Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc (Phần 2)

4. Đức Phật dạy: “Tu là phải lìa xa ý muốn của mình”. Cái ý muốn của mình là gì? Là Bản Ngã Ác Pháp. Bản Ngã Ác Pháp không ly thì làm sao có Niết Bàn? Vô Ngã Ác Pháp là Niết Bàn, chứ không phải Vô Ngã là Niết Bàn, vì vô ngã cả ác lẫn thiện là cây đá.  [trang 41 TCB1] Đạo Phật chủ trương lấy thiện diệt ác, lấy đạo đức nhân quả làm cuộc sống của mình không làm khổ mình khổ người. Từ chỗ này chúng ta suy ra để thấy Đạo Phật không mâu thuẩn, vì Đạo Phật "Vô ngã ác pháp chứ không phải vô ngã thiện pháp". Nếu chúng ta tu hành vô ngã cả thiện pháp và lẫn ác pháp thì hóa ra chúng ta là cây, là đá; cây, đá là một loại vô tri vô giác, đó là cái vô ngã của Đại Thừa. Đạo Phật không có vô ngã như kiểu đó. (ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này có chỗ không ổn vì đã tự có mâu thuẫn bởi lẽ nếu tu mà còn dính mắc tâm phân biệt tốt xấu, thiện ác,… Siêng làm việc thiện, lìa xa việc ác thì chính cái tâm dính mắc đó sẽ khiến người tu trôi lăn nơi luân hồi sinh tử. Người học Phật chân chính còn sống là còn làm nhưng làm những điều hợp với chánh pháp, không tạo tác duyên nghiệp, không ngừng hành trì việc buông bỏ, sống không tham đắm, vọng chấp, móng cầu. Và cái bỏ tối hậu, cứu cánh để đạt sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn là phá ngã, buông bỏ cái tôi cả nghĩ thường tại mà đạt Thường An Lạc Tịnh nơi hiện kiếp. Vô ngã là sống tùy thuận chứ không là sự vô tri hay hữu tri.
5. Một người tọa thiền thân không động, miệng không nói và ý không tư duy thì giống như cây đá, đó là thiền của Đại Thừa và Thiền Đông Độ, ngược lại thiền định của Đạo Phật thân không hành ác, nhưng thân hành thiện, miệng không nói lời ác, nhưng miệng nói lời thiện, ý không suy nghĩ điều ác, nhưng ý suy nghĩ điều thiện. Cho nên nên Đạo Phật không chấp nhận hành không, không chấp nhận hành ác, chỉ chấp nhận hành thiện.  Vì vậy tu theo đạo Phật không trở thành cây đá, mà trở thành một con người hữu ích cho mình cho người, có nghĩa là không làm khổ mình khổ người, tạo cảnh sống thế gian thành cõi Cực Lạc, Thiên Đàng.....[trang 170 TCB 1]
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên.
6. Muốn triển khai Minh trí tuệ, các nhà Đại thừa và thiền Đông Độ dùng pháp hành ức chế niệm thiện niệm ác, cho tâm không niệm thiện niệm ác là định và do tâm định thì phát tuệ (chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền), bản lai diện mục hiện tiền là Phật Tánh, mà Phật Tánh là tánh giác, tánh giác tức là trí tuệ. Do những pháp hành tu tập để triển khai trí tuệ như vậy. Họ đã lầm, không ngờ đường tu tập ấy lại khai mở tưởng tuệ. Khi tưởng tuệ được khai mở thì lý luận của các nhà Đại thừa siêu việt tưởng, nên không tôn giáo nào tranh luận hơn được, nhất là lý Bát Nhã của Đại Thừa. Do lý luận siêu việt tưởng Bát Nhã nên nó đã phá luôn Phật Giáo chính gốc (vô khổ, tập, diệt, đạo). (ĐVXP-Tập 6).
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Do không khách quan, tổng thể,… mà thầy Thích Thông Lạc đưa ra những lập luận chủ quan, thiếu tầm, hẹp lượng và không hợp chánh pháp.
7. Cái sai thứ nhất của kinh sách Phát Triển và Thiền Tông là: Khi tâm hết vọng tưởng do sự tập trung ức chế ý thức mà cho là định thì định đó không phải là định của Đạo Phật, mà là định của ngoại đạo.
Cái sai thứ hai là: Trong chỗ hết vọng phát sanh sự hiểu biết, mọi người đều lầm tưởng mà cho sự hiểu biết đó là trí tuệ. Sự thật đó là tưởng tri chứ không phải trí tuệ. Đức Phật đã xác định trí tuệ ở đâu thì giới luật ở đó; mà giới luật tức là đức hạnh, cho nên người có đức hạnh là người có trí tuệ, người có trí tuệ là người có đức hạnh.
Trí tuệ hiểu biết những tưởng pháp như hiểu biết trong kinh sách Đại Thừa và các công án của Thiền Đông Độ là tưởng tuệ. Sự hiểu biết đó không ích lợi cho mình cho người. Sự hiểu biết đó chỉ là một hý luận. Từ xưa đến giờ các thiền sư dựng lên trò hý luận công án nói Đông trả lời Tây, nói Nam trả lời Bắc và còn hơn thế nữa là la, hét, chỉ, trỏ, v.v...(ĐVXP-Tập 8).
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Do không khách quan, tổng thể,… mà thầy Thích Thông Lạc đưa ra những lập luận chủ quan, thiếu tầm, hẹp lượng và không hợp chánh pháp.
8. Đọc suốt bộ kinh Kim Cang ta không thấy có một pháp hành nào cả, chỉ toàn là hý luận lý thuyết suông. Cho nên nói được nhưng chưa có ai làm được như trong kinh này. Kinh này từ xưa đến nay đã cho chúng ta ăn toàn thứ bánh vẽ......(ĐVXP-Tập 8)
Nhận định kinh Kim Cang không có pháp hành là tự có sai lầm. Không có bộ kinh nào của Phật Thích Ca thuyết nói riêng hay Giác giả trình bày mà không có pháp hành cả. Nếu không nhìn ra pháp hành là do tự thân không liễu nghĩa kinh mà thôi. Một câu “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” đã chỉ rõ phép hành phá chấp có của người đời. Nếu liễu nghĩa câu kinh trên thì người học Phật tự biết không tham đắm tài vật, sắc thân, đẹp xấu, hôi tanh, thơm tho,… vì rõ biết những cái có hình tướng đều có tánh hư huyễn, không trường cửu. Đây không phải là pháp hành thì gọi là gì. Đạo Phật chú trọng cái biết, cái hiểu. Khi nhận rõ chân thật tướng các pháp và bản thân thì người học Phật tự biết hành, tự biết sống đúng theo chánh pháp. Cũng lại như vậy “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” cũng ẩn tàng sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
9. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới không phải là chánh pháp của Phật mà là của Bà La Môn có thâm ý muốn diệt Phật giáo nên mới chế ra Bồ Tát Giới. Mục đích của Bồ Tát Giới là bộ sách có hình thức tổ chức người cư sĩ thành một tổ chức để phục vụ cho Phật Giáo Đại Thừa. Phần thứ nhất là khuyến dụ người cư sĩ thọ Bồ Tát Giới để góp công góp của xây dựng đạo pháp của Bà La Môn, nhưng sự thật là phục vụ cho quý Thầy Đại thừa: Bồ Tát Giới là một bộ sách khuyến dụ Phật tử để lừa công sức và lừa của cải, tiền bạc của họ. Bồ Tát Giới là một loại kinh sách với thâm ý diệt Phật Giáo. Quý vị đọc cho kỹ lại bộ sách thì mới thấy rõ âm mưu thâm độc của Phật Giáo phát triển Đại Thừa. (ĐVXP-Tập 8).
Vì chủ quan mà thầy Thích Thông Lạc đã có những nhận định không thật đúng. Có câu “Y pháp bất y nhân” người học Phật chân chính, đúng mực hành bồ tát giới không sai còn người học Phật làm sai chánh pháp đâu thể bắt lỗi Tam Tạng kinh là hư hỏng. Tuy nhiên, bồ tát giới do không được liễu nghĩa nên đã trở thành một trong những sợi dây trói người học Phật.
10. Kinh Duy Ma Cật là kinh phát triển của Đại Thừa. Kinh giáo Đại Thừa là kinh sách chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau và những phong tục tập quán của con người trên hành tinh này mà thành lập ra giáo lý của mình. Nó không có gì đặc biệt riêng của nó, chỉ khéo dùng những danh từ thật kêu và cũng giống như vẽ rắn thêm chân, thêm râu, khiến cho mọi người dễ bị lường gạt tưởng là rồng thật. Giáo lý Đại Thừa và Thiền Đông Độ cũng lường gạt tín đồ như vậy, tưởng là một chân lý siêu việt của Đạo Phật, nào ngờ là một giáo lý chắp vá, như chiếc áo may nhiều loại vải thô xấu....(ĐVXP-Tập 8)
Kinh Duy Ma Cật là một bộ kinh hay của Phật Thích Ca. Nếu liễu ngộ kinh này thành Phật thật không khó.
11.Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã lừa đảo mọi người. Tánh Biết, Tánh Thấy, Tánh Nghe, những tánh này là thường, lạc, ngã, tịnh, nó luôn luôn có trí tuệ diệu dụng, hằng giác, sáng suốt vô hạn, thế mà lại chui vào cái đải da hôi thúi. Thiền Sư Triệu Châu trả lời cho một thiền tăng hỏi đạo: biết mà cố phạm. Xưa Đức Phật cho những luận thuyết này là những loại luận thuyết trườn uốn như con lươn… Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh phát triển của Đại Thừa, do người sau viết ra mạo nhận là Phật thuyết, nên lối lý luận thiếu chân thật, không logic, thường mâu thuẫn, v.v... Kinh này chỉ dạy cho chúng ta thấy Phật Tánh thường hằng sáng suốt từ vô thủy cho đến nay. Tất cả chúng sanh từ loài côn trùng, cầm thú đến loài người đều có, có mà ngu như con bò, nên thường chịu khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Thà là chịu ngu như loài cầm thú còn hơn có Tánh Giác mà lại ngu thì mới buồn cười cho loại kinh sách xảo ngôn. Suy nghĩ chút xíu, chúng ta sẽ thấy rất nhiều cái sai trong kinh này. [ĐVXP-Tập 8]
Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng là một bộ kinh đáng đọc dù rằng có một sự trùng lập ý khá nhiều nơi bộ kinh. Tuy nhiên, đây cũng là một bộ kinh có tính liễu nghĩa, thông suốt. Sự rườm rà ý từ có thể là do người đời sau không liễu nghĩa nên thêm thắt, dẫn dắt những lời thừa. Nói đi thì cũng nói lại, có lẽ phần lớn kinh sách sau nhiều lần trùng tuyên đã có sự “Tam sao, thất bản” người chứng ngộ dễ dàng nhận ra những lời thừa cũng như sự liễu nghĩa trọn vẹn có nơi những bộ kinh (nếu người đó khách quan, không tự phụ cái biết chủ quan cá nhân). Thêm nữa, bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm khá trừu tượng với cách diễn giải tương đối cao nên với tri thức cạn thì người học Phật khó thể nhất thời lĩnh hội được hết nội dung hay nói cách khác là khó liễu nghĩa. Rất nên đọc nhiều lần và có lẽ nên tìm kinh Thủ Lăng Nghiêm do những dịch giả dịch thoát ý, liễu nghĩa.
