngừng tăng trưởng, tin sâu khoa học, vọng chấp “Chết là hết” mà lối thoát ra sinh tử càng bị nghẽn lối. Hận thù, đau khổ, phiền muộn, lo toan,… đang vùi dập cuộc đời con người (nói chung). Sự hạnh phúc, thảnh thơi, an lạc dường như rất xa lạ với nhân loại trong một xã hội mà vật chất đã, đang quyết định ý thức, giá trị con người.
Đó là dấu hiệu để nhận biết con người đang lần tìm về chánh pháp, tìm lại phần người nơi thế giới con người.
Tuy nhiên, do nhận thức, tư duy sai lầm mà con người đang lần tìm chánh pháp ở nơi kinh sách, giáo lý, danh sư,… mà không dừng lặng tìm chánh pháp nơi chính tự tâm. Sau khi trang bị sự hiểu biết về chánh pháp góp nhặt đã cả nghĩ toàn bích, hoàn hảo và đem giáo lý, kinh điển ra lạm bàn, phiếm luận rồi tham sân si mạn nghi nổi lên tranh hơn, luận thắng,… Những việc làm không nhiều lợi ích cho con đường học Phật và việc giải thoát hoàn toàn.
Còn nhớ Phật Thích Ca chưa từng tuyên bố “Con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn là của chính ta sáng lập ra”. Người còn nói đến việc một chàng cùng tử khốn khó, thấp hèn, mạt hạng,… sau khi trải qua một thời gian dài sống kham khổ, lao nhọc, bất hạnh thì tìm thấy viên ngọc châu ma ni vô giá có nơi chéo áo mà trở nên có một đời sống an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc.
Vậy nên chánh pháp, Phật tánh vốn có trong tâm mỗi người và mỗi người đều có thể lau chùi viên ngọc quý trong tâm để đạt được đời sống an lạc, tự tại, hạnh phúc, dứt trừ, giảm thiểu khổ đau cho mình, cho người và khi lìa đời mỗi người hoàn toàn có thể tùy thuận thoát khỏi luân hồi
Viên ngọc châu ma ni vô giá đó là gì?
Đó chính là chánh pháp mà Phật Thích Ca đã vì con người và chúng sinh nơi 3 cõi đã mất 49 năm đi khắp lưu vực sông Hằng gửi trả lại cho loài người. Bi nguyện cao cả của Phật Thích Ca là nhằm vào việc giúp chúng sinh nơi 6 đường có đủ đầy sự hiểu biết hay nói cách khác là có chiếc chìa khóa thoát khổ cũng như việc thoát khỏi sự luân hồi trôi lăn.
Vậy giáo lý của Phật Thích Ca là gì?
Tam tạng kinh chỉ là bộ sách chứa đựng sự hiểu biết tổng thể, khách quan, sáng rõ về bản chất sự sống, quy luật luân hồi sinh tử, việc giải thoát hoàn toàn,… giúp con người nhận diện 3 cõi, 6 đường. Xác tín lại sự hiểu biết của con người và chỉ rõ cách thức giúp con người thoát khỏi luân hồi bằng việc dứt trừ tham sân si mạn nghi cũng như việc phá bỏ cái tôi mê lầm, vọng chấp ở chúng sinh nơi 3 cõi.
Năm tháng dần trôi giáo lý chứa đựng sự hiểu biết chánh pháp cũng bị vô thường hủy hoại, đánh mất giá trị chính yếu. Người học Phật, người hành đạo,… không chứng ngộ bản tâm, nhân loại thì bị “vùi lấp” nơi sự hiểu biết chủ quan, thiên kiến, phiến diện mà khiến cho xã hội con người ngày càng bế tắc, rối ren, hỗn độn, khốn cùng,…
Tại sao giáo lý Tam tạng kinh ngày càng đánh mất giá trị cứu khổ, giúp người giải thoát hoàn toàn?
Do các bậc chứng ngộ về sau không đạt được mức giác ngộ hoàn toàn về đời đạo. Do kiến chấp lập ngôn “Phật pháp tùy duyên”. Do vọng chấp “Vô ngôn là chân lý”. Do giới hạn, rào cản “Tăng bảo là có chỗ hơn người”. Do việc tách rời đời đạo. Do phần lớn Tăng bảo không hằng sống nơi chánh pháp…
Và do rất nhiều nguyên nhân khác mà chánh pháp trong lòng nhân loại bị lu mờ, nhòa nhạt,…
Càng về sau đạo Phật lại chia tông, rẽ giáo thì sự tổng thể, khách quan, sáng rõ của giáo lý về con đường giải thoát hoàn toàn đã trở nên cục bộ, chủ quan và thiển cận.
Mắt thấy viên ngọc châu ma ni vô giá ngày càng tối màu, loang lỗ tì vết lòng tôi thoáng chút xót xa. Nghĩ tưởng đến bi nguyện của Phật Thích Ca mà tôi một phen dùng lời vụng chỉ rõ những tì vết, khiếm khuyết nơi Tam tông.
Ngoài ra, do đời đạo đã bị tách rời, xã hội loài người đang rơi vào đường cùng, lối nghẽn thế nên tôi đã va chạm đến giới chính trị, khoa học, giáo dục, kinh tế,… Một động thái nhằm vào mục đích giúp mọi thành phần xã hội có những khoảng lặng cần thiết để tư duy lại tương lai nhân loại.
Vì lẽ đó nếu bạn nhận ra nội dung tôi trình bày có sự đúng mực khách quan thì hãy giúp tôi rộng truyền vào xã hội loài người. Tôi tin rằng nhân loại đang cần đến một sự chuyển biến tổng thể về mặt tư duy, ý thức, nhận thức về bản chất sự sống, nhân loại, tự thân và xã hội,…
Bởi lẽ sự gia tăng vượt mức lòng tham đã khiến dân số thế giới đang trở nên bấp bênh, hỗn độn, bùng nổ… Sự gia tăng dân số sẽ kéo theo vô vàn hệ lụy. Có thể chiến tranh sẽ xảy ra nhằm sắp xếp lại trật tự thế giới trong bối cảnh con người bị lòng tham, sự thực dụng thao túng gần như hoàn toàn. Nếu con người gắng gượng kìm chế thì sẽ dẫn đến việc dân số duy trì ở mức độ cao. Kết quả là sẽ kéo theo sự vượt mức đòi hỏi vật chất, trái đất sẽ sớm mất cân bằng và việc phá hủy là điều không khó xảy ra.
Bên cạnh đó, hiện tại số lượng người chán ngán sự lẩn quẩn, bế tắc nơi 3 cõi, 6 đường không hề ít. Dù vậy lối ra sinh tử đang bị che lấp và chỉ khi sự nghẽn lối nơi 3 cõi có sự sáng rõ, thông suốt thì lối thoát cho nhân loại mới thật sự khai mở.
Cụ thể là hiện tại với dân số 8 tỷ người và không ngừng tăng lên thì nhu cầu hàng hóa sẽ đè nặng lên yếu tố vật chất nơi trái đất, trái đất sẽ bị quá tải, nguy cơ nổ tung sẽ dần lộ vết và không dễ ngăn chặn.
Tuy nhiên, khi con người ý thức, tư duy lại tương lai thì sẽ có không ít người chọn lựa việc thoát khỏi bể khổ, rời xa luân hồi thì dân số tự quân bình lại, nhu cầu vật chất theo đó cũng giảm thiểu không hạn lượng.
Vì sao?
