Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Linh hồn là cái giống gì?

Có một linh hồn giàu có đang dưng dưng tự đắc vì sự thịnh vượng của gia tộc. Tình cờ linh hồn giàu có gặp một linh hồn nghèo khó co ro, ủ rủ bên vệ đường. Bất chợt lòng thương hại trỗi lên gã nhà giàu bắt chuyện:
-         Chết là hết rồi. Anh bạn buồn khổ mà làm gì?
Linh hồn nghèo khó thành thật:
-         Tui sống cả đời lao động vất vả, mệt nhoài. Tay làm, hàm nhai. Kết quả là cho đến khi chết đi chẳng để lại cho người thân được món gì có giá trị cả. Ngoại trừ thằng con ngoan hiền, hiếu thảo,…
Linh hồn quý tộc cười nhạo:
- Đó là trò đùa của số phận. Ta thì cả đời ít khi làm động đến móng tay. Chỉ cần vài cú áp - phe là tiền đầy kho, tình đầy túi. Của ngon, vật lạ ta ăn không thiếu món gì nhưng ta thấy cũng thường thôi. Ta chết đi còn để lại cho con cháu một núi gia sản khổng lồ, dư dả cho chúng ăn chơi hoang phí, trác táng,…
Linh hồn nghèo khó ra chiều buồn bã, bất lực và đâm chiêu suy nghĩ. Hồi lâu, gã bật cười sung sướng, gã nhà giàu thấy lạ hỏi:
- Anh ngộ ra điều gì mà ra chiều vui thế?
Linh hồn nghèo khó nói:
- À… thì ra là tui làm được nhiêu, ăn nhiêu. Sống không hoang phí và nuôi dạy được con nên người. Vậy nên xem như tui cũng sống một cuộc đời đáng sống, có ý nghĩa.
Linh hồn nhà giàu nghe vậy thì kết luận:
-         Xem ra anh sống cũng có ích.
Sau đó, linh hồn giàu có trở nên tư lự. Gã nghĩ đến khối tài sản kết xù mà gã tích lũy, gom góp cả đời mà gã chưa từng trọn hưởng. Gã cảm thấy sự mất mát, bị lỗ vốn. Gã nghĩ đến lũ cháu con vô tích sự đang ra sức ăn chơi sa đọa, trụy lạc hủy hoại gia tài của gã. Đúng là lũ phá gia chi tử.
Linh hồn nhà giàu nghĩ đến đấy lòng buồn não nề. Thấy vậy, linh hồn nghèo khó cởi mở:
- Chết là hết rồi. Anh bạn buồn khổ mà làm gì?
Linh hồn nhà giàu trách:

- Chết là hết rồi. Vậy tôi và anh hiện là cái giống gì?

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tử huyệt của đạo Phật ((P.3)

Sao lại có cả Văn Thù Sư Lợi hiện thân chất vấn Vô Ưu?
Đó là yếu tố huyền vẫn thường tồn tại nơi Tam Tạng kinh của Phật Thích Ca. Lẽ nào tôi lại sử dụng yếu tố huyền để điểm tô, làm gia tăng giá trị nội dung bài viết.
Có không sự hiện diện của một Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nơi cõi Phật?
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát kỳ thực không có thật. Văn Thù Sư Lợi Bồ tát chỉ là biểu tượng trí tuệ khách quan, trí tuệ bát nhã của Phật Thích Ca cũng như của tất cả mọi người, là một hóa thân bồ tát đưa ra những phản biện khách quan nhằm giúp người học Phật sáng rõ những vấn đề liên quan đến con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Đây là điều mà người học Phật không dễ dàng nhận biết.
Sự tồn tại tưởng chừng như có thật của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cũng như rất nhiều vị Phật, Bồ tát có nơi Tam Tạng giáo điển là do người Trung Hoa cổ gia công, chế tác ra, cùng với các cõi giới vô hình được thêm thắt, chia chẻ,… cả các cõi Tiên, cõi Phật hà sa khiến người học Phật và nhân loại ngày nay mê mờ sự chân ngụy, gây ra lỗi lầm hủy hoại sự đúng mực, sáng rõ nơi chánh pháp.
Về chất vấn của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát tôi sẽ lại trình bày.
Thực tế là đạo Phật thật sự suýt diệt vong nơi đất nước Ấn Độ vào thế kỷ 14. Cho đến đầu thế kỷ 19 thì đạo Phật mới được chấn hưng trở lại và công cuộc chấn hưng Phật giáo nơi đất nước Ấn Độ phần nhiều không do người học Phật bản địa Ấn Độ ra sức. Những người mộ đạo ở khắp nơi trên thế giới đã tìm về nguồn cội và ra sức gầy dựng lại một đạo Phật tưởng chừng đổ nát, diệt vong ngay nơi Đức Phật hạ sinh.
Và… ngày nay được sự công nhận của quốc tế “Đạo Phật là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, đạo Phật sẽ được tô vẽ, sơn phết, tạo hình thật đẹp đẽ, có phần nhàm chán trong ánh nhìn nhân loại.
Tuy nhiên, đạo Phật sẽ tồn tại vì đây đã là một nét văn hóa truyền thống và trên cả là trong lòng bạn đạo Phật luôn tồn tại.
Nguyên nhân dẫn đến sự sa sút của đạo Phật nơi Ấn Độ được mặc định là do sự bành trướng của đạo Bà la môn (Ấn Độ giáo) và về sau Hồi giáo càn quét đất nước Ấn Độ tận diệt đạo Phật khiến đạo Phật vốn đã rệu rã càng thêm thui chột, mất gốc.
Thật ra vấn đề không đơn giản đến thế. Thực tế là ngay khi Phật cùng những môn đệ chứng ngộ pháp vô sinh nhập diệt thì đạo Phật đã không còn có chỗ đứng vững vàng trong lòng người dân bản địa cũng như tầng lớp quản lý xã hội lúc bấy giờ - Thành phần Sát đế lợi (Vua chúa), Bà la môn.
Đạo Bà la môn vốn dĩ là tôn giáo gốc, tôn giáo truyền thống của người Ấn Độ nên số tín đồ rất đông đảo, hùng hậu. Thêm vào đó đạo Bà la môn dễ dàng du nhập, kế thừa, dung hòa giáo lý các tôn giáo khác. Đạo Bà la môn cũng đã dung hòa giáo lý Tam Tạng kinh cùng với việc đổi thương hiệu thành Ấn Độ giáo đã khiến người Ấn Độ quy thuận ngày càng nhiều thêm.
Sự thức thời của đạo Bà la môn đã triệt hạ sự thô ráp, cứng nhắc của đạo Phật lúc bấy giờ. Nhất là khi đạo Phật bị thiếu vắng một hướng đạo sư giác ngộ chân chính. Người Ấn Độ vì lòng tự tôn dân tộc đã theo về Ấn giáo bởi lẽ trên bình diện giáo lý của đạo Phật và Ấn Độ giáo không có nhiều sự sai khác.