12..Kinh Viên Giác không phải kinh sách Phật thuyết mà do các Tổ thuyết, nhưng các Tổ khôn khéo gán cho Phật thuyết để dễ lừa đảo tín đồ Phật Giáo và tín đồ Phật Giáo cũng dễ tin tưởng là tất cả kinh đều do Phật thuyết vì kinh sách Đại Thừa tập kinh nào cũng bắt đầu bằng câu: Như thị ngã văn nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, kỳ thọ Cấp Cô độc viên dữ ... , chỉ nội câu này cũng đủ lừa đảo người khác rồi.Kinh sách Đại Thừa nào cũng có hai phần: 1- Dụ dỗ 2- Hăm dọa.
Đoạn này đã được lý giải theo những ý ở bên trên.
13..Đức Phật Di Lặc không có, đó chỉ là một Đức Phật tưởng tượng của các nhà Đại Thừa Bà La Môn. Đức Phật Di Lặc đã được kinh sách Đại Thừa nói đến rất nhiều. Đó là một thâm ý nham hiểm của các nhà Đại Thừa Giáo, đưa Đức Phật Di Lặc ra để làm một cuộc cách mạng Phật Giáo lật đổ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thay thế bằng vị giáo chủ mới là Phật Di Lặc. .(ĐVXP-Tập 7).
Nhận định đức Phật Di Lặc không có thật là khá chuẩn nhưng thực ra chính Giác giả đã thuyết chứ không phải là gian kế của đạo Bà La Môn cũng như Phật giáo đại thừa. Tuy nhiên, lỗi này không thuộc hoàn toàn nơi các nhà truyền giáo Đại thừa mà là do nơi người học Phật (nói chung), có một sự không liễu nghĩa về vị Phật Di Lặc, không rõ dụng tâm của Phật Thích Ca khi thuyết ra pháp Di Lặc hạ sanh do vậy nên “người trong mê thường nói lời mộng”. Phật Thích Ca trình bày về sự tồn tại của Phật Di Lặc với dụng tâm khác hẳn, đó cũng chỉ là một pháp hành đơn giản, ngắn gọn mà người học Phật nên tùy thuận, là pháp Từ Bi Hỷ Xả.
14…Bởi vậy từ khi có sự hý luận của Ngài Long Thọ với Trung Quán Luận là một tai hại rất lớn cho tín đồ Phật Giáo từ thế hệ này đến thế hệ khác chỉ toàn là ăn thứ bánh vẽ cho nên không mấy vị tu sĩ đạt được giải thoát, đến khi chết không có vị nào mà không đau khổ cả, họ đều lăn lộn trăn trở trên giường bịnh một cách khổ đau không thua gì người thế tục. .(ĐVXP-Tập 9).
Nếu nhận định thế này thì pháp hành của thầy Thích Thông Lạc cũng đâu khác chiếc bánh vẽ là mấy. Cũng tứ thiền, bát định, thập nhị nhân duyên,… nhưng niết bàn có hay không? Cách để thể nhập niết bàn,… thầy Thích Thông Lạc cũng đâu từng trình bày sáng rõ đủ để người học Phật dễ dàng chạm đến bằng cái biết khách quan, đúng mực.
15. Trên đường hoằng hóa độ sanh, Thượng Tọa bộ tuy cố giữ gốc Nguyên Thủy, nhưng vì các vị tu hành chưa chứng đắc nên có sự kiến giải trong giáo lý ấy bằng trí tuệ học giả hoặc bằng những kinh nghiệm chưa đến nơi đến chốn như: Thiền sư Mahàsi, Thiền sư A-Chaan-chah. Hai Ngài có những bài kinh soạn theo kiến giải kinh nghiệm tu hành của mình như: Mặt Hồ Tĩnh Lặng, Thiền Minh Sát Tuệ, v.v... Làm sai ý nghĩa và giáo pháp của Đức Phật rất lớn..Vì tu hành chưa tới nơi tới chốn, nên các Ngài biên soạn những loại kinh sách này vô tình đã để lại cho loài người trong hiện tại và mai sau những tai hại rất lớn, làm hao tài tốn của và phí cả cuộc đời của hậu học chẳng ích lợi gì, khi họ theo tu những pháp môn này. Trong thế kỷ này, tín đồ Phật Giáo khắp năm châu bốn biển đua nhau tu tập thiền Minh Sát Tuệ. Tu tập thiền này phải tập trung theo cơ bụng (Phồng, xẹp) nhằm diệt vọng tưởng. Loại thiền ấy thuộc về thiền ức chế tâm nó không phải là thiền của Đạo Phật.....(ĐVXP-Tập 8)
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Cũng là những nhận định thiếu tính khách quan, hợp chánh pháp, hợp lòng người. Những nhận định mang nặng tính cá nhân, cảm tính.
Về ý thầy Thích Thông Lạc nói “không có linh hồn” thì có lẽ là đã có một sự nhầm lẩn nào đó. Có thể người lược trích nhận định này đã không viết đủ đầy ý của thầy Thích Thông Lạc muốn trình bày hoặc có thể thầy Thích Thông Lạc bị sự cứng nhắc, cực đoan khi dùng từ Phật học. Thực ra nếu không có sự tồn tại linh hồn thì lấy cái gì mà chúng sinh nơi 3 cõi 6 đường trôi lăn trong sinh tử, quy luật nhân quả. Nếu không có linh hồn thì Tam Tạng kinh đã trở nên vô nghĩa rồi. Có thể thầy Thích Thông Lạc không thừa nhận khái niệm linh hồn mà muốn dùng khái niệm thần thức theo cách trình bày của đạo Phật. Linh hồn, thần thức, vong, hình thần,… tất cả cũng đều chỉ chung cái hiện trạng còn lại sau khi con người hay loài vật đã chết, cái mà sau này tôi sẽ gọi là Tâm ý sự sống cho sáng rõ, đúng mực hơn phù hợp với khoa học và tri thức đương đại hơn.
Bổ sung thêm ý về nhận định của thầy Thích Thông Lạc về sự không có Phật A di đà, Bồ tát Quán Thế Âm, Địa Tạng Vương Bồ tát cũng như hàng loạt vị Phật, Bồ tát khác,… sự không tồn tại cõi giới Tây Phương cực lạc. Tôi thừa nhận về nhận định trên của thầy Thích Thông Lạc là chuẩn, là đúng.
Để cho vấn đề đơn giản lại tôi chỉ xét vấn đề Phật A di đà và cõi Tây Phương cực lạc. Nếu đứng trên phương diện tổng quan và dựa trên kinh sách ta sẽ dễ dàng nhận ra hằng hà sa chư Phật, Bồ tát đều do Phật Thích Ca tuyên thuyết. Điều này có ý nghĩa gì? Thực ra mỗi vị Phật đều ẩn tàng một pháp hành mà Phật Thích Ca đã sáng suốt lồng ghép vào. Mục đích của việc lồng ghép pháp hành vào những bộ kinh có các vị Phật, Bồ tát là nhằm giúp con người dứt trừ đau khổ cả hai mặt thân và tâm, tiến đến là sự tăng trưởng trí tuệ cũng như việc tự liễu thoát sinh tử nơi mỗi người chứ không lệ thuộc, nhờ vả ai cả. Mục đích Phật Thích Ca sáng rõ là vậy nhưng người đời sau lầm lạc ý kinh, không liễu nghĩa Tam Tạng kinh nên bị kinh điển trói chặt dẫn đến mê tâm, cuồng tín.
Những bộ kinh liên quan đến Phật A di đà đều không quan trọng ở nội dung bộ kinh điển đó mà là ở nơi căn nguyên Phật Thích Ca thuyết bộ kinh đó. Phật Thích Ca thuyết kinh A di đà khi hoàng hậu Vi Đề Hi tìm đến người trong tình trạng suy sụp hoàn toàn, không còn thiết sống nữa. Sở dĩ hoàng hậu Vi Đề Hi rơi vào trạng thái khủng hoảng cùng cực là do bà phải tận mắt chứng kiến con bà - Vua A Xà Thế bức tử cha ruột - Vua Tần Bà Sa La. Vì lẽ đó hoàng hậu chẳng còn thiết sống nữa, bà tìm đến Phật cũng chỉ là sự mong cầu Phật hóa giải hận thù trong lòng vua A Xà Thế và tạm xem như là “cứu rỗi” linh hồn chồng bà, vua Tần Bà Sa La lẫn chính bà. Là một người giác ngộ hoàn toàn Phật Thích Ca đã nhận thấy sự rệu rã tinh thần ở hoàng hậu, nếu không có một biện pháp “sốc dậy” tinh thần hoàng hậu thì e rằng hoàng hậu sẽ đau khổ và chóng chết. Đứng trước tình cảnh một người sắp chết đuối Phật Thích Ca đã đưa ra một chiếc phao cứu sinh và Phật A di đà, cõi Tây Phương cực lạc chính là chiếc phao đó. Dụng tâm của Phật rất rõ ràng, cần phải cứu người sắp chết đuối lên bờ chứ không thể đứng ở mé sông mà thuyết pháp cho người sắp chết đuối. Khi cứu thoát người khỏi chết đuối rồi thì hoàng hậu sẽ có nhiều hơn cơ hội lĩnh hội chánh pháp, sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Khi đã làm chủ sinh tử, sáng rõ lối đi và khi ở trên bờ an toàn rồi thì người có hiểu biết, người tỏ ngộ phải chăng là sẽ không ôm giữ mãi chiếc phao cứu sinh giờ đã không còn cần thiết nữa.
Tuy nhiên, về sau người học Phật nhận lầm ý kinh. Cộng với việc ảnh hưởng phép Tu Tiên của đạo Lão người học Phật lầm đường ngỡ rằng cõi Tây Phương cực lạc là thật có nên ra sức hoằng dương Tịnh độ tông làm mê tâm, rối mắt người đời sau. Người học Phật sáng rõ chánh pháp sẽ tự biết niết bàn là không có nơi chốn để về, Tây Phương cực lạc chỉ là một pháp ẩn dụ của Phật Thích Ca mà thôi.