Vì cứ một người được giác ngộ giải thoát hoàn toàn thì có đến muôn vàn hà sa chúng sinh nơi 3 cõi được đồng thời giải thoát. Đó là do yếu tố duyên giữa các chúng sinh nơi 3 cõi.
Giả như dân số thế giới giảm thiểu xuống còn 4 tỷ người thì phải chăng những áp lực vật chất mà trái đất, vũ trụ đang “gồng gánh” sẽ thuyên giảm rất nhiều?
Lúc bấy giờ môi trường, khí hậu, các chủng loài thiên nhiên,… sẽ tự quân bình, ổn định trở lại và sự gắn kết giữa người với người, giữa các dân tộc, quốc gia, vùng miền sẽ hài hòa, bình đẳng hơn. Đó là cứu cánh gần như duy nhất của nhân loại, của trái đất ở thời điểm hiện tại.
Trên thực tế là ý tưởng dân số thế giới tự quân bình, tụt giảm sẽ gặp rất nhiều chướng ngại bởi các nhà quản lý xã hội đương đại. Rõ thật là những điều tiết vụng về bằng vào lòng tham, sự thực dụng của con người thì xã hội con người sao có thể chạm đến sự hài hòa, ổn định, bền vững. Bởi do giới quản lý xã hội, đại diện tri thức nhân loại không nhận ra điểm dừng đúng mực cũng như việc cần thiết phải điều tiết giảm mọi vấn đề và cả con người nơi xã hội, trái đất.
Nhận thức, tư duy của giới quản lý xã hội hiện tại là tiến lên, tăng trưởng mạnh dù rằng không ý thức được việc nhân loại sẽ về đâu?
Chỉ khi nội dung blog doavouu được rộng truyền thì mọi vấn đề liên quan đến xã hội con người sẽ được giải quyết triệt để. Khi ý thức, tư duy, sự hiểu biết của con người đạt sự đúng mực, hài hòa thì xã hội con người tự cân bằng trở lại, giới chính trị, thành phần quản lý xã hội cũng tự biết sửa mình vì một thế giới con người tốt đẹp, hoàn thiện hơn ở ngày mai.
Bạn hãy yên tâm về tôi. Với những va đập mà tôi đã tạo ra hẳn là không đủ để tôi mất mạng.
Hơn nữa, nếu điều đó có xảy ra thì đây cũng chỉ là một sự hợp thời mà tôi đã tự chọn lựa. Đời người chết thì chỉ là vấn đề sớm muộn. Thế nên nếu phải ngủ sớm một chút để thắp sáng lại ngọn đuốc chánh pháp nơi mỗi người và trong lòng nhân loại thì việc làm đó là việc rất cần làm, đáng làm.
Thực tế là việc làm đã xong tôi cũng cần phải dừng lại, nghỉ ngơi. Nếu còn chút duyên thì tôi sẽ tháo gỡ những nút thắc còn đọng lại trong lòng bạn.
Tóm lại, vì một chữ duyên mà tôi sẽ viết bài Tì vết nơi Tam tông và đạo Phật ngày nay

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay (P.10)

Điểm nhấn quan trọng (3)
Và một sự hiểu biết tổng thể, khách quan, hài hòa, đúng mực,… sẽ giúp xã hội con người chọn một lối đi phù hợp, tốt đẹp hơn ở tương lai.
Phải chăng đã bao đời nay xã hội con người cứ dựng xây trong vòng lẩn quẩn - Chiến tranh - hòa bình - … - chiến tranh - hòa bình. Cái vòng lẩn quẩn với đầy hận thù, khổ đau, mất mát cứ trói chặt nhân loại?
Vì sao?
Vì sự hiểu biết kém cỏi, nửa vời mà ra. Đã có bao nền văn minh huy hoàng, rực rỡ của nhân loại đã suy tàn, tuyệt diệt? Đó là kết quả của lòng tham, của chiến tranh, của sự hiểu biết không đúng mực…
Sau khi chiến tranh mọi thứ hoang tàn, đổ nát con người gượng đứng lên xây dựng lại xã hội. Xã hội dần ổn định, con người dần đông đảo, những tranh giành được nuôi giữ, nung nấu và chờ dịp bùng phát hủy diệt những công trình mà con người cố ra sức dựng lên. Vì khi mọi thứ vượt giới hạn, định mức cùng với sự hiểu biết chưa đúng mực thì việc tạo chiến tranh, đập phá, giết chóc,… nhằm xóa bỏ cái cũ, các khoản nợ, ân oán,… Chiến tranh thế giới thứ I, II cũng như sự biến mất các nền văn minh cổ đại huy hoàng cùng vô số cuộc chiến tranh nơi lịch sử nhân loại đã minh chứng xác thực cho điều đó.
Và ngày nay nợ công vượt khả năng chi trả, những kho vũ khí gần hết hạn sử dụng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng con người, niềm tin, giá trị con người bị đánh mất,… Mọi thứ dường như đã quá độ, vượt mức kiểm soát của con người, biển Đông dậy sóng, Trung Đông hừng hực lửa hận thù, Châu Phi nghèo khó, Châu Âu nợ nần chồng chất,…
Tất cả là dấu hiệu cho một cuộc chiến loạn để “xóa nợ”, để giành giật phần hơn, để bán vũ khí, để sắp xếp lại thế giới. Và theo cách hành xử có tính chu kỳ, mang dấu ấn truyền thống thì chiến tranh sẽ là chọn lựa của con người khi con người còn sống trong lòng tham, si mê, thù hận và sự hiểu biết non kém, nửa vời. Đây là 1 trong 2 chọn lựa mà con người phải chọn lựa cho tương lai nhân loại. Nếu chọn lựa lối đi này là đồng nghĩa nhân loại sẽ tiến vào Kỷ Nguyên Nhân Loại Đổ Nát Hoàn Toàn.
Nhưng dường như trong sự ích kỷ, lòng tham, lối sống thực dụng hiện tại cũng như nơi những trái tim biết yêu người ở con người (nói chung) không muốn sống trong cảnh giết chóc, chiến tranh, thù hận. Hẳn là bạn không thích chiến tranh, tôi cũng không đồng thuận việc giải quyết những cuộc khủng hoảng liên hoàn bằng chiến tranh. Thế nên chúng ta hoàn toàn có thể không dùng chiến tranh để xây dựng tương lai nhân loại.
Vậy thì việc trao truyền bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay sẽ góp phần chặn đứng chiến tranh, hóa giải vấn đề tranh chấp biển Đông, Trung Đông, nợ công Châu Âu,… tháo gỡ những kho vũ khí chỉ có giá trị hủy hoại, đoạt mạng người.
Khi số đông loài người rõ biết hiện trạng xã hội, cùng có sự hiểu biết tổng thể, khách quan, đúng mực,… thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết an toàn hơn.
Bằng vào cách nào?