Sự khác biệt quan trọng nhất giữa hai giáo lý là Ấn Độ giáo thừa nhận Thượng đế là tối thượng cùng sự hợp thể Thượng đế là sự giải thoát hoàn toàn. Còn đạo Phật không thừa nhận Thượng đế là Đấng Toàn năng và sự giải thoát hoàn toàn phải do mỗi người tự chủ nhận thức, tự lực hành trì.
Tuy nhiên, do không có giác giả ra đời chỉ lối và loài người bạc nhược vốn quen thói nương tựa, dựa dẫm mà đạo Phật ngày càng suy tàn. Dù rằng cũng có cội gốc bản địa nhưng thương hiệu chung chung, mang tính phổ quát mà đạo Phật không tìm được chỗ đứng vững chắc nơi bản địa, sau cùng sự vượt trội cùng tính khả dụng từ bi của giáo lý giúp đạo Phật vươn ra tầm thế giới. Còn Ấn Độ giáo lấy lòng người Ấn Độ bằng thương hiệu đặc thù dân tộc tính nhưng gặp nhiều chướng ngại khi vươn ra biển lớn nhân loại.
Tử huyệt lớn nhất của đạo Phật chính là yếu tố vô ngã. Người học Phật giác ngộ chứng đắc pháp vô sinh là phải sống được bằng vô ngã nhưng điều này quả thật không dễ. Đành rằng kinh Phật nói đến việc dính mắc cái ngã khiến con người đau khổ, luân hồi trong nhân quả không biết đến ngày ra.
Hãy chứng ngộ vô ngã để Thường an lạc tịnh! Đạo Phật ra đời nhằm đối trị lòng tham không cùng của con người.
Nếu người học Phật nhận biết rõ vô thường, tánh không của vạn pháp và thật sống với điều đó thì tham sân si mạn nghi tự giải trừ, con người sẽ trở về vô ngã tùy thuận sống vì người.
Nếu việc đối trị lòng tham ở người học Phật không thành thì người học Phật gần như vĩnh viễn không thể giác ngộ sự giải thoát hoàn toàn, tham sân si mạn nghi lấp đầy tâm hồn, tâm dính mắc phân biệt chủ quan sẽ không thể tựu thành Giác giả.
Đạo Phật với ngã - vô ngã cùng giáo lý bị nhạt nhòa đã không giúp người học Phật lúc bấy giờ tỏ ngộ sự giải thoát hoàn toàn.
Khi nào là ngã? Khi nào là vô ngã? Khi vô ngã thì được gì? Tại sao khi vô ngã lại trở nên Thường lạc ngã tịnh?...
Những câu hỏi này người học Phật không liễu ngộ pháp vô sinh đâu dễ tường tận trả lời vì lẽ đó giới Bà la môn đã triệt hạ đạo Phật trong lòng tầng lớp Sát đế lợi để tranh phần hơn sự bảo hộ cùng lợi dưỡng.
Dù rằng không ít người thuộc tầng phần Sát đế lợi sáng suốt nhận ra sự vi diệu, thậm thâm trong giáo điển Tam Tạng kinh nhưng thực tế đã không có một vị chân sư nơi đạo Phật nào đủ khả năng chứng thực sự đúng đắn, khả dụng, xác thực về con đường chánh pháp. Những câu trả lời nửa vời, không rốt ráo khiến tầng lớp Sát đế lợi mất niềm tin về đạo Phật và không bảo hộ xây dựng đạo Phật như trước nữa.
Việc đối trị lòng tham ở người học Phật thất bại kéo theo hệ lụy lòng tham, sự si mê ở tầng lớp Sát đế lợi, Bà la môn cùng mọi thành phần xã hội Ấn Độ khiến đạo Phật rệu rã, suy tàn. Sự tì đè của Ấn Độ giáo cùng sự càn quét, tận diệt đạo Phật của Hồi giáo sau này đạo Phật đã chết nơi mảnh đất Phật Thích Ca ra đời.
Càng về sau đạo Phật càng lạc lối. Một khi phương thuốc đối trị lòng tham trong mỗi con người cũng như trong lòng nhân loại bị đánh mất công dụng thì đôi khi phương thuốc đó gây ra tác dụng phụ là sự mê tín dị đoan, con người càng dùng càng thêm lắm bệnh.
Làm sao để từ ngã trở thành vô ngã, rồi từ vô ngã trở thành ngã?
Người học Phật không dễ dàng tường tận. Vì lẽ đó Vô Ưu sẽ dùng đến cụm từ Phá ngã nhằm trình bày sáng rõ vấn đề ngã - vô ngã.
Thực tế là mỗi người chúng ta đều đang dính mắc vào cái tôi, bản ngã của mỗi con người. Nhưng qua giáo lý đạo Phật người học Phật dễ dàng nhận ra cái bản ngã đó không có thật, không thường còn vì lẽ mắt tai mũi lưỡi thân ý… các bộ phận con người khi chia chẻ, tách rời chẳng thể tạo nên thằng người hay cái ngã trong mỗi con người.
Nếu lập luận khi không chia chẻ thì vẫn có thằng người, cái ngã. Tuy nhiên, sự vô thường có nơi vạn pháp khiến xác thân con người không còn mãi điều này thể hiện cái ngã không thường còn. Tham đắm, si mê, sân hận,… sẽ khiến cái ngã dính mắc nhiều khổ não, muộn phiền cùng sự trôi lăn nơi 3 cõi. Vậy nên hãy từ bỏ sự dính mắc chấp trước vô lối về cái ngã thường tại.
Chỉ cần tư duy, quán chiếu thực tế người học Phật sẽ nhận thức điều đó là sự thật và dần buông bỏ tham đắm, si mê, hoài nghi,… về sau việc phá ngã thành tựu đau khổ, muộn phiền không còn não hại được người trở về cái vô ngã chân chính.
Cùng với sự khai mở trí tuệ người học Phật sẽ chứng ngộ vô sinh, xé tan màng lưới vô minh cùng vòng luân hồi lẩn quẩn. Lúc bấy giờ một vị A la hán đã ra đời. A la hán chỉ đơn giản là người sống được bằng vô ngã, chứng ngộ pháp vô sinh thù thắng.
Dù đã trở về vô ngã nhưng A la hán cũng là con người bằng xương, bằng thịt cũng có sự uống ăn, đi đứng ngủ nghỉ. Duy có điều sự tham đắm, si mê, dính mắc đã giảm thiểu ngày càng giảm thiểu về sau tùy duyên vì người mà ra sức chỉ bày. Thế nên vô ngã kỳ thực không phải là sự mất đi hoàn toàn mà là cái ngã sống vì người không còn tham đắm, dính mắc. A la hán đã không còn bị việc sinh tử trói cột nhưng cũng không tùy tiện hủy mình nếu điều đó không là sự cần thiết.