Song do mê tâm người học Phật ngày nay cũng như phần đông Tăng bảo tin rằng cõi Tây Phương là có nơi chốn để về chuyên tu. Thật đáng tiếc thay! Do vọng tưởng như vậy nên cõi Tây Phương huyễn cảnh được dựng lập nơi thế giới tâm linh. Cõi Tây Phương cực lạc đã có sự tương tợ cõi Tiên, cõi Trời,… người học Phật về đây an nhàn được một khoảng thời gian nhất định, tùy thuộc vào định lực, định tâm rồi cũng sẽ lại trôi lăn nơi sinh tử luân hồi ở 3 cõi, 6 đường. Lời này của tôi không sai với chánh pháp bởi lẽ còn sinh là còn tử, không thể khác được.
Có một sai lầm nơi nhận thức cũng như việc tự đánh tráo khái niệm ở người tu theo pháp môn Tịnh độ, từ đó họ tự “lừa người, dối mình”. Họ cho rằng chết nguyện vãng sanh cực lạc sẽ được Phật A di đà tiếp dẫn về Tây Phương tiếp tục tu học và thành Phật mà không phải chết thêm lần nữa. Được không với sự đúng mực, rõ ràng “Còn sinh ắt còn tử”. Thực ra, “Vãng sanh cực lạc” được dịch liễu nghĩa sẽ là dừng lại việc sinh tử sẽ đạt được sự an lạc tột cùng.
Thêm nữa, Phật A di đà, Phật Thích Ca hay bất kỳ một vị Phật nào đều cũng có hiệu Như Lai. Như Lai là không đến, không đi vậy Phật A di đà sao có thể tiếp dẫn người học Phật theo pháp môn Tịnh độ về Tây Phương và lại còn giảng đạo, thuyết pháp nữa. Đừng hiểu lầm tâm Phật.
Xem ra tôi đã viết khá nhiều, khá rõ về hiện tượng Thích Thông Lạc.Có lẽ cũng đã đến lúc nên dừng lại. Việc đúng sai ở nơi lòng mỗi người vậy nên mọi người hãy thư thả xem và xét lại.
Nếu có chỗ nào tôi trình bày sai với chánh pháp thì rất mong được mọi người bổ khuyết! Tôi rất cảm ơn những ý kiến mang tính đóng góp xây dựng.
Nếu còn có chỗ nào gút mắc, chưa rõ thì mọi người cứ góp ý tôi sẽ hoàn chỉnh lại bài viết.
Chúc mọi người thân tâm an lạc, sớm liễu nghĩa Tam Tạng kinh, sáng rõ chánh pháp ngõ hầu có một cuộc đời an nhiên, tự tại và có thể làm chủ sinh tử luân hồi. Trân trọng!

Cám ơn Diệu Tâm, Minh Quân cùng mọi người đã chia sẻ bài viết và thư ngỏ!

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc (Phần 1)

Thư ngỏ của BBT Thư viện Hoa sen
Hoa Kỳ ngày 16-6-2003
Kính gửi các bậc Tôn Túc, quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,…
Kính gửi quý Cư sĩ Phật tử,
Kính thưa quý vị,
Trong những tháng vừa qua Phật tử cũng như không là Phật tử Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đã được tiếp cận với đạo Phật qua các bài thuyết giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc, Viện chủ Tu Viện Chơn Như ở Trảng Bàng, Tây Ninh, Việt Nam trên mạng lưới điện toán toàn cầu và qua các sách in ấn của Tu Viện Chơn Như. Một số đông đã thư về cho ban biên tập chúng tôi hỏi ý kiến về pháp tu cũng như đường hướng hoằng pháp của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Họ bầy tỏ niềm hoang mang trước những lời giảng rất khác thường của Hoà Thượng, bởi vì Hoà Thượng Thông Lạc là một trong mười đệ tử đầu tiên của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, mà HT. Thanh Từ lại chính là một đại Thiền sư của Phật Giáo Việt Nam, người hiện đang hoằng dương Đại Thừa Thiền Tông, rất nổi tiếng trên khắp thế giới. Ngoài ra, chính HT. Thông Lạc cũng tự xưng mình đã chứng Tứ Thiền, đắc Tam Minh và đã được Hòa Thượng Thanh Từ ấn chứng, đồng thời còn yêu cầu HT. Thông Lạc trụ thế, như sau:
 “…Hòa Thượng Thanh Từ sau khi đã ấn chứng Thầy chứng quả Thiền Tông, yêu cầu Thầy trụ thế, và duyệt lại kinh sách để cùng Hòa Thượng CHẤN HƯNG THIỀN TÔNG. ..” [TL-0]
Vì sự trường tồn của Phật Giáo và trước những hoang mang của Phật tử, nên chúng tôi trân trọng kính gửi thư này xin quý vị từ bi hoan hỷ cho biết tôn ý về việc Hoà Thượng Thông Lạc cho rằng từ các kinh điển Đại Thừa như các kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, kinh Viên Giác, kinh Bát Nhã, kinh Phạm Võng, kinh Duy Ma Cật; tới chư vị Tổ Sư như các Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ v.v. [TL-8] của các truyền thống Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, và Tịnh Độ là ngoại đạo, là Bà La Môn giáo, trà trộn vào Phật giáo để đánh phá đạo Phật, biến Phật Giáo thành một thứ tà giáo ngoại đạo. [ĐVXP-T2] Hoà Thượng Thông Lạc cho biết Hoà Thượng đã bị chư Tổ lừa gạt và lầm lạc pháp môn ngoại đạo (Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông) và khuyên các Phật tử không nên đi vào con đường tu lầm lạc đó. [ĐVXP-T5] 
Trước những cáo giác Phật Giáo Đại Thừa và chư Tổ Phật giáo từ Tây Trúc đến Việt Nam là tà giáo ngoại đạo, ban biên tập Thư Viện Hoa Sen và Nguyệt San Liên Hoa Điện Tử do chúng tôi chủ trương đã thận trọng và âm thầm tìm hiểu xem từ nguyên nhân nào mà bỗng nhiên lại có hiện tượng một vị sư phát biểu như thế, nhưng vẫn chưa tìm ra được manh mối một cách rõ ràng. Trong khi chờ đợi, chúng tôi đã không phổ biến các tài liệu diễn giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Tuy nhiên, trước những lời mạ lỵ quá nặng nề của Hòa Thượng dành cho kinh điển và chư Tổ Phật Giáo Đại Thừa, nhiều đạo hữu đã gửi tới chúng tôi những tài liệu mà chúng tôi xin đính kèm sau đây, trích trong một số bài giảng tiêu biểu của Hoà Thượng Thông Lạc để quý vị tham khảo.
Chúng tôi rất mong quí vị hoan hỷ góp ý kiến vì đối với một tôn giáo thì vấn đề kinh điển và nhân cách của chư vị Tổ Sư truyền giáo là vấn đề lớn, cần phải được chiếu rọi cho rõ ràng, tránh cho Phật tử bị rơi vào tình trạng hoang mang. 
`Xin quý vị thư về cho ban biên tập chúng tôi.
Trân trọng kính chào và kính chúc quý ngài vạn sự cát tường.
Kính thư,
Ban Biên Tập

Tâm Diệu

Trong một dịp tình cờ tôi đọc được bài viết Về sư Thông Lạc, GHPGVN im lặng mới là “Hiện tượng” của Minh Quân và bài viết Thư ngỏ của BBT Thư Viện Hoa Sen do Tâm Diệu viết thể hiện sự quan tâm về hiện tượng hành giả Thích Thông Lạc. Tôi nhận ra sự mong mỏi có tính cầu thị, bi thiết nơi những bài viết, cùng với những chia sẻ bên dưới mỗi bài viết đã thể hiện người học Phật chân chính đang những mong có được câu trả lời thích đáng, đúng mực, hợp lý cho hiện tượng Thích Thông Lạc ở những người viết và mọi người. Do nhân duyên đó hôm nay tôi sẽ viết bài viết Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc dựa trên cái biết đúng thật, khách quan. Có lẽ cái đúng này không là của riêng tôi mà đó là cái đúng trong lòng mọi người.
Thông qua bài viết của Minh Quân tôi được biết thầy Thích Đức Thắng có bài viết liên quan đến thầy Thích Thông Lạc nhưng nghe chừng bài viết rời rã, thiếu tính thuyết phục. Lại thấy bài viết của thầy Toàn Không tôi có ghé qua xem phần bài 1 nhưng xem chừng cũng chỉ là những câu chữ được xếp hình. Vì lẽ đó tôi không xem tiếp và bắt đầu cho bài viết Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc.
Trước hết, tôi sẽ trả lời cái ý thể hiện nơi bài viết của Minh Quân “Tại sao GHPGVN lại im lặng trước hiện tượng Thích Thông Lạc?” hay nói theo cách của người viết là “Sự im lặng của GHPGVN mới thật là hiện tượng”.
Thầy Thích Thông Lạc vốn là một vị hành giả có hành trì, có sự chứng ngộ nhất định nên thật không dễ phản bác lại những phát ngôn có tính quyết liệt và có phần cực đoan, bảo thủ ở sư Thích Thông Lạc. Bên cạnh đó, GHPGVN phần nhiều là những học giả Phật giáo, số ít có sự chứng ngộ chưa đạt mức liễu nghĩa Tam Tạng kinh. Thế nên, sự hiểu biết của những sư thầy đại diện cho GHPGVN là không đủ sức để tranh biện cùng sư Thông Lạc ngõ hầu làm sáng rõ vấn đề, sáng rõ chánh pháp, sáng rõ đạo Phật. Do vậy GHPGVN đành chọn sự “im hơi, lặng tiếng” để đứng ngoài cuộc chơi nhằm mục đích “Tránh voi không xấu mặt nào”. Tuy nhiên, họ không thể nghĩ, không thể ngờ cũng không dám thừa nhận sư Thích Thông Lạc vốn là một bậc Long Tượng của đạo Phật.
Thực tế là GHPGVN không đủ tầm để phản biện, chất vấn sư Thích Thông Lạc, họ bị cột trói nơi mớ giáo lý có phần hỗn độn, không liễu nghĩa nơi kinh sách, có rất nhiều điều liên quan đến đạo Phật nằm ngoài tầm nhận thức, tư duy và cả sự hiểu biết của họ. Chính do có sự không sáng rõ giáo lý Tam Tạng kinh, những gốc khuất hiện có nơi đạo Phật cũng như ưu khuyết điểm của thầy Thích Thông Lạc mà GHPGVN đành thúc thủ trước hiện tượng Thích Thông Lạc. Đứng trước chọn lựa tranh biện với thầy Thích Thông Lạc nhằm bảo vệ cái đúng dựa trên cái biết không chắc chắn, không rõ ràng thì sự im lặng đã được chọn.