Bằng vào việc không tiếp tục ủng hộ những thành phần người bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, kém đức chỉ biết sống trong tham vọng, si mê, giả trá, tráo trở. Đặt giới quản lý xã hội, quản lý đất nước đúng vào vị trí, giá trị đúng mực. Nếu giới quản lý vẫn tiếp tục nuôi giữ tham vọng quyền lực, sức ảnh hưởng thì việc cô lập những kẻ bất nhân, bất nghĩa là điều không khó khi mọi thành phần xã hội đồng lòng. Nước Mỹ đã từng phải đóng cửa chính phủ vì không có đủ ngân sách chi lương cho hệ thống công quyền. Vậy nên việc không đóng thuế, sản xuất tự cung, tự cấp sẽ ngay lập tức cô lập thành phần bất nhân, bất nghĩa. Giới lãnh đạo Trung Quốc nếu vẫn dệt mộng bá quyền và thực hiện Kinh thiên đại âm mưu giảm thiểu dân số một cách danh chính, ngôn thuận thì người Trung Hoa có đủ đầy hiểu biết sẽ quả cảm ngăn chặn nhằm giữ lại khí tiết, bản sắc, giá trị con người nơi đất nước Trung Hoa…
Trên thực tế người dân, mọi thành phần xã hội không nợ gì đất nước, giới quản lý xã hội. Việc nộp thuế lẽ ra là tự nguyện chứ không mang tính áp đặt, trói buộc. Đất đai trên thực tế chưa bao giờ là của giới chính trị, họ không từng dùng tiền mua về hay đổ công sức làm ra. Họ cũng chưa từng là thành phần chính ra sức bảo vệ đất đai.
Thế nên mọi thành phần xã hội không từng nợ giới chính trị. Việc đóng thuế, gom góp tiền của, sức người là nhằm mục đích xây dựng xã hội chứ không dùng vào những mục đích sai trái, gây hấn, tạo chiến tranh, hoang phí, quan liêu,…
Mỗi con người khi sinh ra vốn đã nợ rất nhiều. Nợ cha mẹ, người thân, dòng tộc,… và trên hết là nợ cả cuộc đời chính họ. Thế nên những khoản nợ “Từ trên trời rơi xuống” cần được xét lại chứ không hẳn con người cứ phải gồng gánh trả nợ hết đời này sang đời khác mà đánh mất cả sự an vui, bình yên và niềm hạnh phúc giản đơn.
Vì thế nên chỉ cần mỗi người dừng lặng tư duy lại thì tương lai nhân loại đã bước sang một trang mới tinh sạch, tốt đẹp hơn.
Hãy nên nhớ rằng tôi không từng mong mỏi một cuộc bạo loạn đấu tranh lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Vì lẽ khi giới lãnh đạo bất kỳ nào được thay thế mà chưa đạt được sự hiểu biết tổng thể, khách quan, đúng mực thì lòng tham, sự thực dụng sẽ sớm nhấn chìm thành phần quản lý đất nước. Thế nên hãy cho họ cơ hội sửa sai cũng như để mắt đến việc làm, cách hành xử của họ. Mọi thành phần xã hội và người dân phải ý thức sự tồn tại cũng như giá trị tự thân trong công cuộc xây dựng, phát triển xã hội loài người.
Muốn giảm thiểu sự cồng kềnh nơi hệ thống công quyền thì sự hiểu biết sẽ giúp cho mọi thành phần xã hội có ý thức, nhận thức đúng mực về vai trò, giá trị của tự thân trong xã hội. Đây là một định hướng chuẩn mực xây dựng xã hội con người. Có lẽ đây sẽ là một quá trình dài lâu và nên sớm khởi công xây dựng. Chí ít là ý tưởng này cần được thắp lên trong nhận thức, tư duy của thành phần quản lý xã hội, giúp họ ý thức được việc tiết giảm sự can thiệp không đúng mực cũng như hạn chế quyền lực, khả năng chi phối vào xã hội con người.
Hiển nhiên là sẽ không dễ, không thể có một xã hội con người hài hòa, bình đẳng hoàn toàn nhưng chí ít là xã hội loài người khi con người ít nhiều sống bằng giá trị con người thì sẽ không có những bất công, áp bức, bóc lột vượt mức giữa con người với nhau. Con người sẽ biết sống vì nhau hơn và xã hội loài người vì thế không còn bị lòng tham, sự thực dụng ích kỷ xâm thực, chi phối hoàn toàn,…
Chuyển tiếp là việc tháo gỡ giới hạn vùng miền, lãnh thổ, đất nước, châu lục,… những tư duy, ý thức, nhận thức xa xưa đã lỗi thời, lạc hậu so với sự tiến bộ tri thức con người ngày nay.
Người nào, dân tộc nào chẳng phải là người, tại sao cứ phải phân biệt, hoài nghi, đố kỵ, ganh ghét,…?
Những rào cản sai lầm đã dựng lên từ lâu xa ngày nay có còn giá trị gì ngoài sự hận thù, nghi kỵ, những niềm tự hào ảo tưởng,…?
Tôi là ai?
Tôi chỉ là một người tầm thường được sinh ra, lớn lên và học hỏi sự hiểu biết trong một môi trường giáo dục không từng hoàn hảo cùng với vô vàn sự giới hạn, rào cản tri thức.
Và rồi việc mở lòng ra sống với sự hiểu biết tổng thể, khách quan, biết yêu người mà sống thì thử hỏi “Trong nhân loại ngày nay các bậc học giả, các chính khách hàng đầu thế giới, các nhà giáo dục, những nhà khoa học, những nhà xã hội,… liệu có mấy ai có được một góc nhìn, một ý tưởng định hướng, xây dựng tương lai nhân loại hài hòa, đúng mực được như thế?”.
Phải chăng từ một con người nhỏ bé, có xuất thân tầm thường ngày trước tôi đã trở nên lớn lao, vĩ đại dù rằng mọi việc chỉ mới là ý tưởng chưa được hợp thức hóa sâu rộng nơi lòng người?
Tôi cũng sẽ không cố gắng thêu dệt ý tưởng tốt đẹp mà tôi đã trình bày nhằm việc chuyển ý tưởng thành sự thật. Việc làm của tôi cơ bản đã xong, bạn và nhân loại sẽ đứng trước chọn lựa việc xây dựng tương lai nào cho nhân loại.
Nếu chọn lựa việc trao truyền sự hiểu biết mà tôi cho rằng là đúng mực, tổng thể, khách quan, sáng rõ thì bạn đã chọn một tương lai tốt đẹp cho xã hội loài người. Nhân loại sẽ thực sự tiến vào Kỷ Nguyên Văn Minh, Tiến Bộ, Hòa Bình, Hài Hòa Và Hiểu Biết.
Việc hỗ trợ trao truyền dịch thuật, chuyển ngữ bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay là bạn đã góp phần vào việc chọn lựa tương lai tươi sáng cho nhân loại. Chỉ thế thôi bạn không cần phải làm gì thêm cả. Khi tư tưởng, ý tưởng về tương lai nhân loại được gieo vào nhận thức, tư duy nhân loại mà nhất là nơi giới quản lý xã hội cũng như việc phổ cập sự hiểu biết tổng thể đến với số đông loài người thì xã hội con người tự khắc có những chuyển biến tích cực, phù hợp.
Vấn đề khủng hoảng xã hội - kinh tế  - con người, việc tranh chấp biển Đông, xung đột Trung Đông,… được giải trừ nhanh hay chậm, sớm hay muộn có lẽ sẽ chịu sự ảnh hưởng không nhỏ nơi tốc độ lan truyền nội dung bài viết. Tương lai nhân loại, tương lai đất nước, tương lai của chính bạn đang lệ thuộc phần nhiều vào sự chọn lựa của bạn ở thời điểm hiện tại.
Khi nội dung bài viết được rộng truyền trong nhân loại thì mỗi người sẽ có những khoảng lặng để tư duy lại tương lai, tư duy lại chính mình. Nếu bạn tham khảo những bài viết nơi blog doavouu.blogspot.com và bạn có một khoảng dừng lặng nhất định thì đó chính là dấu hiệu để bạn tin rằng nội dung bài viết sẽ có chút ít giá trị cho nhân loại đương đại.