A la hán cũng có nhiều cấp độ và tùy thời.
Nếu pháp Phật sáng rõ cũng như sự không cần thiết nhập thế cùng hạnh nguyện không dũng mãnh đền trả ơn Phật thì nhân loại sẽ ra đời một vị A la hán theo lối tu Tiểu thừa. Vị A la hán thuộc Tiểu thừa sống tùy thuận ở đời và có khuynh hướng hành trì “ve sầu thoát xác” rời bỏ cõi tạm càng sớm, càng tốt.
Nếu vì bi nguyện dũng mãnh đền trả ơn Phật cùng hạnh nguyện bồ tát phổ độ cứu khổ loài người, muôn vật thì nhân loại sẽ ra đời một vị A la hán theo lối tu Đại thừa. Vị A la hán theo khuynh hướng Đại thức ra sức rộng truyền chánh pháp, vì người gieo duyên. Khi việc làm đã xong tùy duyên lui về tịch diệt.
Tóm lại, tử huyệt của đạo Phật gói gọn nơi ngã - vô ngã.
Nếu người học Phật đối trị được lòng tham thì giáo lý của Phật Thích Ca vi diệu, thù thắng. Con đường học Phật, con đường chánh pháp sáng rõ, thênh thang, pháp vô sinh hiển hiện chân thật, Giác giả ra đời, loài người thức tỉnh, nhận diện sự vô minh, tham sân si mạn nghi tự giải trừ, đau khổ, muộn phiền nơi xã hội loài người tự giảm thiểu. Nhân loại bình an, ổn định, hạnh phúc, hằng sống nơi niềm vui và tình yêu thương chân thật.
Bằng ngược lại, người học Phật thất bại trước cám dỗ của lòng tham thì Tam Tạng kinh chỉ còn là một phế vật vô nghĩa, một liều thuốc đã mất đi sự linh nghiệm, tính hữu dụng. Nếu mê mãi lạm dùng thì nhân loại sẽ chìm sâu vào hàng loạt khủng hoảng, đảo điên, mê tín, cuồng tâm.
Tiếp theo là bài viết Điểm mù nhân loại, đây là bài viết sau cùng của loạt bài viết mới. Tôi sẽ tạm dừng viết bài mới.
Tuy nhiên, nếu còn thời gian tôi sẽ post loạt bài viết được hoàn thành từ lâu có trong nội dung của 9 bộ sách đã viết. Có thể nói nội dung đã được trình bày trên blog hiện nay đã là khá rõ ràng về việc tôi đã bơi qua sông, những bài viết mà tôi cạn nghĩ đã trình bày sự sáng rõ, đúng mực của chánh pháp nơi Tam Tạng kinh. Còn những bài post tiếp theo sẽ thể hiện tôi đã bơi qua sông như thế nào cũng như là việc gieo duyên đến mọi người.
Thêm nữa, nếu các bạn có những điều chưa thông suốt về cả hai nẻo đạo đời và có chút yên tâm về sức hiểu của tôi thì hãy đặt vấn đề. Khi có đủ khả năng trình bày rành rõ vấn đề thì tôi sẽ tận lực.
Sau một khoảng thời gian nhất định, nếu không có những vấn đề liên quan đến con đường chánh pháp cần mổ xẻ thêm thì tôi sẽ lui về sau. Vì lẽ khi con đường chánh pháp đã minh bạch, sáng rõ thì tôi nên lui về sau và không nói thêm những lời vụng về.

Trân trọng!

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tử huyệt của đạo Phật (P.2)

Những hành vi hoằng đạo, truyền pháp như trên sao có thể lấp liếm che đậy bằng danh nghĩa đại thừa?
Phật giáo Đại thừa là người học Phật phải sống vì người, mang lợi ích cho loài người và muôn vật. Hành vi bỏn xẻn, ti tiện, tham lam ở không ít người học Phật có trong chùa chiềng, tự viện nơi Trung Hoa ngày nay phần nhiều chỉ vì mình. Đó là cách hành xử Tiểu thừa theo lối lập luận và quy ước của Vô Ưu.
Phật giáo Trung Hoa ngày nay đang truyền thừa hệ thống, quy củ của Phật giáo Trung Hoa cổ nên tạm nói đạo Phật Trung Hoa đã “bị lỗi” từ cội gốc.
Chịu ảnh hưởng nhiều việc đồng hóa văn hóa Trung Hoa đạo Phật Việt Nam, nhất là Phật giáo miền Bắc đã sớm bộc lộ bản sắc danh nghĩa Đại thừa mà hành vi Tiểu thừa.
Và… ngày nay lối sống thực dụng, lòng tham, si mê Phật giáo Bắc Trung Nam đang đắm chìm trong bể khổ của sắc dục, tham đắm, ganh đua, đố kỵ, tỵ hiềm,… và vô nghĩa.
Thêm vào đó, do không hiểu rõ giá trị đạo Phật cùng tính sáng tạo người Trung Hoa cổ đã suy diễn, vẽ vời ra vô số cõi Phật với chập chùng chủng loại Như Lai, Bồ tát cùng quyền thuộc vô hình chung giăng bẫy mê cuồng cho tri thức người học Phật cũng như nhân loại về sau.
Tuy nhiên, không hẳn người xưa Trung Hoa chỉ gây ra những điều tác tệ cho đạo Phật bởi lẽ cũng đã từng xuất hiện những vị Tổ tạm gọi sáng mắt góp phần làm sáng rõ phần nào Tam Tạng kinh.
Cũng do việc du nhập đạo Phật vào Trung Hoa mà Phật giáo còn tồn tại đến ngày nay, đó là sự thật không thể phủ nhận. Dù rằng Phật giáo Trung Hoa đã có những bước ngoặt sai lầm nhưng cũng nhờ vào điểm trung chuyển Trung Hoa mà nhân loại, người Việt Nam và cá nhân tôi tiến gần với đạo Phật.
Bởi do sự không chuẩn mực, mất gốc nên tôi đã không dùng sự hỗn độn, đảo điên, hư vọng nơi đạo Phật Trung Hoa (nói riêng) cũng như tri thức Trung Hoa cổ (nói chung) khi trình bày sự hiểu biết tổng thể khách quan.
Tôi đã loại phương Tây, bỏ Trung Hoa nhằm giảm thiểu sự dính mắc, rối rắm trong tư duy, nhận thức, sự hiểu biết của nhân loại. Chỉ còn lại Ấn Độ là nơi chứa đựng chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết tổng thể, khách quan, sáng rõ và đúng mực của loài người.
Sự thật là ngày trước khi lần dò tìm học Phật tôi không hề có khái niệm phân biệt rành rõ từng nguồn tri thức, tôn giáo,… phương Tây hay phương Đông. Một chút duyên thừa đã giúp tôi chạm đến sự thật - Sự hiểu biết khách quan, đúng mực.