GHPGVN im lặng không phải vì “Im lặng là vàng”, im lặng là vì “Ta đúng hơn” mà là vì “Tự biết không thể đối đầu thầy Thích Thông Lạc”.
Và cho dù GHPGVN có phản biện, chất vấn lại thầy Thích Thông Lạc thì vấn đề cũng sẽ chẳng đi đến đâu, chánh pháp cũng chẳng thể sáng rõ hơn.
Vì sao?
Vì cả hai - Thầy Thích Thông Lạc và GHPGVN - đều không sáng rõ chánh pháp, không tường tận vấn đề. Khi tranh biện xảy ra ai cũng sẽ bảo vệ kiến chấp của mình để khẳng định tôi đúng nhất để rồi cả hai đều có không ít điểm sai.
Vì Minh Quân có ý mong rằng người đóng góp bài viết cho hiện tượng Thích Thông Lạc nên có những lập luận chuẩn xác, đúng mực dựa trên kinh Nikaya nên tôi sẽ nói thêm ý này góp ý cùng Minh Quân và cả mọi người. Thực ra chánh pháp không là kinh Nikaya, thế nên những lập luận có tính đúng mực, logic, hợp lý dựa trên cơ sở biện chứng khách quan, sáng rõ hợp lòng người, đúng chánh pháp là được, là ổn, không cứ gì phải dựa vào kinh điển nhiều dễ gây rườm rà, rối mắt người đọc.
Nhân tiện, tôi cũng trình với mọi người. Nếu đạo Phật là chánh pháp thì những gì liên quan đến đạo Phật cần phải sáng rõ, khách quan, đúng mực và không có góc khuất. Thế mới là chánh pháp. Chánh pháp thì không thể mê tâm, cuồng tín. Cho dù là trình bày vấn đề ở hữu hình hay vô hình thì vấn đề cũng phải được trình bày rõ ràng, minh bạch và tường tận. Nếu thỏa những điều kiện đó thì đạo Phật mới thật sự là chánh pháp, đáng để người đời tham học và gìn giữ.
Tiếp đến, tôi sẽ xét lại vị trí của thấy Thích Thông Lạc, mức độ chứng ngộ của thầy Thích Thông Lạc ở các tầng bậc thiền.
Thầy Thích Thông Lạc là một vị hành giả là sự thật. Thầy đạt được sự chứng ngộ nhất định cũng là một sự thật. Tuy nhiên, thầy chưa đạt đến quả vị A la hán cũng là một sự thật. Có thể nói thầy Thích Thông Lạc đạt tầm mức chứng ngộ cao hơn các vị thầy đương thời thông qua sự “ra đi” có phần tự tại của thầy. Dù không rõ trình độ học vấn của thầy nhưng tôi tin rằng thầy không là người học cao, hiểu rộng (Trước khi xuất gia, trước lúc chứng ngộ). Sau khi có dịp tham cứu Tam Tạng kinh cùng việc ngồi thiền thầy đạt được sự chứng ngộ nhất định kèm với khả năng rút thần thức ra khỏi xác thân vật chất. Từ đó, thầy nhận ra sự khác biệt của cá nhân với cách tu học của những người đồng tu cùng sư thầy Thích Thanh Từ, thầy nhận ra phương pháp thầy đang hành có sự sai khác với tôn sư và có khả năng pháp hành cá nhân có chỗ vượt trội, nhanh chóng chứng đắc hơn pháp hành của thầy Thích Thanh Từ.
Có lẽ đã có những trao đổi có tính chất thẳng thắn, quyết liệt giữa thầy và thầy Thích Thanh Từ. Kết quả là thầy Thích Thanh Từ không đồng thuận với những pháp hành mang tính cá nhân của thầy Thích Thông Lạc. Ngược lại, thầy Thích Thông Lạc cũng không tán đồng cách thức xây dựng thiền tông theo đường hướng của thầy Thích Thanh Từ, những cách biện giải của thầy Thích Thanh Từ đã không còn lấy được niềm tin, sự kỳ vọng của thầy Thích Thông Lạc. Đất không chịu trời, trời không chịu đất nên thầy Thích Thông Lạc rời khỏi dòng thiền do thầy Thích Thanh Từ khơi nguồn trở lại. Về sau thầy Thích Thông Lạc tự lập thiền phái và môn quy mà thầy cả nghĩ rằng đúng mực hơn.
Nếu đứng trên góc độ tổng thể, khách quan để xét về yếu tố tự lập thiền môn, viết sách bày tỏ sự không đúng của dòng thiền do vị thầy tiền bối Thích Thanh Từ dày công xây dựng đủ thấy thầy Thích Thông Lạc có sự chứng ngộ nhưng chưa phá ngã thành công, có dấu vết của sự phản kháng mang tính cá nhân. Do quá tự tin vào sự hiểu biết cá nhân (sau khi được khai mở) thầy đã cả nghĩ cái biết của thầy là đúng nhất, khác với cái biết của thầy là sai cả, ngã kiến thật sự rất lớn, từ đó thầy Thích Thông Lạc đã viết nên cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc.
Dựa vào tư tưởng có nơi sách cùng những bài viết của thầy Thích Thông Lạc ta dễ dàng nhận ra thầy có những thiên kiến, phiến diện, chủ quan rõ rệt trong cách hành văn, lập luận cũng như dẫn chứng. Có một sự cứng nhắc, cực đoan, bảo thủ và cả sự mâu thuẫn mơ hồ nơi lập luận của thầy. Thầy đặc biệt thiên lệch về dòng tu nguyên thủy, cũng như kinh điển Tiểu thừa - Nikaya, sự vướng chấp này đã khiến thầy bị cái tôi - ngã trói cho đến tận cuối cùng. Thật sự thầy chưa liễu ngộ chánh pháp, chưa thông suốt Tam Tạng kinh.
Lấy giới làm thầy cũng có thể xem là một sai lầm của thầy Thích Thông Lạc. Bởi lẽ giới chỉ là trợ pháp cho sự thành tựu chứng ngộ chứ không phải là cứu cánh của đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, mà giác ngộ chính thật là sự hiểu biết sáng rõ, khách quan, đúng mực. Thế nên, đến với đạo Phật là đến với sự hiểu biết minh bạch, cùng tận, tổng thể chứ không hẳn chỉ dùng giới làm thầy mà có thể thành Phật, thành Tổ.
Có lẽ chính do giới hạn tri thức căn bản cùng việc rơi vào đại ngã mà thầy Thích Thông Lạc không thể tránh khỏi việc cực đoan, quá khích khi phơi bày cũng như chỉ trích các pháp môn tu khác mang danh nghĩa đạo Phật. Có thể nói khi theo thầy Thích Thanh Từ học thiền thầy Thích Thông Lạc có niềm tin rất lớn nơi thầy Thích Thanh Từ nhưng về sau khi thầy chứng ngộ thì sự hiểu biết của thầy Thích Thanh Từ đã không còn đủ sức để dung chứa, hóa giải những mối nghi cũng như sự hiểu biết tâm linh mới mẻ trong lòng thầy Thích Thông Lạc. Những mâu thuẫn nội tâm cũng như những xung đột tư tưởng tế nhị thầy Thích Thông Lạc rời thầy Thích Thanh Từ và từ đó “con ngựa bất kham” đã không còn có người đủ sức cầm cương. Ngã kiến ngày càng lớn do ta luôn đúng nên dần dà thầy Thích Thông Lạc ra sức “vạch lá, tìm sâu” ở các tôn giáo thuộc đạo Phật đương đại.
Do là người có sự chứng ngộ thật sự nên thầy Thích Thông Lạc đã dũng cảm chỉ ra những cái đúng, cái sai của đạo Phật đương đại mà thầy nhận diện được. Thầy đã không ngần ngại “Chỉ mặt, đặt tên” những chỗ không ổn có nơi đạo Phật ngày nay. Từ đó, với những phát ngôn, lập luận mang tính thẳng thắn, quyết liệt thầy đã phần nào chỉ ra những cái sai có thật nơi đạo Phật, sự thẳng thắn, bộc trực xen lẫn tính cực đoan, quá khích thầy Thích Thông Lạc phần nào tạo ra dấu ấn riêng cũng như gây ra sự hoang mang trong lòng người học Phật ngày nay.
Như đã nói ở trên, do giới hạn nền tảng tri thức căn bản ban đầu cùng với ngã kiến sâu nặng nên không phải tất cả những điều thầy Thích Thông Lạc trình bày đều đúng cả. Thật ra đã có những điểm sai lầm then chốt, có những mâu thuẫn nơi các phát ngôn của thầy, đã có sự tiền hậu bất nhất và không thể dung hòa.
Nếu tinh ý ta vẫn có thể tìm thấy dường như có sự mâu thuẫn nhất định giữa các bộ kinh do Phật Thích Ca thuyết. Song kỳ thực đó không là sự mâu thuẫn mà có một sự liên kết có tính tổng thể, đồng nhất nơi các bộ kinh, bộ kinh này góp phần làm sáng rõ bộ kinh kia, rất hài hòa. Trong khi đó, sách mà thầy Thích Thông Lạc trình bày có những sự vướng mắc, không có lối ra. Chung quy lại nếu khônglà sự chỉ trích, phản bác thì cũng chỉ là những “lời hay, ý đẹp” thường có nơi giáo lý của phần lớn tôn giáo. Lối thoát khỏi luân hồi sinh tử không rõ ràng, niết bàn có không chẳng được trình bày sáng tỏ,…
Nếu thầy Thích Thông Lạc thành tựu việc phá ngã thì thầy sẽ sáng rõ một điều là chánh pháp không chỉ có nơi kinh điển Nikaya nguyên thủy. Ngay nơi kinh điển đại thừa cũng có những pháp hành ẩn tàng giúp người liễu nghĩa an lạc, thoát khổ, giải thoát hoàn toàn ngay nơi hiện đời chứ không cần đợi đến chết mới về Niết bàn tịch diệt. Không chỉ vậy! Chánh pháp có ở tất cả mọi nơi, có trong lòng mọi người chứ chánh pháp không hề bị nhốt trong giới hạn kinh Nikaya nguyên thủy.
Nhìn chiếc lá, bông hoa, đám mây, dòng nước,… người học Phật hoàn toàn có thể tìm được chánh pháp, trực nhận được Tam Tạng kinh. Cụ thể ngay nơi chiếc lá, dòng nước,… có sự sinh tử, luân hồi, vô thường, duyên, các pháp… Quán chiếu thâm nhập được tự tánh của chiếc lá, của đám mây,… hành nhân hoàn toàn có thể chứng ngộ pháp vô sinh không sinh, không diệt.