Và khi nội dung bài viết được lan tỏa vào lòng nhân loại thì tin rằng người Việt Nam sẽ được bạn bè quốc tế nể trọng và quý mến.
Nhân tiện, tôi cũng có ít lời về tôi. Ngay khi viết quyển sách đầu tay Hãy là đường xưa mây trắng bay… tôi đã có trình bày tiên đoán một vấn đề không hề nhỏ. Đó là mai này giải Noben hòa bình sẽ đến với Việt Nam khi quyển sách trên được chính thức phát hành. Dù vậy, đến nay quyển sách Hãy là đường xưa mây trắng bay… vẫn chưa được cho phép xuất bản. Có lẽ phải cần thêm một khoảng thời gian nữa thì quyển sách trên mới chính thức ra đời.
Và hôm nay, tôi sẽ khẳng định việc tôi đang ghi tên một bậc vĩ nhân, thánh nhân vào lịch sử hiện đại của nhân loại.
Việc được nhân loại thừa nhận là vĩ nhân, thánh nhân trong thời kỳ hiện đại là điều không hề đơn giản, không hề dễ dàng. Tuy nhiên, tôi sẽ vẽ ra một bậc vĩ nhân, thánh nhân ngay khi người đó còn sống.
Quả thật rất phô trương và nông nổi. Những bậc vĩ nhân, thánh nhân từ xưa đến nay chưa từng ai tự khắc họa công trạng của tự thân vì thế họ mới được nhân loại kính trọng gọi là vĩ nhân, thánh nhân.
Việc tự nhận vĩ nhân, thánh nhân sẽ khiến rất nhiều người coi thường, dè bĩu, khinh khi,… sự kệch cỡm, hợm hĩnh của kẻ ngạo mạn. Biết vậy, nhưng tôi vẫn nói ra lời cao ngạo. Thực tế là những bậc thánh nhân, vĩ nhân xưa là những người có đời sống thánh thiện, biết sống vì người, ra sức giúp xã hội con người phát triển, tiến bộ. Cách sống, tư tưởng của họ đã gieo vào lòng người những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức, ý thức, tư duy, giá trị sống cao đẹp.
Tôi cạn nghĩ với sự hiểu biết mà tôi trả về cho nhân loại cũng không ngoài mục đích chuyển hóa tư duy nhân loại trở nên hoàn thiện, đúng mực hơn. Chỉ có một điều khác biệt là người xưa đã nói và làm còn tôi chỉ nói mà sẽ không làm. Bởi lẽ tôi không cần đến những tên gọi hoa mỹ, hào nhoáng vĩ nhân, thánh nhân. Xong việc rồi tôi sẽ trở về với thân phận một con người nhỏ bé, tầm thường.
Việc là thánh nhân, vĩ nhân của một con người Việt có lẽ sẽ do bạn ra sức truyền trao nội dung bài viết mà thành tựu. Tôi sẽ nói mà không nói, làm mà không làm. Tôi không mong cầu, kỳ vọng vào sự thành bại, được mất,… vì thế nên hai chữ thánh nhân, vĩ nhân tôi xin trả lại cho nhân loại. Và… bạn hoàn toàn có sự tự chủ cho chọn lựa của chính mình.
Thực ra với tầm vóc của tôi hiện tại đã vượt ra ngoài hai chữ thánh nhân, vĩ nhân. Có thể nói rằng tôi là người thứ hai trong nhân loại sau Phật Thích Ca đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, thấu rõ 3 cõi 6 đường và những sự hiểu biết cần thiết để liễu thoát sinh tử, ra khỏi luân hồi.
Tại sao tôi cứ 5 lần, 7 lượt hợm hĩnh, khoe khoang chỗ hơn người, sự tương đồng với vĩ nhân, thánh nhân, Phật Thích Ca?
Vì lẽ đây là bài viết Điểm nhấn quan trọng. Và tôi không hề tự ti, mặc cảm hay tự phụ khi nói về giá trị của bản thân vì lẽ cuối cùng tôi sẽ vẫn là một kẻ tầm thường, nhỏ bé. Nội dung những điều tôi trình bày hiện đã có giá trị hơn con người thật của tôi.
Nếu những bài viết tôi tạo ra những oán thừa cho một vài người thì hãy đến lấy đi hết phần oán thừa còn lại và về sau hãy xem như là “Chúng ta không còn ai nợ ai”.

Trân trọng!

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay (P.9)

Điểm nhấn quan trọng (2)
Có người nói với tôi rằng “Giới chính trị, thành phần quản lý xã hội, quản lý đất nước tài giỏi và khôn lắm. Họ biết cả đấy, đừng coi thường họ”.
Thật vậy! Nếu họ không tài giỏi, khôn khéo thì đâu dễ gì thao túng, lũng đoạn toàn nhân loại. Họ biết triệt hạ hoàn toàn tôn giáo khi cần hoặc là họ sẽ chuyển đổi tôn giáo thành công cụ quản lý xã hội khi lòng người bấn loạn, hoang mang. Họ biết dùng ngành kinh tế - dịch vụ, các khoản thuế, phí để che đậy việc bóc lột sức dân một cách danh chính, ngôn thuận và kín kẽ. Vạn nhất việc bóc lột sức dân vượt mức thì 1 vài điều chỉnh các khoản thuế phí và hạn chế mức chiếm dụng giá trị thặng dư ảo có nơi ngành kinh tế, dịch vụ sẽ xoa dịu lòng dân. Họ nghiễm nhiên trở thành người hùng, có đầy đủ tài đức, thương dân như con và ngành kinh tế, dịch vụ sẽ phải đưa đầu chịu báng. Họ biết điều tiết, khống chế các ngành khoa học - công nghiệp - nông nghiệp - giáo dục để gom góp tiền của cho đất nước và phục vụ chủ yếu cho túi tham của chính họ. Họ nắm bắt, gọt dũa tư tưởng của mọi thành phần xã hội, người dân vào khuôn mẫu mà họ dễ dàng thao túng, lũng đoạn nhất thông qua hàng loạt chế tài, hình luật, án phạt, sự giáo dục trói buộc chủ quan…
Sau cùng, họ dựa vào sự tự ti, yếu đuối, bạc nhược luôn có trong nhận thức, tư duy con người. Nhất là lòng tham, lối sống thực dụng, ích kỷ của phần lớn con người hiện đại để sống như những kẻ cả, “ăn trên, ngồi trước”, một số sống vô tích sự dù rằng luôn được loài người tán dương, coi trọng.
Tuy nhiên, những tài vặt, khôn lõi có nơi lòng tham, sự thực dụng, cục bộ cá nhân ở giới quản lý, thành phần lãnh đạo không thể giúp họ điều tiết, quản lý tốt xã hội, đất nước đạt đến sự hài hòa, ổn định, an toàn.
Nhất là khi sự hiểu biết con người không ngừng nâng lên, đã dần có sự tương đồng tri thức giữa người với người. Bấy giờ, những yếu kém về tư duy, sự hạn chế năng lực cũng như những giả trá, sai trái, khuất tất được che đậy tinh vi, kín kẽ ở giới quản lý đất nước sẽ bộc lộ sáng rõ, các thành phần xã hội sẽ quả cảm cất lên tiếng nói đúng lúc đặt giới chính trị về đúng vai trò, vị trí, giá trị của họ hoặc không tiếp tục ủng hộ tiền của, sức người cho thành phần người bất nghĩa, bất nhân, kém đức, vô đạo.