Và ngày hôm nay tôi đã tổng hợp lại những điều tôi rõ biết về tôn giáo, tri thức nhân loại, yếu tố đông tây kim cổ… những mong nhân loại và bạn gần hơn với sự thật. Hy vọng bạn cùng mọi người dễ dàng tường tận lối đi, tránh đi đường vòng, lối rẽ mà mệt nhoài thân tâm, trí não,…
Thực tế là với những bài viết này cơ hồ đã không còn ý nghĩa với cá nhân tôi nhưng tôi cạn nghĩ những vấn đề tôi trình bày trong bày viết này rất có ý nghĩa với tri thức, nhận thức, tư duy và sự hiểu biết của nhân loại. Nếu bạn cảm nhận được chút ít ý nghĩa nơi bài viết thì bạn hãy vì người mà rộng truyền. Tôi và mọi người cám ơn bạn rất nhiều và trân trọng ân tình của bạn.
Quay lại với Ấn Độ.
Yếu tố thù thắng quyết định của hệ thống tôn giáo Ấn Độ là có sự đề cập đến sự giải thoát cho con người nơi thế giới tâm linh.
Đây là yếu tố mở và đúng mực. Bởi lẽ chỉ khi có sự giải thoát thì con người mới cần đến tôn giáo và sự tồn tại của thế giới tâm linh mới thật sự có ý nghĩa.
Tôi đã lấy yếu tố sự giải thoát cho việc chọn lựa tìm chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết của loài người. Những tôn giáo chứa đựng lý thuyết về sự giải thoát sẽ được tôi khoanh vùng và kết hợp phương pháp loại suy khách quan cùng những yếu tố đúng mực khác nhằm tìm cho ra chiếc chìa khóa giải quyết những vấn đề hỗn độn, đảo điên nơi xã hội con người ngày nay.
Tôn giáo Bà la môn (tiền thân của Ấn Độ giáo), Phật giáo, đạo Sikh, Kỳ Na giáo là 4 tôn giáo lớn của Ấn Độ chứa đựng yếu tố sự giải thoát.
Về giáo lý, kinh điển thì có thể nói 4 hệ thống tôn giáo trên đều chứa đựng tri thức sâu rộng, vi diệu về thế giới tâm linh, nghiệp, nhân quả, luân hồi, thiền định, yoga, pháp,…
Đạo Sikh ra đời muộn hơn so với 3 hệ thống tôn giáo. Đạo Sikh cùng với Ấn Độ giáo (có thể xem đây là tôn giáo cổ xưa nhất Ấn Độ) là hệ thống tôn giáo có chứa đựng yếu tố giải thoát. Nhưng điểm hạn chế của cả 2 hệ thống tôn giáo này là việc tin nhận Thượng đế là Đấng Sáng Tạo ra con người và tất cả vạn vật. Sự giải thoát mà con người chạm đến chính là sự cộng hợp - sự hợp thể với Thượng đế.
Ở một mức độ nhất định thì đã có sự tương đồng với Hồi giáo, Công giáo về sự hợp thể với Đấng quyền năng.
Do đâu mà kinh Thánh của Do Thái giáo (hay nói cách khác là kinh điển gốc của Công giáo, Hồi giáo) và kinh Vệ Đà của Ấn Độ giáo đã có sự tương đồng về sự tồn tại của Đấng quyền năng - Đấng Sáng Thế?
Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng này là người cổ xưa do giới hạn tri thức cùng việc cảm nhận sự nhỏ bé của tự thân trước sự hùng vĩ, bao la không cùng của thiên nhiên, vũ trụ nên đã cả tin về sự tồn tại một Đấng có khả năng sáng tạo ra tất cả. Từ đó tiến đến sự quy thuận, trói buộc cùng lệ thuộc.
Về sau những khổ não, phiền muộn, khốn khó nơi cuộc sống khiến con người mong mỏi được sự hợp thể cùng với Đấng quyền năng dẫn đến phát sinh việc cầu nguyện, lễ lạy, cúng bái bằng cả niềm tin và hy vọng.
Từ lâu con người đã chất chứa mong cầu sự giải thoát ra khỏi kiếp người. Giáo lý kinh điển của Do Thái giáo đã lệ thuộc hoàn toàn Đấng quyền năng với mong cầu duy nhất về sự hợp thể, họ không tiếp tục đào sâu, tư duy về thế giới tâm linh, các cõi giới,… Đây là yếu tố đóng cửa của tôn giáo Do Thái và là sự chấm hết.
Ấn Độ giáo có phần khách quan nên luôn mở rộng cửa tư duy, nhận thức. Việc hợp thể được tiến bộ hơn bằng cụm từ sự giải thoát và các cõi giới vô hình được phân định phong phú hơn bằng vào việc thiền định dẫn đến sự chạm đến các cõi giới tâm linh.
Tuy nhiên, đó là tất cả những gì mà Ấn Độ giáo có thể làm được. Dù có yếu tố giải thoát nhưng vẫn còn đó sự lệ thuộc vào Đấng Thượng đế thì con người, tín đồ Ấn Độ giáo vẫn mãi còn đó sự lệ thuộc, phục tùng và quy thuận.
Một điều dễ nhận thấy là khi con người còn dính mắc nơi sự lệ thuộc, phục tùng, quy thuận thì sự tự chủ đã không còn. Vì lẽ đó với việc tin nhận sự tồn tại thường còn của Thượng đế thì Ấn Độ giáo, đạo Sikh đã bị tôi loại khỏi sự chọn lựa trong việc hoạch định tìm đến chiếc chìa khóa khai mở tri thức khách quan của nhân loại.
Kỳ Na giáo là tôn giáo tin nhận sự tồn tại của yếu tố giải thoát hoàn toàn. Do khiếp sợ luân hồi, nhân quả tín đồ Kỳ Na giáo có phần cực đoan trong đời sống thường nhật, hạn chế tối đa những việc làm chạm đến nhân quả. Việc ăn mặc hạn chế tối thiểu đã tạo ra một tôn giáo lõa thể trong xã hội loài người, chủ yếu hiện diện ở Ấn Độ.
Và … khi con người không hiểu điều gì đã xảy ra nơi những tín đồ Kỳ Na giáo và giới trí thức ngạo mạn đã gọi đó là một nét văn hóa của người Ấn Độ.
Khi người hiện đại không thể nhận thức được một điều gì đó được thừa nhận bởi không ít người thói thường họ đã che đậy sự u tối tri thức chính họ bằng cụm từ văn hóa hào hoa, bóng bẫy.
Tuy nhiên, tin rằng nếu xét chiều sâu tri thức cũng như nội tâm thì giới trí thức, học giả ngày nay sẽ thật sự bối rối trước sức hiểu cùng tri thức ẩn tàng nơi những con người trần trụi đó. Nếu có sự khách quan, đúng mực thì giới tri thức thức thời ngày nay rất nên học hỏi ở sự uyên bác của những tín đồ Kỳ Na giáo lão thành.