Chỉ bằng những luận chứng bên trên thì hiện tượng Thích Thông Lạc xem như đã được giải mã hoàn toàn.
Tiếp theo, tôi sẽ trình bày thêm sự ưu khuyết, đúng sai nơi những lập luận mang đậm tính cá nhân của thầy Thích Thông Lạc do Tâm Diệu, đại diện BBT Thư viện Hoa Sen trình bày trong thư ngỏ về hiện tượng Thích Thông Lạc.
Trích từ thư ngỏ của Thư viện Hoa Sen do Tâm Diệu trình bày cùng với những giải mã ngắn gọn, đơn giản và hiệu quả.
1.Phật Giáo Đại Thừa không phải là Phật Giáo chánh thống, mà là Phật giáo theo kiểu kiến giải giáo pháp của Bà La Môn. Hay nói cách khác, Phật Giáo Đại Thừa là đạo Bà La Môn lấy tên là Phật Giáo Đại Thừa để lừa đảo tín đồ Phật Giáo. Cho nên nghĩa lý toàn bộ kinh sách Đại Thừa là Giáo pháp của Bà La Môn chính gốc. .(ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này không hoàn toàn đúng vì thực tế là nội dung phần lớn Tam Tạng kinh đều có sự liễu nghĩa, thông suốt. Sự thông suốt này thể hiện nội dung kinh điển phải do một Giác giả thực sự chứng ngộ hoàn toàn mới có thể trình bày viên dung, toàn bích đến vậy. Đạo Bà la môn do dính mắc sự tồn tại của đại ngã nên khó thể thông suốt sự giải thoát hoàn toàn, rời xa sinh tử luân hồi.
2. Thiền Đông Độ không phải là của Phật Giáo mà là của Lão Giáo Trung Hoa (Tiên Đạo) Tư tưởng Lão Trang Trung Hoa phát triển, có những điểm tương đồng với tư tưởng kinh sách phát triển Đại Thừa Giáo Ấn Độ. Vì thế, sau này Phật giáo Đại Thừa đồng hóa tư tưởng Lão Giáo lấy tên là Phật Giáo Tối Thượng Thừa" hay còn gọi là "Thiền Tông". Chủ trương của Thiền Tông là kết hợp Lão Giáo và Đại Thừa, nên thường gọi là "Thiền Giáo đồng hành". ...(ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này chỉ đúng ở chỗ là đã có sự giao thoa, hòa trộn giữa đạo Phật và đạo Lão nhưng riêng yếu tố giác ngộ, giải thoát hoàn toàn vẫn còn được gìn giữ nơi Thiền tông, yếu tố giác ngộ giải thoát hoàn toàn tư tưởng có nơi đạo Lão - Trang chưa thể chạm đến, do còn sự móng cầu có nơi chốn để về sau khi chết, có việc rèn luyện hình thần, thánh thai để rời khỏi thân xác. Thật ra thầy Thích Thông Lạc cũng hành trì chạm đến xuất thần thức rời thân. Việc dùng ngôn từ có khác nhưng vốn dĩ chỉ là một, nhưng do trói vào định kiến nên thầy Thích Thông Lạc cả nghĩ là khác nên đưa ra lập ngôn có phần không thông.
Về lý thì tên gọi tôn giáo, đạo gì mà chẳng được. Điều quan trọng là giáo lý của tôn giáo đó có đưa đến sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, có là chánh pháp, chánh đạo hay không…
3..Khi về họp ở Tỉnh Hội Phật Giáo Tây Ninh, ông Trưởng Ban Tỉnh Hội đề nghị tôi biên soạn giáo án Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Pháp Hoa Tông và Thiền Tông. Trong buổi họp hôm đó, tôi đưa ra ý kiến và vạch rõ bốn tông phái này không phải của Phật Giáo mà của Bà La Môn Giáo: 
a- Tịnh Độ Tông là pháp môn mê tín, lừa đảo giới tín đồ bình dân, biến tu sĩ thành những ông Thầy tụng, Thầy cúng tế làm những điều mê tín, phi đạo đức. Các vị Thầy này phá giới luật Phật tận cùng, có một lối sống giống như người thế tục, có vợ con, làm tất cả các nghề nghiệp để sanh sống.
b- Mật Tông là pháp môn tà thuật, huyễn hoặc lường gạt tín đồ nhẹ dạ, ham mê thần thông, biến ông Thầy thành Thầy phù thủy, Thầy bùa, Thầy pháp, v.v... 
c- Pháp Hoa Tông là pháp môn phi đạo đức, ngồi không mà muốn làm giàu, làm ác mà muốn trốn tránh tội lỗi, biến ông Thầy thành một vị Bà La Môn chuyên tế lễ, cúng bái, cầu khẩn van xin v.v... Biến Đạo Phật thành thần giáo. Biến tín đồ mất sức tự chủ, luôn luôn sống trong tha lực, tựa nương vào thần quyền, do thế mới sản xuất ra Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn.
d- Thiền Tông là pháp môn ngã chấp, lý luận có logic, dễ lừa đảo giới trí thức, biến Phật Giáo vô ngã thành Phật Giáo hữu ngã trừu tượng, mơ hồ, biến thiền sư thành giảng sư, luận sư, v.v...
Sau buổi họp đó các Thầy trong Ban Tri Sự Tỉnh Hội báo cáo về Giáo Hội Trung Ương và Thầy tôi tức là Hòa Thượng Thanh Từ. Tôi biết rất rõ điều đó, nhưng tôi không ngại, là vì tôi xác định: Những gì tôi nói là sự thật, vì sự thật thì còn để mọi người suy ngẫm, chứ sự thật mà dối gạt được ai sao? [ĐVXP-Tập 7].
Nhận định này có phần cực đoan, quá khích, tâm phân biệt sâu nặng nhưng lại không đạt được sự khách quan. Nhận định trên không hoàn toàn sai nhưng cũng lại chẳng đúng hoàn toàn.
Về vấn đề này, tôi tạm không lý giải vì thấy cũng không cần đến mức phải lý giải tận cùng. Nếu sau bài viết này mà mọi người vẫn muốn rõ tường tận thì mở lời, tôi sẽ trình bày thêm sau.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Viết tiếp blog Một thoáng Phương Đông

Lẽ ra Hãy là đường xưa mây trắng bay… đã kết thúc chỉ với bấy nhiêu thôi nhưng rồi sách đã không được nhà xuất bản Tổng hợp, nhà xuất bản Trí Việt - First New hỗ trợ vấn đề xuất bản. Khi tôi đặt câu hỏi “Phải chăng nội dung sách có vấn đề, có điều không ổn?” thì tôi không nhận được câu trả lời đủ để thuyết phục. Bộ phận tiếp nhận và trả bản thảo đã né tránh trả lời những câu hỏi mang tính trực tiếp, thẳng thắn, Thế nên tôi đành hiểu rằng họ sợ trách nhiệm, họ không đủ can đảm để gánh vác những câu trả lời có tính trách nhiệm cao với tri thức nhân loại, họ trốn chạy những điều có phần nằm ngoài sự hiểu biết, khả năng tư duy, nhận thức của họ. Thà rằng họ dịch thuật, chuyển ngữ những bộ sách nước ngoài đã tạo được tiếng vang trong lòng người đọc hơn là mạo hiểm với một quyển sách được viết bởi tâm huyết của một người bản địa. Vậy nên bộ sách mà First New (Trí Việt) từng đeo đuổi là Hạt giống tâm hồn có là gì, đó chỉ là cơm áo gạo tiền, danh lợi của những người công tác nơi hệ thống truyền thông, họ cần bầu sữa mẹ để sống, họ chưa đủ chững chạc, trưởng thành để đối diện với sự hiểu biết của chính họ.
Biết vậy tôi đã một phen bôn ba ra Hà Nội để gửi sách cho chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết,… và cả quốc hội. Tuy nhiên, tôi đã không có duyên gặp được những người lãnh đạo nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những người làm công tác bảo vệ đã nói rằng “Nếu muốn gửi … đến các vị đương kim lãnh đạo đất nước thì con đường duy nhất chỉ có thể là gửi bưu điện”. Và tôi đã gửi sách bằng con đường bưu điện đến các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam nhưng xem chừng chỉ là một quyển sách nên không đủ để các vị bận lòng.
Sau đó, được sự góp ý của vài người bạn thì sách Hãy là đường xưa mây trắng bay… với nội dung sơ khởi ban đầu được hoàn chỉnh thêm với phần 2 cùng lần lượt 4 đến 8 quyển sách liên quan tạo nên bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người”. Toàn bộ nội dung bộ sách cũng được gửi trình quốc hội cùng chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội cùng thủ tướng chính phủ. Và câu trả lời từ giới lãnh đạo đất nước Việt Nam cũng chỉ là một khoảng không vô nghĩa.
Tôi đã xét lại nội dung bộ sách và không tìm được những điều sai trái, tôi cũng không nhận được những phản biện từ các bên liên quan thể hiện sự chỉ trích, đánh giá tính tiêu cực nơi bộ sách. Vì lẽ đó tôi quyết định chuyển nội dung sách lên blog Một thoáng Phương Đông.
Hãy là đường xưa mây trắng bay… với phần I Đạo đời hỗn độn và chuyển tiếp qua phần II với tiêu đề Viết lại sự hiểu biết của loài người cùng lời bạt:
Xuyên suốt phần I, tôi đã trình bày quyển sách với vai trò của một người hiểu đạo, giữ đạo. Do vậy tôi đã tạo nên một khối hỗn độn, mập mờ về đời và đạo. Tôi đã chịu sự ảnh hưởng về tư tưởng trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử; Và hai câu chí tình mà Lão Tử vì Khổng Tử đã nói. Tôi sẽ trình bày sơ lược về câu chuyện lâu xa này.
Khi Khổng Tử đến gặp và mời Lão Tử cùng ra sức giúp dân, giúp nước, giúp triều đình - Nhằm đem lại nền thái bình, thịnh trị cho xã hội. Lão Tử đã thoái thác với nguyên do là ông đã nhận ra sự mục nát, bạo ngược của vua chúa lúc bấy giờ. Khổng Tử đã trích lời các bậc minh quân như vua Nghiêu, vua Thuấn,... để khuyên giải, chiêu dụng.
Lão Tử nhận ra Khổng Tử quá hăm hở, cậy tài, cố thể hiện bản thân qua việc chăn dân, trị quốc, bình thiên hạ ở trong thời loạn lạc - Dân tình khốn khó, các nước phân tranh, cướp hại lẫn nhau, giới cầm quyền các nước thì suy đồi, bạo ngược - Nhận biết sự ham muốn thể hiện của Khổng Tử là rất nguy hại. Lão Tử đã có lời:
Những người ông nói đó, thời thịt xương tan nát cả rồi, chỉ còn lời của họ thôi. Hàm ý nói rằng những điều mà các cổ nhân dạy đã không hoàn toàn đúng, không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Xã hội hiện đang rối ren, loạn lạc, chiến tranh triền miên,… là do sự vô đạo, trái đức của các ông vua hôn quân; Thế nên, ông không dại dột làm kẻ tôi trung. Vả lại người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân đất.