Nếu giới lãnh đạo, thành phần quản lý xã hội ở mỗi nước cũng như ở quy mô thế giới có đủ thực tài, có tài năng thật sự thì xã hội con người ngày nay ở các nước, các châu lục, các vùng miền lãnh thổ đâu còn mãi ngụp lặn trong chiến tranh, giết chóc, tranh giành,… với đầy dẫy những khủng hoảng nhân đạo, nợ công, kinh tế, giáo dục, con người, tiền tệ, thiên nhiên, khí hậu,…
Phải chăng đã không có một nhà quản lý xã hội, một thành phần lãnh đạo quốc gia, quốc tế nào vạch ra được một lối đi sáng rõ, an toàn, đúng mực cho xã hội loài người?
Rêu rao con người đã văn minh, hiện đại, tiến bộ, nhiều hiểu biết nhưng phải chăng chiến loạn, việc giết chóc, tàn sát, thảm sát đồng loại ở con người ngày càng tinh vi, trắng trợn, man rợ, ghê rợn và thú tính hơn thời con người còn sơ khai, mông muội, kém hiểu biết ngày xưa?
Sự tiến bộ, tăng trưởng phần người ở con người hiện đang ở đâu, thể hiện ra sao?
Có chăng là con người - những con người tự phụ thông minh, nhiều hiểu biết sẽ sử dụng phần tri thức hơn người để bóc lột, chèn ép, đè nén những người có trình độ nhận thức hẹp kém hơn?
Đó đâu phải là phần người nơi con người hiển lộ. Có lẽ đó chỉ là dấu hiệu nhận biết phần con nơi con người đang tăng trưởng không ngừng và đầy man trá vì lẽ phần con nơi loài vật không từng tàn độc đến vậy.
Thế đấy! Đừng vội tự ti, bạc nhược sự hiểu biết của bản thân, chớ vội khẳng định giới lãnh đạo, thành phần quản lý xã hội đầy tài giỏi, khôn ngoan, biết cả. Vì lẽ nếu biết cả thì họ sẽ không nhấn chìm xã hội con người vào vũng lầy rối ren, hỗn độn, tối đen, không hề có lối thoát cho tương lai nhân loại.
Hãy nhìn cách hành xử của giới quản lý để kịp thời góp lời khi cần thiết, đừng vội chối bỏ sự tồn tại, giá trị con người của chính mình.
Thật không thể giao cả vận mệnh dân tộc, đất nước, nhân loại cho một nhóm thành phần người có sự hiểu biết chưa đạt mức tổng thể, khách quan, đúng mực, sáng rõ.
Vì lẽ chút tài giỏi cùng sự kém đức, không biết sống vì người, nhất là khi tư duy, nhận thức, giá trị tự thân của giới quản lý xã hội bị trói buộc nơi lòng tham không đáy, sự thực dụng, ích kỷ, muôn vàn thói tật xấu xa xâm thực thì nhân loại (nói chung), mỗi đất nước, mỗi vùng miền (nói riêng) làm sao có được sự yên bình, ổn định, hài hòa phát triển?
Giới lãnh đạo, thành phần quản lý xã hội không thật sự tài giỏi, biết cả như nhận định của bạn. Họ cũng là con người vì thế họ vẫn thường phạm những sai lầm, thiếu xót,...
Trên thực tế, giới lãnh đạo, thành phần xã hội liệu có biết gì về sự tồn tại của thế giới tâm linh?
Với việc không rõ biết về thế giới tâm linh tại sao họ có toàn quyền sinh sát cho việc tồn vong của hệ thống tôn giáo trên phạm vi trong nước cũng như toàn thế giới?
Thêm nữa, họ có rõ biết bản chất của sự sống, nguyên nhân của sự tồn tại của chính họ, giá trị của tự thân.
Chết là hết, là không còn gì cả hay chỉ là một sự luân chuyển, đổi thay?
Họ gần như không biết gì về cội nguồn, nguyên nhân tồn tại và giá trị của chính họ thì đâu thể miễn cưỡng tán dương họ biết cả.
Không nắm bắt, thấu hiểu sự vận hành vũ trụ, sự sống, sự vận hành xã hội con người thì thành phần quản lý xã hội sao có thể điều tiết, quản lý xã hội một cách đúng mực, hợp lý?
Tầm nhìn hẹp kém, thiển cận,… tầm nhìn 10 năm không thấy được 100 năm, tầm nhìn 100 năm không nhận diện được 1000 năm và ngược lại thì những điều tiết, quản lý chủ quan, cục bộ có giá trị, có ý nghĩa gì?
Sự non kém nhận thức, tư duy, tầm nhìn sẽ dễ dàng đánh mất giá trị con người. Khi đó giới lãnh đạo, thành phần quản lý sẽ phơi bày hình hài, chân dung của con người bị lòng tham, sự thực dụng chi phối hoàn toàn. Một giới lãnh đạo bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, kém đức,… là đại diện tri thức nhân loại, dân tộc ra sức quản lý, điều tiết xã hội, đất nước bằng vào tham vọng, si mê, mù quáng thì khó có thể nói là điềm phúc lạc cho dân tộc, cho nhân loại.
Tin rằng, phần lớn giới lãnh đạo, thành phần quản lý xã hội hiện tại rất mù mờ về cách quản lý, xây dựng xã hội con người.
Trên thực tế chỉ có 2 cách thức chính để xây dựng xã hội con người. Đó không phải là hai hệ thống xã hội cơ bản hiện tại, là Tư Bản Chủ Nghĩa (TBCN) và Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Vì lẽ giá trị, tên gọi hình thái xã hội không quyết định tương lai xã hội con người. XHCN, TBCN vốn có giá trị vô nghĩa trong thời điểm hiện tại. Giá trị thực của việc xây dựng xã hội con người phần nhiều là do giới lãnh đạo, thành phần quản lý có lối sống, cách nghĩ suy “Sống vì ai?” chứ không phải vì đảng phái nào đang thống trị.
Vậy 2 đường lối xây dựng xã hội con người là gì?
Đường lối 1 là xây dựng xã hội bằng sự ngu muội tri thức, kém cỏi hiểu biết để dễ bề cai trị, thao túng, lũng đoạn. Đó là đường lối ngu dân, là cách thức mà hoàng đế bạo tàn - Tần Thủy Hoàng đã từng áp dụng ở Trung Quốc và đạt được những thành công nhất định.
Ngày nay, các nước Hồi giáo thủ cựu, cực đoan hay Bắc Triều Tiên đang vận hành theo cách thức này. Tất nhiên, là với cách thức xây dựng xã hội theo cách thức này thì xã hội con người sẽ ngày càng trượt dộc, trì trệ, kém phát triển. Người dân sẽ khốn cùng, túng quẩn và với góc nhìn hạn hẹp thì chỉ có thể nhận thấy thành phần quản lý, giới thống trị sẽ được phần hơn, phần lợi.
Và với sự xây dựng xã hội theo đường lối ngu dân, chối bỏ sự hiểu biết thì tính mong manh, dễ vỡ của xã hội con người sẽ không khó nhận diện. Chiến tranh, bạo loạn, giết chóc, xâm phạm lãnh thổ, cướp bóc, tranh chấp dễ thường xảy ra và con người dùng máu, mạng sống con người để giải quyết vấn đề, “Mạnh được, yếu thua”.
Trong bối cảnh hiện tại thì đường lối xây dựng xã hội bằng cách thức ngu dân đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp.