Do có sự kế thừa nguồn giáo lý uyên thâm, vượt trội cùng yếu tố điểm đến sự giải thoát hoàn toàn cũng như tính tự chủ và quá trình thiền định, quán chiếu vạn pháp sự hiểu biết của những tín đồ Kỳ Na giáo thật sự khôn cùng.
Tuy nhiên, do hình thức lõa thể, khổ hạnh đã khiến giáo lý, kinh điển Kỳ Na giáo không dễ phổ truyền và ngày càng mai một.
Thực sự đã có không ít tín đồ Kỳ Na giáo đạt được sự giác ngộ khá hoàn chỉnh nhưng vẫn chưa có Bậc hành giả nào đủ thông tuệ để tháo gỡ sự cực đoan lõa thể, khổ hạnh truyền thống. Chính do có những vị hành giả tỏ ngộ chân chính nơi Kỳ Na giáo mà tôn giáo này còn được truyền thừa và tồn tại cho đến ngày nay.
Song với tính cục bộ, sự không thức thời cùng sự không khế hợp với điều kiện, bối cảnh sống hiện nay, việc không tích lũy thêm kiến thức hiện tại,… ở tín đồ Kỳ Na giáo những vị hành giả Kỳ Na giáo đã bị tụt hậu tri thức giác ngộ và dấu vết chấm hết của Kỳ Na giáo đang dần thành hình. Kỳ Na giáo mai sau còn lại chăng chỉ là một nét văn hóa đặc sắc, rất riêng của đất nước Ấn Độ (nếu hệ thống Kỳ Na giáo không có sự chuyển mình để thích nghi thì đích đến sẽ là sự tuyệt chủng).
Chỉ còn lại Phật giáo.
Liệu có không chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết hoàn toàn khách quan cho nhân loại nơi đạo Phật.
Phật giáo có chứa đựng yếu tố giải thoát con người phát triển lên một bước thành sự giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi sinh tử.
Vị Giác giả hoàn toàn đầu tiên Phật Thích Ca đã kế thừa kinh điển Vệ Đà cũng như phần lớn các tôn giáo quanh hệ thống lưu vực sông Hằng đã định hình nên một giáo lý giác ngộ, giải thoát hoàn toàn hoàn chỉnh. Đây không phải là việc làm tổng hợp, góp nhặt, chấp vá mà là thành quả của một công trình học hỏi tri thức không ngừng cũng như sự trải nghiệm của chính bản thân. Và trên cả là kết quả thực chứng của quá trình thiền định cùng quán chiếu không dính mắc yếu tố chủ quan hẹp kém của bản ngã. Việc chạm đến những cõi giới vô hình đã giúp Phật Thích Ca sáng rõ luân hồi, nhân quả cùng sự giải thoát hoàn toàn và Tam Tạng kinh đã ra đời.
Tam Tạng kinh ra đời không nhằm vào việc tạo dựng một vị Phật Thích Ca trong lòng nhân loại. Tam Tạng kinh ra đời vì sự khổ não, phiền muộn của chúng sinh nơi 3 cõi, 6 đường mà nhất là chúng sinh nẻo người nhiều vọng chấp, phân biệt, hoài nghi, tham đắm,… Vì lẽ đó đừng hiểu lầm và cô phụ từ bi tâm của Phật Thích Ca.
Đã có không ít người - chuyên gia, học giả, nhà nghiên cứu Phật học dựa vào cái hiểu hạn hẹp cá nhân mà nhận định đạo Phật thuộc thành phần tôn giáo vô thần và điều này được thể hiện cả trong trang vi.wikipadie.org/, wikipadie.org/. Đáng tiếc thay! Đúng thật là những người trong mơ thường hay nói lời mộng mị.
Dựa vào yếu tố giải thoát hoàn toàn cho con người ra khỏi vòng luân hồi nghiệp quả cùng với sự rành rõ đúng mực của nguồn tri thức có nơi Bát chánh đạo, Tứ diệu đế cũng như Tam Tạng kinh tôi nhận diện và khẳng định rằng “Chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết khách quan, sáng rõ, đúng mực của nhân loại chính thật ẩn tàng nơi giáo lý của Phật Thích Ca. Đạo Phật là con đường chánh pháp giúp con người vượt qua biển khổ sinh tử luân hồi, là cứu cánh giúp cho nhân loại thoát ra khỏi mọi sự hỗn độn, rối ren nơi xã hội loài người ở thời điểm hiện tại cũng như tương lai”.
Phần lớn nội dung của Tam Tạng giáo điển là nhằm bộc lộ sự minh bạch, rõ ràng, đúng mực của Bát chánh đạo, Tứ diệu đế. Tam Tạng giáo điển ra đời nhằm mục đích giúp con người gần gũi hơn với sự sáng rõ của chánh pháp - Việc thoát khổ, thoát khỏi luân hồi nơi 3 cõi 6 đường.
Khi tôi trình bày bài viết Tử huyệt của đạo Phật thì Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đã hiện thân chất vấn “Thật không đúng! Nếu kinh Phật thậm thâm, vi diệu, thù thắng đến thế thì tại sao đạo Phật bị mai một ngay tại nơi Phật Thích Ca ra đời? Sự thật là ngay nơi đất nước Ấn Độ đạo Phật đã không còn đứng vững với số tín đồ hạn chế, ít ỏi”.
Sao lại có cả Văn Thù Sư Lợi hiện thân chất vấn Vô Ưu?
Đó là yếu tố huyền vẫn thường tồn tại nơi Tam Tạng kinh của Phật Thích Ca. Lẽ nào tôi lại sử dụng yếu tố huyền để điểm tô, làm gia tăng giá trị nội dung bài viết.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Tử huyệt của đạo Phật (P.1)

Gần như xuyên suốt nội dung của blog doavouu ở cả hai nẻo đạo đời tôi vẫn thường trình bày về sự tồn tại của một con đường chánh pháp. Dường như tôi cũng khẳng định rằng chỉ có việc phổ truyền con đường chánh pháp đã được làm sống lại sáng rõ mới là cứu cánh, là lối thoát cho xã hội con người, là tương lai tươi sáng của nhân loại.
Và… cơ hồ như tôi đã mặc định con đường chánh pháp cứu cánh đó được ẩn tàng trong Tam Tạng giáo điển có nơi đạo Phật.
Việc mặc định đạo Phật ẩn chứa con đường chánh pháp có công năng giải cứu xã hội loài người ra khỏi tình cảnh hỗn độn, rối ren, điên đảo hiện nay của tôi có rơi vào sự cực đoan, cục bộ, chủ quan, phiến diện hay không?