Lão Tử nói tiếp:
Tôi lại nghe người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quí, ra vẻ như không có gì cả: Người quân tử đức cao thì dung mạo như ngu độn. Thế nên, ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục; Cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi. Những cái đó không có ích lợi gì cho ông đâu.
Tuy nhiên, Lão Tử vẫn rõ biết Khổng Tử có thiện chí “Vì dân, vì nước mà đến” nên khi tiễn biệt đã lại thêm một lần nữa khuyên giải với ý mong muốn Khổng Tử quay về giữ đạo, không nên làm tôi, làm quan lại ở triều đình phong kiến vô đạo, trái đức, coi mạng người dân như cỏ rác,… Những người làm tôi trung sẽ không biết sống chết khi nào, không thể làm chủ mạng sống của chính mình. Lão Tử nói:
Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân nghĩa tiễn nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi mình là người nhân nghĩa mà tiễn ông bằng lời này “Kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người; Kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy hại tới thân vì hay nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì giữ mình cả”.
Sau lần gặp Lão Tử, Khổng Tử đã phải thừa nhận với các học trò rằng:
Loài chim, ta biết nó bay được; Loài cá ta biết nó lội được; Loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Nhưng đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay, ta gặp Lão Tử, ông ta là con rồng chăng?
Ngoài việc bị ảnh hưởng tư tưởng giữ đạo của Lão Tử, tôi còn khép mình vào trong những khuôn phép giới điều của các tôn giáo - Việc giữ niềm tin, đức tin cho các tín đồ và nguyên tắc ứng xử trong cuộc sống. Thế nên tôi đã không vượt ra khỏi thân phận của người giữ đạo.
Mặc dù tôi cũng nhận ra có những sự gượng ép khi mà việc trình bày lại không thể hiện được hết sự thật về bước đường tìm đạo, hành đạo của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi lại nhận biết - Nếu những sự thật này không được tỏ bày thì có những việc sẽ mãi là nghi vấn, nhân loại sẽ mơ hồ không nhận ra chân giá trị của Tam tạng kinh.
Vấn đề này sẽ hạn chế số người tìm đạo, học đạo, hành đạo. Việc này lại liên quan đến sự an nguy, tồn tại của loài người.
Tôi vẫn hiểu rằng “Khi những sự thật này được phơi bày cũng sẽ góp phần chứng thực thế giới tâm linh thực sự tồn tại”. Đây cũng là chìa khóa để đảm bảo sự tồn vong của trái đất và nhân loại.
Cho đến khi nhận biết được thông điệp là “Đè bẹp sự phát triển và từng bước loại bỏ Phật giáo”, tôi sực tỉnh “Tôi không phải là người giữ đạo. Vô Ưu đi trong phi đạo”. Thế nên, điều tôi cần làm là trái đạo, là phá cho tan hoại những gì không thật nhằm góp phần làm sáng rõ sự thật.
Một lời gửi đến những người học Phật. Hãy nên đến với đạo Phật bằng sự hiểu biết giác ngộ. Nếu chỉ dừng lại ở niềm tin, đức tin và sự sám hối thì những người học Phật có khác gì những tín đồ của các tôn giáo khác.
Điểm cao tột của giáo lý, kinh điển Phật là sự hiểu biết, giác ngộ về cuộc sống. Điều này sẽ mang lại cho người học Phật sự hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại và sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Lời tri ân của Vô Ưu đến Lão Tử:
Lão Tử! Tôi đã học ở ông những điều rất hay và bổ ích. Tôi nhận biết hai câu nói của ông rất chí tình. Nhưng ông đã dừng lại ở vai trò người giữ đạo và truyền đạo. Vô Ưu không là người giữ đạo. Thế nên, tôi nhận ra “Nếu đã là người thì ai mà không phải chết. Chỉ có người chết mới không chết mà thôi".

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Lá thư thứ 2 gửi ông Tập Cận Bình và đồng sự

Ngày 30 tháng 05 năm 2014
Gửi ông Tập Cận Bình cùng giới lãnh đạo tối cao của đất nước Trung Hoa!
Chào ông Bình! Để việc trình bày được giản tiện tôi sẽ xem việc viết thư gửi cho ông cùng giới lãnh đạo tối cao của đất nước Trung Hoa như là cuộc đối thoại với riêng ông bởi lẽ cho đến thời điểm hiện tại ông vẫn đang là đại diện hợp pháp của giới lãnh đạo đất nước Trung Hoa.
Thật đáng tiếc cho những việc làm của ông cùng đồng sự đã gây ra trên biển đông. Quả thật là tôi đã có sự thất vọng về ông. Cho đến thời điểm hiện tại tôi thật không biết nên dùng danh xưng gì để gọi ông cho phải lẽ. Nhưng thôi tôi sẽ vẫn gọi ông là ông cho phải lễ với cương vị chủ tịch nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa.
Nhìn vào cách hành xử của ông nơi biển đông thì tôi biết lá thư đầu tiên tôi gửi cho ông đã chưa đến được những nơi cần đến. Đáng tiếc thay!
Có một người đã hỏi tôi với đại ý rằng:
- Liệu lá thư tôi viết có đến được tay ông? Liệu có ai dịch lá thư của tôi gửi đến ông không? Thật sự là dụng ý của tôi có phải là gửi những thông điệp tôi viết đến ông hay là gửi đến người khác?
Tôi đã trả lời:
- Câu trả lời cho câu hỏi bạn hỏi tôi vốn đã có trong lòng bạn. Tôi viết để cho người cần đọc, thích đọc tham khảo thế là đủ. Còn việc ông Tập Cận Bình hay người khác mà bạn đề cập đến nếu có cơ may xem qua thì càng tốt. Tôi viết chỉ mong người đọc xem qua rồi nhìn nhận lại mọi việc mà có những thái độ, cách ứng xử, hành động tùy thuận, thích hợp mà thôi.
Thôi hãy bỏ qua cuộc trao đổi của tôi với người bạn mà quay về với chính đề của lá thư thứ 2 tôi viết gửi cho ông.
Ông thấy sao? Ông đã “sa lầy” nơi biển đông, việc tiến thoái đã trở nên lưỡng nan. Thật khó cho ông và đồng sự. Giá như ông được tham khảo qua sách Trung Hoa, còn mãi một tình yêu; Hãy là đường xưa mây trắng bay…; Tùy bút luận xưa nay - Tập 3 hoặc chỉ đơn giản là việc được đọc qua bài viết Thư gửi ông Tập Cận Bình được tôi viết vào ngày 24 tháng 01 năm 2013 thì ông đã không phạm những sai lầm ngớ ngẩn và đáng tiếc.
Ông cùng thành phần lãnh đạo đất nước Trung Hoa đã gây ra tình hình căng thẳng trên biển đông, dấn thân vào việc leo thang xung đột chỉ vì kế sách “Mượn trời qua biển”, kế sách nhằm vào việc thanh trừng các tổ chức, lực lượng đối lập trong nước mà không bị công luận thế giới chỉ trích về việc vi phạm nhân quyền. Ông đã cả nghĩ đấy là một nước cờ lưỡng toàn kỳ mĩ, vừa “đánh sập” những tổ chức đối lập, vừa có thể “lấn lướt” các quốc gia cận kề lãnh hải, lãnh thổ nhưng sự thật là ông đang phạm sai lầm nghiêm trọng. Hình tượng người Trung Hoa khí tiết, trung nghĩa đã bị hủy hoại bởi chính do ông cùng giới lãnh đạo tối cao của đất nước Trung Hoa. Ông đang đánh mất phẩm giá của chính mình, ông bộc lộ cho nhân loại thấy rằng ông là một con người tham lam vô độ, vừa ngang ngược, tráo trở vừa manh động, hiếu chiến,… Đó quả thật không thể là hình ảnh của một vị lãnh tụ ở một đất nước Trung Hoa rộng lớn với nền văn hiến mang tính nhân văn truyền thống lâu đời.
Như tôi đã từng nói cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực biển đông sẽ ngay lập tức chặn đứng tham vọng của ông và cá nhân tôi cũng không cho phép ông cùng giới lãnh đạo Trung Quốc gây ra việc xáo trộn nền hòa bình thế giới.
Giàn khoan HD 981 ông hãy nên mau chóng kéo về và cũng hãy nên trả lại những vùng lãnh thổ, lãnh hải vốn dĩ không thuộc về đất nước Trung Hoa. Đó xem như là một hành động sửa sai cho những việc làm nông nổi, sai quấy vừa qua.
Hoa Kỳ, cộng đồng quốc tế, các nước quanh khu vực biển đông đã lên tiếng thể hiện rõ lập trường. Ông cùng giới lãnh đạo đất nước Trung Quốc rõ thật đang bị dồn vào đường cùng. Hoặc là chấp nhận việc sửa sai, rút giàn khoan HD 981 về nước hoặc là việc “Phóng lao phải theo lao”, tiếp tục manh động, châm ngòi nổ cho một cuộc chiến tranh khu vực dù biết trước kết quả người Trung Quốc sẽ thua. Lịch sử của liên quân 18 nước cùng ngồi mâm chia xẻ cái bánh Trung Hoa sẽ được tái hiện và còn hơn thế nữa.
Ông hãy nên nhớ rằng người dân Trung Hoa sẽ bỏ rơi ông vì chính ông đã hủy hoại hình tượng, khí tiết của dân tộc. Ông đừng cứ mãi ôm mộng tưởng hão huyền họ sẽ “kề vai, sát cánh” cùng ông bởi vì ông là vị lãnh tụ đáng kính của họ. Thật sự là không phải vậy. Ông và họ đang sống cách biệt ở hai tầng trời xa vợi. Ông và giới lãnh đạo Trung Quốc thật sự đã nghĩ nhiều hơn cho chính mình, cho tổ chức đảng của riêng ông. Họ đã thất vọng cách hành xử của ông, điều đó thể hiện rõ qua việc ra đời ngày các nhiều các tổ chức đối lập đưa ra những yêu cầu ly khai, tự trị. Đã có những cuộc đánh bom thể hiện rõ lập trường phản kháng cực đoan, quá khích và nếu ông cứ mãi ôm giữ sự bảo thủ, cục bộ cùng việc thẳng tay đàn áp các tổ chức đối lập ngày một trở nên tinh về chất, nhiều về lượng thì e rằng đất nước Trung Hoa sẽ chìm sâu vào khủng hoảng rạn nứt, “nồi da, xáo thịt”. Thêm vào đó, việc nhùng nhằng nơi biển đông sẽ khiến ông cùng giới lãnh đạo Trung Quốc lâm vào cảnh “Lưỡng đầu thọ địch” hay nói cách khác là “Thù trong, giặc ngoài” thì liệu có lối thoát nào cho ông.