Đường lối 2 là xây dựng xã hội bằng vào sự hiểu biết, tri thức không ngừng cập nhật. Phần lớn các nước trên thế giới đang định hướng xây dựng đất nước theo đường lối này.
Điều đáng tiếc là sự hiểu biết nhân loại ngày nay dù được cập nhật, nâng cấp không ngừng nhưng chưa đạt đến mức tổng thể, khách quan, đúng mực. Vì thế chính do sự hiểu biết nửa với về cội nguồn sự sống, con người mà định hướng xây dựng xã hội loài người bằng vào lòng tham, sự thực dụng man trá,… Vì thế cơ hồ như con người đang dùng sự hiểu biết để lừa gạt nhau mà sống, tranh giành phần lợi, phần hơn về cho bản thân. Do vậy nên chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng con người, khủng hoảng xã hội,… được nuôi giữ, liên tục bùng phát nơi xã hội loài người và nhấn chìm nhân loại vào giết chóc, hận thù, đau khổ,… đã bao đời nay, hết lần này đến lần khác.
Cũng chính do sự hiểu biết chỉ đạt mức nửa vời mà giá trị con người ngày càng mai một, mất chất. Lẽ ra con người ngày càng hiểu biết, ngày càng văn minh thì các hình luật, chế tài,… sẽ cắt giảm, dẹp bỏ. Nhưng trên thực tế thì xã hội con người ngày càng được gia cố hệ thống pháp luật, án phạt, chế tài thêm phức tạp, rườm rà, rối rắm,… là dấu hiệu để biết chất lượng phần người trong con người đang đi xuống, phần con nơi con người đang tăng trưởng rất nhanh.
Tại sao nhân loại lại xây dựng xã hội con người ngày càng giống xã hội muôn loài? Sự hiểu biết, tri thức con người đã trôi tuột về đâu? Nếu cứ định hướng xây dựng xã hội loài người theo khuynh hướng hiện tại thì phải chăng mai này có lẽ sẽ khó phân biệt con người với loài vật?...
Cũng do bởi sự hiểu biết không đạt mức tổng thể, khách quan, tương đồng,… mà xã hội con người ở các nước trở nên khó điều tiết, quản lý vì mỗi thành phần xã hội đều có tư tâm, dụng ý riêng. Tất cả đều ích kỷ, tham đắm gom góp tư lợi thì xã hội đổ nát, hoang tàn chỉ là vấn đề thời gian sớm hay muộn. Đơn cử như việc đóng cửa chính phủ Mỹ là minh chứng xác thực cho sự phân rã, đánh mất gần như hoàn toàn sự gắn kết giữa các thành phần xã hội và yếu tố niềm tin giữa người với người đã không còn.
Cũng do bởi sự hiểu biết nửa vời mà giới lãnh đạo thành phần quản lý ra sức củng cồ quyền lực, khả năng chi phối xã hội bằng hệ thống công quyền, chế tài, hình luật, án phạt,… cũng như việc gây thù, chuốc oán, tạo chiến tranh, bạo loạn,… nhằm che đậy những đổ nát, rệu rã bên trong thành phần quản lý đất nước, quản lý xã hội. Thể hiện việc “Túng làm càn”.
Phải chăng chính sự hiểu biết nửa vời đã không giúp giới lãnh đạo, thành phần quản lý nhận thức, tư duy được rằng “Khi con người có đủ đầy hiểu biết thì xã hội con người tự yên bình, ổn định, an toàn chứ không cần phải dựa vào những can thiệp, điều tiết chủ quan, yếu kém của thành phần quản lý?
Phải chăng chính lòng tham, sự đam mê quyền lực mà giới lãnh đạo, thành phần quản lý ngăn cản, hạn chế sự hiểu biết, năng lực tư duy ở người dân cùng mọi thành phần lãnh đạo?
Nhưng cũng chính do tham vọng và sự kém hiểu biết mà giới lãnh đạo, thành phần quản lý xã hội đã đẩy người dân, đất nước, nhân loại vào đường cùng, ngõ cụt.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay (P.8)

Điểm nhấn quan trọng (1)
Có vẻ như thật khôi hài khi tôi cho rằng chỉ cần vài bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay được chuyển ngữ, dịch thuật ra nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau như Hoa ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ,… thì vấn đề tranh chấp biển Đông sẽ được giải quyết triệt để đến tận gốc rễ.
Tuy nhiên, đó lại chính là giá trị thật của chuỗi bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay. Không chỉ vậy! Nếu nội dung bài viết được sớm rộng truyền và lan tỏa trong lòng nhân loại thì phần lớn vấn đề vướng mắc mà xã hội loài người đang gặp nhiều khó khăn khắc phục cũng sẽ được tháo gỡ dễ dàng.
Vì sao lại có một điều kỳ diệu tựa như là phép màu như thế nơi nội dung bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay?
Vì lẽ khi bài viết được lan rộng vào sự hiểu biết, nhận thức, tư duy nhân loại thì con người sẽ sống thật với giá trị nơi phần người của con người được hiển lộ.
Sự ngụy tạo, giả trá nơi giới lãnh đạo, thành phần đại diện tri thức nhân loại sẽ được bóc trần. Điều này giúp cho giới quản lý xã hội, quản lý đất nước buộc phải sống thật với giá trị ban đầu, giá trị gốc vốn có của bộ phận quản lý xã hội. Sự cửa quyền, quan liêu, tham nhũng, hoang phí,… sẽ được ngăn ngừa triệt để. Sự lũng đoạn, việc tùy tiện thao túng xã hội ở một thành phần người bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, trái đức sẽ bị chặn đứng hoàn toàn khi sự hiểu biết của con người đạt cột mốc tổng thể, khách quan, sáng rõ và đúng mực.
Và những thành phần xã hội khác ngoài thành phần chính trị một khi có đủ đầy sự hiểu biết tổng thể, khách quan, đúng mực sẽ tự nhận thức được vai trò, trách nhiệm, giá trị của sự tồn tại tự thân. Lúc bấy giờ sự mặc cảm tự ti, thấp hèn, bạc nhược ở con người sẽ được gỡ bỏ khỏi tư duy, nhận thức và con người (nói chung) sẽ quả cảm góp lời cùng chung tay xây dựng xã hội loài người tiến vào kỷ nguyên văn minh, tiến bộ, bình đẳng, hài hòa,…
Việc gắn kết giữa người với người, giữa các quốc gia, dân tộc sẽ góp phần đẩy lùi chiến tranh, giết chóc, bạo loạn, thiên tai, dịch bệnh, đói nghèo, hàng loạt các cuộc khủng hoảng toàn diện đã, đang nhấn chìm nhân loại trong sự đau khổ, hận thù, nghi kỵ, vụ lợi, đê hèn, giả trá,...
Khi có đủ hiểu biết về bản chất sự sống, nguồn gốc tự thân,… thì nhận thức, tư duy con người sẽ không bị chi phối hoàn toàn bởi lòng tham, si mê, sân hận,… Chủ nghĩa thực dụng tàn độc, man trá, ích kỷ, xấu xa nơi nhân loại sẽ từng bước bị đẩy lùi, chặn đứng. Xã hội loài người tự khắc trở nên tốt đẹp, an bình, ổn định bởi lẽ con người đã sống đúng mực nơi giá trị phần người của con người.
Có một sự thật là bài viết Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay không chỉ vì việc giải trừ vấn đề tranh chấp biển Đông mà ra đời. Giá trị của bài viết là rút ngắn khoảng cách tư duy, nhận thức giữa người với người, giữa người dân và giới lãnh đạo đất nước, giữa các dân tộc, các quốc gia, các vùng miền lãnh thổ khác nhau.