Tại sao tôi lại lấy đạo Phật làm nền tảng cho những luận chứng đã trình bày nơi nội dung blog?
Phải chăng tôi có sự ưu ái đặc biệt với đạo Phật do sự hẹp kém tầm nhìn cũng như sự chủ quan, thiên kiến nơi nhận thức, tư duy cùng sự hiểu biết?
Nếu khách quan một chút thì mọi người sẽ nhận ra tôi không có sự ưu ái, bảo hộ đặc biệt với đạo Phật. Thậm chí với tôi đạo Phật hiện chỉ là một con bệnh ngặt nghèo, khốn khổ, nguy hại và tôi đã không ngần ngại mổ xẻ, loại bỏ ung nhọt, độc tố ẩn sâu, được che đậy sau lớp vỏ bọc hào nhoáng, đẹp đẽ, bóng mượt nơi đạo Phật.
Và… hôm nay, tôi sẽ lại chỉ ra tử huyệt của đạo Phật. Ưu điểm vượt trội, thù thắng, vô thượng của đạo Phật so với các tôn giáo khác cũng đồng thời là yếu điểm chết người của đạo Phật chỉ gói gọn trong 2 từ Vô ngã. Chính vô ngã đã khiến giáo pháp của Phật Thích Ca vượt lên mọi giáo lý của các tôn giáo hàng đầu thế giới cũng như mọi học thuyết tiến bộ của nhân loại đương thời.
Tuy nhiên, để trình bày rành rõ về Vô ngã - Tử huyệt đạo Phật thì lại là vấn đề tốn không ít luận chứng xác thực, là vấn đề khiến Vô Ưu phải nhiều lời.
Tại sao tôi chọn giáo pháp đạo Phật làm căn bản, làm nền tảng cho việc trình bày mọi vấn đề?
Tại sao tôi không dựa vào giáo lý của Công giáo, Hồi giáo,… để làm điểm tựa cho việc trình bày được khách quan, việc làm khả dĩ sẽ lôi kéo được nhiều người đồng thuận, ủng hộ hơn bởi lẽ dẫu sao thì Công giáo, Hồi giáo với số tín đồ đông đảo, vượt trội, có sự tín ngưỡng, thuần phục hơn?
Việc tôi làm nhằm hiển bày sự thật chứ không nhằm vào việc lôi kéo, gom góp nhiều hơn người tin nhận. Với tôi, muốn hiển bày sự thật thì việc làm cần đúng mực, khách quan, càng không nên giở thủ đoạn “Dùng tay che trời”.
Số tín đồ Công giáo, Hồi giáo vượt trội hơn đạo Phật, điều này không đồng nghĩa với giáo lý của 2 tôn giáo này chứa đựng chân lý về chánh pháp. Sở dĩ 2 tôn giáo này có tín đồ đông đảo là vì 2 hệ thống tôn giáo này được tổ chức tốt, chính quy và bài bản chứ không do sự thông suốt, sáng rõ của giáo lý.
Nếu muốn tìm hiểu sự tận cùng của tôn giáo, thế giới tâm linh, về minh triết,… thì hãy đặt những tôn giáo có gốc tích hoặc đang thịnh hành ở phương Tây hiện nay ra ngoài nguồn tài liệu chính cần mổ xẻ, những tôn giáo mang âm hưởng phương Tây chỉ nên xem như là một tài liệu tham khảo, tôn giáo đối chứng nhằm tránh rối mắt khi nghiên cứu về tôn giáo.
Tại sao?
Tại vì phương Tây không là chiếc nôi ra đời các tôn giáo lớn. Với phương Tây tôn giáo chỉ được sử dụng như một công cụ điều tiết xã hội. Tôn giáo một khi được sử dụng vào mục đích của các nhà quản lý xã hội, bị con người lợi dụng thì sự khách quan, tính đúng mực đã không còn.
Công giáo, Ki tô giáo, Anh giáo, Tin Lành,… là những tôn giáo được con người sử dụng bằng vào sự toan tính, mưu mô. Con người đã chiếm dụng các loại hình tôn giáo trên và ra sức tổ chức nhằm vào mục đích nắm bắt phần tư tưởng, tinh thần con người. Với ý đồ, dụng tâm cai trị, thao túng,… Công giáo nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo có số tín đồ đông đảo nhất thế giới. Chính ý đồ dùng Công giáo thống trị tư tưởng con người giới quản lý xã hội La Mã, phương Tây đã ra sức tận diệt các tôn giáo khác trên mọi miền đất mà họ xâm lược, cướp về.
Nếu thận trọng một chút để tránh mắc sai lầm đáng tiếc khi đưa ra nhận định thì hãy xét lại giáo lý nơi Công giáo, Ki tô giáo, Anh giáo,… bạn sẽ dễ dàng nhận ra những khoảng trống về giáo lý có nơi Thánh kinh. Đây là bản photo góp nhặt giáo lý có chủ ý từ kinh gốc Do Thái giáo.
Không chỉ vậy. Khác với tư duy cứng nhắc, sai lầm “Chết là hết” ở giới khoa học cùng trường phái duy vật chủ quan giáo lý của kinh Thánh nơi Công giáo sẽ phơi bày sự yếu đuối, kém cỏi của con người nơi cuộc sống, họ không thể tự chủ vì lẽ đó họ chỉ có thể cầu nguyện, nương tựa vào những Đấng vô hình. Con người đánh mất tự chủ dễ thường chỉ có thể sống bằng niềm tin và hy vọng.
Hồi giáo với số tín đồ đông đảo đứng thứ 2 dân số thế giới cũng với kịch bản tương tự và chút ít sai khác. Về khả năng tổ chức hệ thống Hồi giáo có phần kém cạnh so với người anh em Công giáo nhưng bù lại Hồi giáo đã từng thể hiện là một đế chế chuyên xâm chiếm thuộc địa kết hợp với việc tận diệt các tôn giáo bản địa, việc đồng hóa Hồi giáo trên diện rộng, lâu dài đã góp phần tạo ra chuỗi hệ thống Hồi giáo trên toàn thế giới.
Giới hạn phụ nữ đến trường, thực hiện dân trí thấp xã hội góp phần gầy dựng đức tin mãnh liệt nơi tín đồ Hồi giáo. Giáo lý Hồi giáo có phần khắt khe hơn Công giáo về đức tin - Phục tùng chân chủ - Thánh Ala, nhà tiên tri Mohamet,… Và… việc kế thừa đức tin một cách nghiêm túc, cứng nhắc ngay khi từ tấm bé đã góp phần duy trì số tín đồ đông đảo vào hàng thứ 2 trên thế giới ở Hồi giáo.
Hồi giáo đảm bảo sự tin nhận của con người cũng dựa vào tôn giáo gốc, Do Thái giáo ở các vùng lãnh thổ với đa số tộc người Ả rập. Cuộc sống rất khắc nghiệt, khó khăn một thời trên vùng đất khô cằn, đầy cát, nắng và gió con người cần một đức tin để tồn tại và Thánh Ala đã thỏa mãn điều kiện đó.