Xuống thang nơi biển đông, một lời xin lỗi gửi đến toàn thể người dân Trung Hoa cùng nhân loại có lẽ là điều ông nên làm lúc này. Và sau đó, ông nên thoái vị để giữ lại chút phẩm giá, danh dự, sự tự tôn nơi chính mình. Đó là điều ông nên làm, ông bạn Tập Cận Bình ạ!
Tôi có thể khiến ông phải rời khỏi vũ đài chính trị ngay cả khi tôi chưa đặt chân đến đất nước Trung Hoa. Ông nghĩ điều này tôi có thể làm được không, thưa ông? Tôi biết rằng tôi đủ khả năng làm điều đó nhưng làm điều đó được gì?
Nếu lá thư này được gửi đến ông thì ông hãy đọc suy tư, nghiền ngẫm và xét xem ông nên làm gì cho hợp với lòng ông. Cũng chỉ có 2 phương án cho ông chọn lựa. Một là xin lỗi cùng thoái vị. Hai là tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược một đất nước kề cận Việt Nam; một đất nước nhỏ bé hơn về diện tích, ít hơn rất nhiều về con người; một đất nước cũng đang tồn tại một sự đoàn kết giữa các thành phần, tầng lớp xã hội rời rã, chán ngán cùng một tinh thần tự hào dân tộc ở đầu môi.
Tuy nhiên, ông hãy tin rằng người Trung Hoa sẽ thất bại nơi một cuộc chiến tranh phi nghĩa bởi lẽ ngay nơi đất nước Việt Nam cũng như ở chính đất nước Trung Hoa luôn có những người sẵn sàng ra sức ngăn chặn tham vọng ngông cuồng, nông nổi của giới lãnh đạo ở mỗi nước, đó là tham vọng chiến tranh, tham vọng phá vỡ nền hòa bình, ổn định nơi nhân loại. Và tôi cũng đã sẵn sàng cho việc chặn đứng tham vọng bá quyền của ông cùng đồng sự. Nhưng tôi sẽ không cầm súng ra chiến trường để bắn giết người Trung Hoa, tôi sẽ không dùng súng để bắn vào đầu đồng loại. Nếu chiến tranh xảy ra thì tôi sẽ ra chiến trường để cho người Trung Hoa mặc tình bắn giết, tôi đến chỉ để xem quân đội Trung Hoa khát máu đến nhường nào. Tháng 6 năm 2013, lẽ ra tôi đã sang Tử Cấm Thành dập tắt tham vọng ngông cuồng của ông trên biển đông. Đáng tiếc rằng tôi và giới lãnh đạo của dân tộc tôi cũng đang sống cách biệt giữa 2 tầng trời. Thế nên, tôi đã lỗi hẹn lời hứa đến Tử Cấm Thành và nếu… Chiến tranh giữa Việt Nam - Trung Quốc xảy ra thì tôi đành phải đến Tử Cấm Thành để kết thúc chiến tranh vì người Trung Hoa, người Việt Nam và vì nhân loại.
Cho dù với ngôn thuyết sắc bén, ngông cuồng không kém ở nơi tôi khiến lòng ông cùng giới lãnh đạo Trung Hoa căm phẫn thì ông cũng rất nên tỉnh táo trong từng hành động của chính mình. Nếu muốn tôi trả giá cho những điều đã viết thì điều đó không quá khó. Tôi đã rất sẵn sàng cho việc kết thúc. Cho dù ngày mai này ông hay một ai đó muốn tôi đến đất nước Trung Hoa “đền” tội thì tôi cũng sẽ đến để nhận lấy “quả” đã tạo. Và hãy xem như là chúng ta không còn ai nợ ai. Nếu bộ sách Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người ra đời đúng tiến độ thì sẽ chẳng có ai vì một cái chết của tôi mà gây khó cho ông cùng giới lãnh đạo Trung Hoa bởi lẽ đơn giản đó chỉ là chọn lựa của chính tôi
Có lẽ đến lúc đó thì nhân loại sẽ biết tôi đến Trung Hoa không chỉ vì lòng tự tôn, khí tiết người Trung Hoa. Vô Ưu đến vì một điều gì đó lớn lao hơn.
Thôi tôi tạm dừng lá thư ở đây. Thật sự là gần đây tôi không có nhiều thời gian cho mỗi bài viết. Tôi muốn viết nhiều hơn để cùng ông tháo gỡ những khó khăn nội tại nơi đất nước Trung Hoa nhưng thời gian thật sự không thuộc về tôi. Nếu có điều kiện tôi sẽ viết cho ông lá thư thứ 3. Trước hết, ông hãy xem 2 lá thư tôi đã vì ông, vì người Trung Hoa,… mà viết. Hy vọng những lá thư sẽ sớm đến tay ông. Nếu điều đó xảy ra thì biển đông sẽ thôi không dậy sóng cuồng, những việc hành xử sai lầm sẽ mau chóng được sửa sai.
Tạm biệt, ông Bình!
Người viết thư

Vô Ưu cẩn bút

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Thư gửi ông Tập Cận Bình

Ngày … tháng … năm …
Gửi Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc - Tập Cận Bình!
Lệ đầu thư tôi gửi lời chúc mừng ông trên cương vị mới, người đứng đầu Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chúc ông sáng suốt lèo lái con tàu đất nước đi đúng hướng, phát triển bền vững, xóa dần khoảng cách giàu nghèo giữa các thành phần, tầng lớp xã hội ở đất nước Trung Quốc.
Với góc nhìn của tôi thì việc ông gánh lấy trọng trách người đứng đầu đất nước Trung Quốc trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội,… đang phân hóa sâu sắc ở trong nước cũng như trên thế giới sẽ là một áp lực không nhỏ cho việc điều hành, quản lý đất nước.
Tôi được biết ông là người ủng hộ nền kinh tế thị trường nhưng lại khá thận trọng đối với việc cải cách chính trị,… Đối với vấn đề biển Đông dường như ông vẫn theo đuổi quan niệm của những người tiền nhiệm.
Nay tôi mạo muội viết một lá thư gửi ông mong rằng ông sẽ lưu tâm đến những vấn đề tôi đã trình bày. Tôi viết thư gửi đến ông với tư cách là một người bạn của người Trung Hoa.
Có lẽ ông cũng đã nhận thức được trọng trách nặng nề khi phải điều hành một đất nước với 1,3 tỷ người trong cơn bão suy thoái kinh tế thế giới. Áp lực dân số tăng nhanh, áp lực duy trì tăng tốc nền kinh tế, áp lực các phong trào đấu tranh đòi ly khai, tự trị,… áp lực lòng người bấn loạn do lối sống thực dụng len lõi vào mọi thành phần xã hội, nạn hối lộ, tham nhũng lan tràn đã làm xấu đi hình ảnh Đảng Cộng Sản Trung Quốc,…
Tôi sẽ vì người Trung Quốc, vì ông mà nhắc lại một bài học quý giá, có giá trị xuyên suốt, đúng mực từ nguồn tri thức cổ của người Trung Hoa xưa. Hiển nhiên là tôi sẽ làm mới cách dịch giải cho phù hợp với bối cảnh xã hội hiện tại. Dù vậy tôi sẽ khách quan giữ lại ý gốc, không làm sai lạc ý chính của tri thức người xưa.
Đại Học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc.
Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ.

Đạo của người ham học hỏi sự hiểu biết khách quan, sáng rõ nói chung, của người làm chính trị nói riêng là làm cho gốc đức ở con người sáng rõ, khách quan, đúng mực. Muốn làm sáng rõ đức ở con người, của người làm chính trị thì phải đổi mới gốc hay nói cách khác đó là làm mới tư duy, nhận thức con người bằng việc nâng cao sự hiểu biết của con người, khi sự hiểu biết con người đạt đến sự khách quan, đúng mực, rõ ràng thì con người tự nâng tầm hợp tác, việc gắn kết của người dân với thành phần lãnh đạo đất nước sẽ chặt chẽ biểu hiện ở việc chung tay quản lý xã hội - kinh tế - chính trị. Muốn sự hợp tác, gắn kết chặt chẽ giữa người dân với chính quyền thì phải hướng con người ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội đến với nhau bằng sự chân chất, thành thật, bằng vào sự hiểu biết đúng mực và sự đồng điệu cảm thông.
Khi con người ở mọi tầng lớp, thành phần xã hội có sự hiểu biết đúng mực và sự đồng điệu thì xã hội tự ổn định, cân đối hài hòa. Khi lòng người ổn định thì xã hội sẽ không còn rối ren, bất ổn, khi tình hình kinh tế - xã hội - chính trị không còn rối ren, biến động thì lòng người tự an ổn, khi mọi việc an ổn thì lòng người sẽ rộng mở, sự hiểu biết sẽ ngày càng tăng trưởng khách quan, khi sự hiểu biết tăng trưởng thì con người sẽ sống được với sự hiểu biết tổng thể, khách quan, đúng mực, lúc bấy giờ con người mới có thể sống bình đẳng, chan hòa bằng tình người yêu thương chân thành.
Vật có gốc ngọn, việc có đầu cuối, khi con người có sự hiểu biết rõ ràng tuần tự, thứ lớp trước sau ở mọi sự vật, mọi vấn đề,… thì con người sẽ có sự hiểu biết và cách hành xử đúng mực, khách quan, khi đó con người sẽ gần với đạo, nuôi dưỡng đức.