Tôi không chỉ vì việc đánh bật giới lãnh đạo bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, trái đức Trung Quốc ra khỏi vũ đài chính trị nhằm giải trừ vấn đề tranh chấp biển Đông mà viết bài Vì ta cần nhau - Tôi cần 1 bàn tay nắm lấy 1 bàn tay. Tôi muốn mọi việc trở nên rõ ràng, minh bạch, “thà trắng, thà đen” những mong giúp nhân loại dễ dàng nhận diện đúng mực hiện trạng, bản chất vấn đề và đồng lòng ra sức sửa sai những mối nguy hại tiềm ẩn nơi xã hội loài người kịp lúc.
Cụ thể là bạn thấy gì nơi giải pháp đóng cửa chính phủ Mỹ do khủng hoảng nợ công trầm trọng, vượt mức?
Niềm tin ở mọi thành phần xã hội đã từng trông chờ vào sự sáng suốt, đúng mực ở giới chính khách Mỹ gần như không còn trong lòng người dân Mỹ. Tuy nhiên, giải pháp đóng cửa chính phủ Mỹ cũng không thể giải quyết triệt để vấn đề niềm tin, sự kỳ vọng, khủng hoảng nợ công,… Chính phủ Mỹ đã buộc phải mở cửa trở lại trong sự tạm bợ, chấp vá, hoang mang.
Và tôi tin rằng vẫn chưa có một giải pháp hữu hiệu, khả thi, toàn diện, trọn vẹn nào được vạch ra kịp thời nhằm khắc phục hiện trạng khủng hoảng xã hội, khủng hoảng con người nơi đất Mỹ.
Nước Mỹ danh vọng, hào hoa,… giấc mơ đổi đời của những kẻ chăn cừu đang vật lộn với muôn vàn khó khăn, khủng hoảng chồng chất, liên hoàn.
Tại sao không có một lối thoát thực sự cho một quốc gia từng tự hào, phô diễn chứa đựng nền văn minh, tiến bộ, hiện đại, là biểu tượng phát triển toàn diện nhất của nhân loại (ít nhất là đến thời điểm hiện tại)?
(Dù rằng có rất nhiều quốc gia khác hệ thống chính trị đố kỵ, tị hiềm không thừa nhận sự tiến bộ, văn minh, hiện đại hiện diện nơi nước Mỹ. Việc làm nhằm ôm giữ niềm tự tôn, sự không tụt hậu, che đậy thực lực yếu kém trước mắt người dân, dân tộc nhằm thêu dệt niềm tự hào ảo tưởng, dễ bề thao túng lòng người. Đáng tiếc là lời nói, việc làm đã có nhiều sai biệt. Dù trước mặt không thừa nhận chỗ vượt bậc nơi đất Mỹ nhưng sau lưng lại quy thuận, theo về. Ra sức “đưa đẩy” con cháu sang Mỹ dệt giấc mơ Mỹ trong lòng dòng tộc, giống nòi. Dường như đã có một sự chối bỏ cội nguồn, tổ tiên nơi những kẻ che đậy lối sống hai lòng, ăn ở hai mặt).
Quay lại vấn đề về việc có không lối thoát sáng rõ cho sự phát triển nơi nước Mỹ. Thật vậy sẽ không có lối thoát cho người Mỹ bằng vào những giải pháp vụng về, non kém. Bởi lẽ mọi giải pháp hiện tại đều mang tính cục bộ, nửa vời. Những giải pháp dựa trên lòng tham, sự thực dụng, ích kỷ, si mê, mù quáng, hoài nghi lẫn nhau thì sao có thể giúp nước Mỹ (nói riêng), nhân loại (nói chung) thoát ra hàng loạt cuộc khủng hoảng triền miên, bất tận.
Rồi sẽ đến quốc gia nào nơi Châu Âu phơi bày sự đổ nát, lụn bại. Có rất nhiều, rất nhiều quốc gia Châu Âu ngụp lặn trong các khoản vay tới hạn. Cộng hòa Síp, Hy Lạp,… đã tan hoang. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Italy, Pháp,… đang rúng động. Đức đang ra sức che đậy quả bom kinh tế hẹn giờ phát nổ.
Hy Lạp, Italy,… đã rao bán đền, cung điện, đảo quý, đất đai nhằm cứu vãn việc bội chi.
Nhưng liệu một giải pháp kém cỏi trên có ý nghĩa, có giá trị gì khi lòng tham của con người ở mọi thành phần xã hội, nhất là nơi giới chính khách không ngừng nâng cấp?
Hơn nữa, đền đài, cung điện, đảo quý,… là tài sản dân tộc chứ nào phải tài sản tư của giới chính trị mà họ tùy tiện rao bán, chào hàng.
Nếu việc tùy tiện bán tài sản đất nước được hợp thức hóa thì mai này các quốc gia lâm vào khủng hoảng kinh tế còn gì để bán khi mà sự khủng hoảng chỉ vừa mới bắt đầu, việc quan liêu, hoang phí chưa từng được ngăn chặn hiệu quả,…?
Tại sao giới chính khách các nước tùy tiện bán mua tài sản quốc gia mà các thành phần xã hội khác, người dân không có lấy một tiếng nói để biết rằng họ có tồn tại cho công cuộc xây dựng, định hướng phát triển đất nước?
Đó là kết quả của sự bạc nhược, tự ti, yếu đuối, đánh mất giá trị con người nơi mọi thành phần xã hội kể cả giới quản lý xã hội. Gần như tất cả đã tự mặc định, tự trói nhận thức, tư duy vào thân phận “Thấp cổ, bé miệng”, hèn kém, nhu nhược. Thêm vào đó là lối sống thực dụng ích kỷ xấu xa và lòng tham không đáy đã xâm thực gần như toàn bộ xã hội loài người.
Đừng chỉ nhìn về Phương Tây, nước Mỹ - nơi đang “đắm chìm” khủng hoảng nợ công, khủng hoảng kinh tế,… Hãy quay về nơi đất nước mà bạn đã sinh ra, lớn lên bạn sẽ nhận diện được những mối nguy không dễ tháo gỡ. Những mối nguy thực thụ đang được che đậy, ém nhẹm kín kẽ, tinh vi và khi nhốt mình trong lòng tham, sự thực dụng ích kỷ con người sẽ không dễ dàng nhận diện, phát hiện.
Các khoản vay nước ngoài, khoản vay ODA đang đến hạn. 2013, 2014,… 2018, 2020 người Việt Namphải trả lãi, trả vốn gốc. Và … với sự tự tin có thừa các khoản vay luôn trong tầm kiểm soát liệu người Việt có an toàn trước cơn bão khủng hoảng nợ công?
Người dân, các thành phần xã hội ngoài thành phần chính trị dường như đã đánh mất giá trị hoàn toàn trong vấn đề điều tiết, quản lý xã hội, họ vẫn hy vọng, trông chờ sự an toàn vốn không còn sáng rõ, khả thi. Giới quản lý đất nước thì ra sức che đậy, ngụy tạo sự an toàn nhằm nắm giữ chiếc ghế quyền lực cho đến hết nhiệm kỳ. Việc về sau là việc của thiên hạ và cũng không quá khó để giải trình sự quản lý yếu kém, năng lực hạn chế cùng với việc đổ lỗi cho người.
Đến như Mỹ, Châu Âu, Nhật, Trung Quốc,… giàu mạnh là vậy còn vỡ nợ, nợ công ngoài tầm kiểm soát thì các nhà quản lý trong nước không thể thoát ra khủng hoảng là lẽ đương nhiên, từ từ rồi khắc phục.