Vì thừa nhận có một Đấng quyền năng tối cao bằng vào một niềm tin không điều kiện cả Công giáo, Hồi giáo mặc nhiên thừa nhận con người là rất nhỏ bé trước các Đấng quyền năng. Lễ lạy, cầu nguyện và phục vụ toàn tâm là những gì con người có thể làm trước các Đấng quyền năng. Và… sau đó con người sẽ sống bằng niềm tin và hy vọng.
Không có một con đường nào thể hiện có sự giải thoát cho con người, không có lý thuyết về sự giải thoát con người nơi giáo lý kinh điển Công giáo, Hồi giáo. Có chăng chỉ là sự quy thuận, phục tùng tuyệt đối và cầu may việc hợp thể. Đó là kịch bản toàn tập có trong giáo lý Hồi giáo, Công giáo.
Và… trong giáo lý, kinh điển của Hồi giáo, Công giáo không hề đề cập đến sự giải thoát hoàn toàn cho con người, vấn đề này đã không còn là sự khiếm khuyết nơi giáo lý, kinh điển mà đây chính thật là sự giới hạn tri thức về thế giới tâm linh cũng như mối quan hệ tương tác không thể tách rời giữa thế giới tâm linh và đời thực.
Người phương Tây cổ xưa vốn có lối sống thiên lệch về vật chất, họ không cần đến sự hiểu biết rốt ráo về thế giới tâm linh. Sự nông cạn, hời hợt trong tư duy, nhận thức về thế giới tâm linh ở người phương Tây cổ nên Công giáo, Hồi giáo đã thỏa mãn điều kiện cần của họ. Về sau, giới quản lý xã hội phương Tây đã sử dụng tôn giáo như là một công cụ sắc bén, hữu dụng nhằm vào việc quản lý con người và xã hội.
Sự cuồng tín, tín tâm quy thuận là tất cả những gì mà giới quản lý xã hội cần có ở nơi giá trị tôn giáo. Công giáo, Hồi giáo,… đã được chọn vì tính ưu việt - Sự thức thời.
Tại sao đến thời điểm hiện tại con người vẫn tin vào điều đó, vẫn sống bằng niềm tin và hy vọng?
Vì nếu không tin vào điều đó thì sẽ tin vào điều gì, “Chết là hết” theo trường phái duy vật chủ quan và khoa học ư? Dường như không phải vậy. Do tính cực đoan và “Điểm chết” của tư duy cùng sự trói cột đức tin - niềm tin vô lối, không điều kiện mà tín đồ của 2 hệ thống tôn giáo - Công giáo, Hồi giáo chưa chủ động cởi trói chính mình.
Vì chưa có cơ sở sáng rõ để thoát ra niềm tin vô lối, đức tin mù quáng nên thôi thì cứ dựa Thánh Ala, Chúa Jesu dẫu sao cũng còn có điểm để tựa nhất là khi ta chưa đủ tự tin, quả cảm đứng lên và bước đi bằng sự hiểu biết của trí tuệ khách quan và đôi chân của chính mình.
Tựa vào đạo Phật ư? Thật hoang đường! Chẳng phải tín đồ đạo Phật cũng đang mê mờ lối đi, tín đồ đạo Phật cũng đang khắc khoải sống bằng niềm tin và hy vọng - Phật Di Lặc hạ sinh. E hèm! Nào có khác gì chúng tôi đang chờ Đấng Massiah ở bên này.
Không sao cả. Thời gian sẽ dần trôi. Sự hiểu biết của con người cũng sẽ lớn dần lên, sự hòa trộn phương Đông, phương Tây rồi sẽ có lúc con người mở lòng ra sống bằng vào sự hiểu biết khách quan, sáng rõ và đúng mực.
Đã loại trừ yếu tố phương Tây khi nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh, minh triết,… tôi sẽ tiếp tục.
Ấn Độ, Trung Hoa là 2 chiếc nôi tri thức vượt trội của người phương Đông. Ở đây sẽ dẫn đến sự chọn lựa đòi hỏi sự khách quan, đúng mực và tôi đã chọn lựa đạo Phật với nguồn gốc Ấn Độ làm chìa khóa khai mở sự hiểu biết của chính mình.
Trung Hoa vốn có nguồn tri thức cổ đồ sộ, phong phú và vô cùng đa dạng.
Tại sao tôi lại không chọn Trung Hoa làm điểm tựa cho sự hiểu biết khách quan, toàn diện?
Tôi không đi chợ để mua hàng nên không cần đến sự đa dạng, phong phú đến rối mắt, mụ mẫm đầu óc ở những gian hàng Trung Hoa. Tôi thừa nhận tri thức cổ của Trung Hoa là vô cùng đồ sộ nhưng đích đến tôi cần là một giáo lý, kinh điển hoặc tri thức chứa đựng sự đúng mực, khách quan, sáng rõ.
Khối kiến thức tổng hợp của nền tri thức Trung Hoa cổ đã không thỏa được điều kiện đó. Đích đến của tri thức cổ Trung Hoa không có điểm kết về sự tồn tại hay mất đi của con người giữa sự sống và cái chết không thật sự rõ ràng, cụ thể. Kết quả là một sự hỗ lốn, hỗn tạp kiến thức không đến đâu, về đâu. Thật không có điểm để tựa!
Thần đạo Trung Hoa cùng đạo thờ cúng ông bà tổ tiên đầy hương khói, bùa chú, huyễn thuật, nghi lễ, phúng tụng rườm rà,… khiến người người tối mắt, mụ mẫm tâm hồn. Phần nhiều rơi vào sự mê tín viễn vong.
Về sau Phật giáo du nhập Trung Hoa đã gặt hái được những kết quả, sự thành công nhất định. Nhưng người Trung Hoa vốn có khả năng sáng tạo khôn cùng đã từng bước làm nhạt nhòa, mai một sự đúng mực, sáng rõ của con đường chánh pháp có nơi giáo lý đạo Phật.
Do tâm ý phân biệt, lòng tự tôn hẹp hòi, cạn cợt và sự không tỏ ngộ giá trị thật có nơi đạo Phật cùng với tính cách sáng tạo “hoa lá cành”,… người Trung Hoa cổ đã vẽ vời ra cõi Tiên tiêu diêu, tự tại đối trọng với Thường lạc ngã tịnh nơi Niết bàn của đạo Phật.
Sự pha trộn hòa vào nhau giữa đạo Phật, đạo Lão, Thần đạo Trung Hoa cùng đạo thờ cúng tổ tiên bản địa đã từng bước thật sự hủy hoại đạo Phật.