Người xưa muốn làm sáng rõ đức ở con người thuộc mọi tầng lớp xã hội thì trước phải trị quốc yên ổn, thái bình. Muốn trị quốc tốt thì trước phải tề gia, giữ gia đình êm ấm, hạnh phúc, trên dưới thuận hòa. Muốn tề gia đúng mực thì trước phải tu thân, sửa mình. Muốn tu thân, sửa mình thì trước phải chính tâm, giữ cho tâm luôn đúng đắn, ngay thẳng. Muốn giữ tâm ngay thẳng thì trước phải thành ý - gọt dũa, trui rèn cho ý trở nên thành thật. Muốn ý chân thành thì trước phải trí tri - biết tới nơi tới chốn, biết rõ mọi việc. Muốn biết rõ mọi việc mà không phạm sai xót, lỗi lầm thì người tu thân phải coi trọng việc cách vật - phân tích, suy xét sự vật. Khi phân tích, đánh giá, xét đoán sự vật khách quan, đúng mực thì chí tri. Chí tri thì ý thành. Ý thành thì tâm chính. Tâm chính thì thân tu. Thân tu thì gia tề. Gia tề thì quốc trị. Quốc trị thì thiên hạ bình. Muốn bình thiên hạ thì từ thành phần lãnh đạo cho đến người dân chúng, tất cả đều lấy tu thân làm gốc. Gốc loạn mà trị ngọn thì không thể được. Cái dày dặn mà xem mỏng manh, xem nhẹ, cái mỏng manh mà xem dầy dặn thì thật không ổn, thật kém hiểu biết. Đó gọi là biết gốc, là biết tới nơi tới chốn, là hiểu biết sáng rõ. Nếu không rõ biết gốc thì chẳng thể trị ngọn, gốc loạn mà đi trị ngọn thì sao có thể nói là làm việc đúng mực, giải pháp toàn vẹn. Gốc loạn biểu hiện nơi lòng người đang rơi vào thực trạng đức rã, đạo suy,… Gốc loạn mà trị ngọn thì cầm chắc thiên hạ đại loạn, quốc gia suy vong, gia đình đổ vỡ, lòng người ly tán, oán thán.
Thưa ông Bình! Ông nghĩ sao? Tri thức có nơi đạo Khổng hiện còn có giá trị đến ngày nay không?
Phải chăng đất nước Trung Hoa đang rơi vào vòng xoáy của chủ nghĩa thực dụng, lòng người đang rời đạo, bỏ đức, khủng hoảng tình yêu thương chân thành, không vụ lợi trong lòng người ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội đang tiến đến cực điểm?
Ông sẽ giải quyết việc khủng hoảng nội tâm trong lòng người Trung Quốc bằng vào giải pháp nào?
Phải chăng lại tiếp tục tham vọng độc chiếm biển Đông với các quốc gia lân cận?
Việc làm chôn vùi khí tiết dân tộc Trung Hoa, việc làm gây công phẫn trong nhân loại về cách hành xử ngang ngược, ngông cuồng, tráo trở của giới lãnh đạo Trung Quốc, việc làm trái đức, vô đạo, bất nhân, bất nghĩa,…
Liệu xác suất độc chiếm được biển Đông của giới lãnh đạo Trung Quốc là bao nhiêu phần % khi lòng người ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội đều sống vị kỷ, tự tư, tự lợi,…?
Vì lòng người dân mất niềm tin về khả năng lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nên đã liên tiếp nổ ra các cuộc đấu tranh đòi ly khai, tự trị của người dân ở các vùng Tân Cương, Ninh Hạ, Tây Tạng, Nội Mông,… Lẽ nào giới lãnh đạo Trung Quốc lại tiếp tục chính sách độc tài, cực đoan, bảo thủ,… thảm sát những người đấu tranh vì người dân đòi quyền lợi chính đáng, đòi quyền sống bình đẳng, đòi phân chia giá trị thặng dư của người lao động chân chính một cách hài hòa, đúng mực hơn,…
Tại sao giới lãnh đạo Trung Quốc không xét lại việc “Vì sao người dân bị lôi cuốn vào các cuộc đấu tranh đòi ly khai, tự trị bất kể mạng sống?”?
Phải chăng là việc tham nhũng vượt mức ở một lượng không nhỏ trong hàng ngũ Đảng cộng sản Trung Quốc, trong thành phần lãnh đạo đất nước đã đánh mất lòng tin của người dân đối với việc Đảng cộng sản Trung Quốc?
Nhân dịp đó các tổ chức, lực lượng đối lập mới có thể lôi kéo tạo ra ngày càng nhiều cuộc đấu tranh lớn nhỏ.
Ông Bình! Ông nên nhìn lại xem xem “Có phải phần lớn cán bộ công chức mà nhất là thành phần bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch, các vị trưởng phòng,… từ cấp tỉnh thành, huyện xã đều nhà cao, cửa rộng, tài sản trong nước, ngoài nước khó mà tính đếm?”. Con cháu học hành ở những trường danh tiếng, du học nước ngoài,…
Lẽ nào thành phần cán bộ công quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc đều là những người tài giỏi cả về chính trị lẫn kinh tế. Nhưng nếu mà nhận định như thế thì làm sao trả lời câu hỏi “Tại sao người lao động, người dân Trung Hoa lại phần đông sống trong đói nghèo, đời sống quẩn bách, khốn cùng, oán trời, trách đất?”.
Thành phần kinh tế, diễn viên, ca sĩ, vận động viên,… thì giàu sụ với lượng tài sản khổng lồ là những nhà triệu phú, tỷ phú thế giới còn người lao động thì bữa đói, bữa no, chiếu chăn không ấm,… thế hệ trẻ thất học tràn lan, tham gia băng nhóm xã hội đen,…
Thêm nữa, dù là Đảng cộng sản Trung Quốc chịu ảnh hưởng chủ nghĩa duy vật đã từng ra sức triệt tiêu các loại hình tôn giáo mà hiện nay lại có thêm càng nhiều tổ chức tôn giáo mới lạ ra đời. Khi cuộc sống khốn khó, nội tâm bất an con người thường tìm về ngôi nhà tâm linh, nương náu tâm hồn. Người Trung Quốc ngày càng siêng năng cầu nguyện, cúng bái, lễ lạy, mong mỏi tâm linh trong tuyệt vọng. Có không ít tổ chức tôn giáo “mượn đạo, tạo đời” hoặc tổ chức, xây dựng lực lượng đối lập. Khiến xã hội Trung Quốc đã rối càng thêm loạn, phải chăng đây cũng là một bài toán khó mà ông phải giải?
Có lẽ ông cần phải thừa nhận sai lầm của đảng cộng sản Trung Quốc ở thời kỳ đầu khi ra sức đàn áp, xóa bỏ các loại hình tôn giáo. Từ đó, giúp người dân tìm hiểu, nhận biết ngôi nhà tâm linh một cách có khoa học, sáng rõ, tránh rơi vào mê tín dị đoan. Chỉ khi đó thì lòng người dân mới dần thoát ra bấn loạn, yếu đuối, bạc nhược, làm chủ nội tâm của chính mình. Việc làm đó sẽ góp phần giúp xã hội thoát ra khủng hoảng nội tâm, thoát ra vòng xoáy của chủ nghĩa thực dụng, ích kỷ, đánh mất tình người,…
Các khoản vay tới hạn, bất động sản, hệ thống tài chính ngân hàng không có dấu hiệu khôi phục, nền kinh tế đang trượt dốc do khủng hoảng nợ công Châu Âu, khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng và khủng hoảng lòng người của người Trung Hoa,… Lại một bài toán khó giải cho ông.
Giải pháp độc chiếm biển Đông không thể là giải pháp tối ưu. Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn theo đuổi kế hoạch không tưởng đó thì chỉ e rằng Đảng cộng sản Trung Quốc khó thể tiếp tục lãnh đạo đất nước Trung Hoa.
Nay tôi đã vì ông cùng người Trung Quốc chỉ ra không ít sai lầm. Nhận diện sai lầm đã là khó khăn, tìm ra giải pháp toàn vẹn khắc phục sai lầm lại càng không dễ dàng. Tôi mong rằng lá thư này sớm đến tay ông và ông có sự chú tâm đến những điều tôi đã trình bày.
Với sự chân thành góp ý của một người bạn, tôi nghĩ ông nên chuyển giao lại quần đảo Hoàng Sa, những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa cùng những vùng lãnh hải, lãnh thổ đã chiếm đóng về cho đúng chủ. Là một người đứng đầu hàng ngũ lãnh đạo đất nước Trung Quốc ông càng phải nên thể hiện là một người có sự hiểu biết khách quan, sáng rõ, đúng mực, không thể vì bất cứ lý do gì mà làm một việc làm tổn đức, hại đạo. Vì lẽ người lãnh đạo đất nước với 1,3 tỷ người không thể là một người kém đức.
Ông Bình! Ông hãy tự tôn trọng mình và coi trọng khí tiết dân tộc Trung Quốc. Nếu ông cần tôi góp ít lời cho sự ổn định, bền vững đất nước Trung Quốc thì tôi sẽ chân thành gửi đến ông những lời đóng góp đúng mực, khách quan.
Cuối thư tôi chúc ông khỏe mạnh, sáng suốt trong những quyết định quan trọng khi quản lý, lãnh đạo đất nước. Chúc ông đảm bảo giữ được sự lãnh đạo đất nước bằng đảng cộng sản Trung Quốc.
Tái bút:
Hy vọng ông có thể là một người bạn đáng tin cậy của tôi và người dân Trung Hoa. Mong rằng sẽ có người nhận ra chút ít giá trị của lá thư này mà chuyển ngữ cũng như chuyển đến những nơi cần đến. Cảm ơn bạn rất nhiều!
Một lần nữa tôi trân trọng gửi lời nhắc nhở đến những nhà chính trị, những nhà quản lý xã hội nói chung, ông Tập Cận Bình nói riêng: Đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ dựa vào học thuyết chủ nghĩa duy vật và khoa học mà có thể làm tốt việc quản lý, lãnh đạo đất nước, an định lòng người vì đó thật sự là điều không tưởng. Nếu vẫn bảo thủ với quan điểm cứng nhắc, sự hiểu biết phiến diện, kém cõi của một số ít người thì tôi e rằng chiếc ghế lãnh đạo, quản lý đất nước đã đến hồi đổi chủ. Tôi khách quan xác nhận lại điều này vì lẽ thế giới tâm linh, cõi giới vô hình là thật có và quả thật giữa thế giới vật chất và thế giới vô hình có những mối gắn kết, những tương tác không thể tách rời. Nghiêng về bất kỳ bên nào cũng đều sẽ khiến xã hội rối ren, lòng người bấn loạn. Trong khi hiện tại, nhân loại đang rơi vào việc những người theo chủ nghĩa duy tâm đang giành lại sức ảnh hưởng đối với đời sống nội tâm con người. Nếu nhân loại không mau chóng thừa nhận sự tồn tại thế giới vô hình, tìm hiểu thế giới tâm linh dựa trên cơ sở logic, khoa học, cũng như nền tảng duy vật biện chứng thì con người sẽ dễ rơi vào hiện tượng cuồng tín, mê tín dị đoan, từ bỏ lao động, thánh chiến,… Xã hội con người lại thêm một lần chìm nổi trong “Con nước ròng, con nước lớn” của 2 dòng học thuyết chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm.

Người viết thư
Vô Ưu cẩn bút
Chú thích: Đây là bài viết được post lại từ một bài viết cũ nơi blog. Bài viết sẽ làm lời dẫn cho bài viết tiếp theo Lá thư thứ 2 gửi đến ông Tập Cận Bình.