Kết quả là giới chính trị cũng đâu mất mát gì? Có chăng là người dân, người lao động phải “gồng mình” trả nợ nước ngoài chứ các thành phần xã hội khác đâu thể tạo ra giá trị thặng dư, tiền của để xây dựng, phát triển đất nước cũng như phải trả nợ?
Nếu người lao động không còn đủ sức “gồng gánh” việc lạm phát, nợ công, bội chi ngân sách,… thì bạo loạn, đấu tranh lật đổ chính quyền, hất cẳng nhà quản lý là chọn lựa cuối cùng thường được sử dụng. Việc đổ vỡ hình thái xã hội con người là điểm đến ở mỗi quốc gia trong hiện trạng các thành phần xã hội đánh mất sự gắn kết, sống với lòng tham, sự thực dụng,…
Việc bội chi ngân sách luôn lũy tiến tăng hàng năm, lạm phát leo thang, tham nhũng khủng, thường xuyên, việc dùng tiền sai trái gây thất thoát những khoản tiền công cực lớn,… lối thoát cho khủng hoảng nợ công nơi Việt Nam vốn mịt mờ sẽ càng thêm ảm đạm, thê thảm.
Việc gia nhập WTO sẽ khiến Việt Nam mất đi những khoản thuế nhập khẩu khủng sẽ góp phần làm rệu rã ngân sách nhà nước Việt Nam.
Các khoản thuế, phí gia tăng “nhằm bù lỗ” sẽ tiếp tục “gõ” vào đầu người dân Việt và thành phần lao động công nhân, nông dân sẽ gánh đủ các khoản thuế tiêu dùng. Người dân Việt sẽ tiếp tục im lặng, gắng gượng chịu đựng cho đến khi cùng đường thì vùng vẫy, giãy dụa. Và đây là dấu hiệu báo trước cho sự đổ nát, tan hoang.
Hãy cứ im lặng, giữ sự an toàn cho cá nhân, gia đình, dòng tộc. Hãy ra sức góp nhặt, tích lũy tài sản, tiền của nhằm an toàn hậu sự và thầm mong bão khủng hoảng sẽ đến chậm, trôi vào một tương lai xa xa.
Nhưng 2014, 2015… 2018, 2019,… dường như thời gian không còn đủ dài cho ta kịp nhắm mắt, nằm xuống bỏ lại một đống đổ nát, hoang tàn cho thế hệ tương lai. Sự ích kỷ, lòng tham, sự thực dụng,… dường như không đủ đảm bảo cho sự an toàn, cá nhân, dòng tộc.
Dệt giấc mơ Mỹ, Phương Tây,… sống đời sống lưu vong liệu có kịp lúc, đúng thời và an toàn trong bối cảnh xã hội hiện tại?
Dân số Mỹ với hơn 300 triệu người và có hàng trăm ngàn triệu công chức nơi hệ thống quản lý. Dù vậy mà ngân sách quốc gia Mỹ giàu mạnh không còn đủ khả năng chi lương công chức và phải đưa ra giải pháp đóng cửa chính phủ tạm thời.
Còn Việt Namthì sao?
Với 80 triệu dân và có đến hơn 2 triệu công chức chưa kể đến hệ thống quân đội, lực lượng an ninh không chuyên. Cứ 40 người Việt thì có 1 công chức nhà nước. Và tin rằng có không đến 30 người lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất, hàng hóa nhằm nuôi sống 1 số lượng không ít những thành phần không lao động tạo ra của cải vật chất tồn tại nơi hệ thống công quyền cồng kềnh, giới kinh tế, thành phần tôn giáo, hệ thống giáo dục, lực lượng khoa học, quốc phòng, an ninh,…
Thử hỏi “Sức lao động của người lao động Việt mạnh mẽ đến nhường nào, họ đã bị bóc lột và khả năng chịu đựng ra sao?”.
Cũng như nước bạn Trung Quốc tin rằng Việt Namlà một trong những nước có hệ thống quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả nhất nhì thế giới.
Tại sao tôi lại có thể đưa ra nhận định táo bạo, dễ đụng chạm niềm tự hào dân tộc đến vậy?
Vì lẽ với 1 công chức trên 40 đầu người mà người Việt vẫn thường xuyên nghe báo cáo lực lượng mỏng, cần thêm người, xin bổ sung thêm ngân sách, quỹ dự phòng,...
Với hiện trạng trên thật khó biết lực lượng công chức cần bao nhiêu người mới là đủ, ngân sách lương công không rõ bao nhiêu là vừa, là chuẩn? Và người lao động phải “gánh” thêm bao nhiêu thành phần ăn theo, vụ lợi, cơ hội trên vai?
Vậy chẳng rõ năng lực của công chức Việt ở tầm mức nào? Nếu không nói là hệ thống công quyền cồng kềnh, kém hiệu quả thì biện giải như thế nào cho lọt tai và đúng mực?
Nếu phản biện là việc phân bố lực lượng công chức không đồng điệu, chưa đúng người, đúng việc, chỗ thừa, chỗ thiếu,… thì vai trò quản lý, điều tiết cán bộ công quyền của giới quản lý thượng tầng có giá trị, có ý nghĩa gì? Chẳng phải sẽ kéo theo năng lực giới lãnh đạo cấp cao cũng kém cỏi, cùng không hiệu quả?
Thi thoảng nghe giảm biên chế, cắt giảm chi tiêu nhưng “bóp” chỗ này lại “phình” ở chỗ kia. Cắt giảm 1 công chức nơi này thì bổ sung 2, 3 công chức không rõ năng lực ở nơi khác. Một vòng lẩn quẩn bao đời nơi hệ thống công quyền ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Tư Bản Chủ Nghĩa do nơi năng lực, nhận thức, tư duy con người chưa được phát huy đúng mực. Nhất là khi con người nơi hệ thống công quyền ngày càng trở nên biếng lười, thụ động, đánh mất giá trị con người.
Gần đây, việc cải cách giáo dục đang được chăm bẫm với những dự án, những giải pháp được thêu dệt là tổng thể, khả thi, căng cơ, toàn diện nhằm vẽ ra cái bánh vẽ phải chăng cũng chỉ nhằm vào việc rút tiền ngân sách quốc gia là chính?
Còn giá trị thật của việc cải cách giáo dục với quy mô lớn liệu có khác gì những cuộc cải cách giáo dục của vài mươi năm về trước?
Kết quả của cuộc cải cách giáo dục của hơn 20 năm về trước là gì?
Phải chăng là sự hỗn độn, rối ren, tối mắt của nền giáo dục ngày nay, là giá trị, nhân cách, đạo đức con người bị đánh mất, là ý thức hệ con người sống trong lòng tham, lối sống thực dụng, sự ích kỷ, tự ti, bạc nhược, thấp hèn, con người không còn giá trị con người,…?
Nếu những điều tôi trình bày là sai trái, không đúng thực tế thì tôi rất trông chờ sự phản biện khách quan nhằm đánh thức sự mê lầm trong tôi. Nếu tôi thật sự sai thì tôi sẽ gửi đến nhân loại lời xin lỗi chân thành và sẵn sàng chịu hoàn toàn trách nhiệm. Tôi vẫn tin rằng tôi đủ năng lực chịu trách nhiệm về những việc đã làm và sẽ ra sức sửa sai khi thật sự đã làm sai.

(Còn tiếp)