Đạo Phật Trung Hoa ngày nay mang danh nghĩa Phật giáo Đại thừa nhưng kỳ thực hành vi cốt lõi là Phật giáo Tiểu thừa chỉ biết làm lợi cho Tăng nhân, ni sư,… hành vi thiên lệch về phước báo cho Tam bảo, hương khói ngút ngàn, lợi dưỡng, hám danh vô độ. Việc xây chùa, dựng tháp, tạc tượng,… chỉ nhằm vào lợi ích cá nhân. Thật sự chẳng có công đức, về lâu dài phước báu sẽ hoàn không.

Các ngôi chùa, tự viện danh tiếng, hùng vĩ được trùng tu, xây mới, được cổ phần hóa nhằm chia chác những thùng tiền mang danh nghĩa Tam bảo, Phước điền, Công đức đặt nhan nhãn vướng cả lối đi. Đây không phải là đạo Phật, đây chỉ là một công cụ kiếm tiền của một thành phần người có dã tâm làm những kẻ ăn bám hạng sang của xã hội.
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Lòng tham và hệ lụy tất yếu

Có ta hay không có ta thì mặt trời vẫn mọc đằng đông, lặn đằng tây. Nếu không có ta thì cũng sẽ có người cất lên tiếng nói góp phần làm trái đất cùng mặt trời quay chậm và dịu mát lại.
Thực tế là trái đất cùng mặt trời đang gia tăng vận tốc bay - xoay cũng như ngày càng nóng bức, khắc nghiệt hơn. Hệ quả tất yếu kèm theo là việc gia tăng tốc độ lão hóa ở mọi sự vật, hiện tượng tồn tại nơi trái đất, mặt trời cùng những hành tinh liên đời.
Cụ thể của sự lão hóa ở loài người là con người sẽ mau già yếu, bệnh tật, suy nhược; những đứa trẻ dậy thì sớm, yêu cuồng, sống vội do chưa kịp trưởng thành tư duy, nhận thức, chưa ý thức đúng về hành vi, lối sống.
Cũng như mọi loài vật có nơi tự nhiên con người sẽ có thời gian phát dục sớm cùng tần suất sinh hoạt tình dục năng động, thường xuyên và chu kỳ sinh sản theo đó sẽ rút ngắn lại. Đây là một thực tế mà giới khoa học gà mờ, tri thức nửa vời dựa trên tầm nhìn phiến diện, tư duy chủ quan, nhận thức nông nổi,… không thể nhận biết và tường tận rõ nguyên nhân của sự việc.
Con người hiện có sức khỏe ngày càng tụt giảm, tuổi thọ ngắn lại dù rằng những báo cáo của giới chuyên gia, nhà khoa học,… luôn thể hiện rằng sức khỏe, tuổi thọ của loài người đang được cải thiện rất tốt, chứa đựng nhiều sự lạc quan. Tuy nhiên, đó chỉ là một nhận định chủ quan, kém cỏi và thiếu tầm nhìn chiều sâu.
Vì sao?
Vì giá trị của nhận định về tuổi thọ, sức khỏe con người ở thời điểm hiện tại chính thật là kết quả của 70, 80,… năm về trước. Còn tuổi thọ, sức khỏe con người ở hiện tại đúng lý sẽ được tổng kết ở 50, 60,… năm về sau. Vậy nên giới khoa học, học giả, chuyên gia… dùng bảng tổng kết sức khỏe, tuổi thọ thu được ở hiện tại để đưa ra những đánh giá, nhận định lạc quan về tuổi thọ, sức khỏe con người ở hiện tại, tương lai là tư duy sai lầm bởi do những thông số đối chiếu bị lạc hậu với thực tế những vài chục năm có lẻ. Đó là sự giới hạn tầm nhìn, sự hiểu biết cùng với tư duy, nhận thức chủ quan, hẹp kém và nông cạn của loài người.
Đại diện cho tri thức nhân loại thật sự đã kém cỏi, hoàn toàn thiếu năng lực, thiếu tâm, thiếu tầm trong việc hoạch định, đánh giá hiện tại cũng như tương lai nhân loại.
Họ cũng đang đắm chìm, ngụp lặn trong lòng tham nơi lối sống thực dụng hưởng thụ, ích kỷ khuynh đảo và xâm thực cả nhân loại. Vì lẽ đó đôi mắt của giới chuyên gia đã không còn sáng suốt, tinh tường. Sự mất cân bằng thể chất - tinh thần cùng sự héo hắt, cằn cỏi tâm hồn của đại diện tri thức nhân loại, giới quản lý xã hội sẽ góp phần nhấn chìm sự bình yên, tốt đẹp vốn có nơi xã hội loài người.
Thực tế là con người đang bị lão hóa tự nhiên ngày càng nhanh kết hợp với nhận thức sống lệch lạc, sai lầm ở các thế hệ hiện tại, tương lai con người đã đang ra sức hủy hoại sự sống, sức khỏe và tuổi thọ của chính mỗi người.
Nếu dừng lặng và nhìn đời bằng một tấm lòng rộng mở, khách quan bạn cùng mọi người sẽ dễ dàng nhận diện được gia đình, đất nước, xã hội con người đã bao đời nay vận hành theo cùng một quy luật tuần hoàn khép kín có biến thiên gia tốc. Đó là xen kẽ với một thế hệ ra sức dựng xây, vun đắp,… sẽ có một thế hệ kế thừa đổ đốn, bệ rạc, bạo loạn, phá hoại,… sự bình yên cũng như thành quả của những thế hệ đi trước. Kết quả là đã có những sự diệt vong cục bộ nơi loài người ở giới hạn gia đình, dòng tộc, chủng người và cả đất nước.
Tuy nhiên, do luôn có sự xen lẫn giữa các thế hệ nên phần nào đã đảm bảo sự sống còn nơi xã hội loài người. Và… biểu hiện của xã hội loài người sẽ do thế hệ nào nắm ưu thế quyết định sự hưng suy, thành bại. Tôi gọi đó là con nước ròng, con nước lớn nơi xã hội loài người.
Giới chuyên gia, học giả, các nhà quản lý xã hội hàng đầu nhân loại do có sự chủ quan, cục bộ, phiến diện nơi tầm nhìn, tư duy, nhận thức, do tham đắm… mà dường như chưa từng nhận diện, nắm bắt được một quy luật có thật, rất đơn giản nơi xã hội loài người. Vì lẽ đó những điều tiết, những tác động của giới chuyên gia, thành phần xã hội vào xã hội loài người trở nên thô vụng, kém cỏi và nông nổi, những việc làm góp phần phơi bày sự non kém về tri thức, nhận thức, tư duy cùng sự hời hợt nội tâm, héo hắt tâm hồn nơi đại diện cho tri thức nhân loại.
Ngày nay, lối sống thực dụng hưởng thụ, lòng tham đang thiêu đốt giá trị con người. Quy luật con nước ròng, con nước lớn nơi mỗi gia đình, dòng tộc, xã hội loài người sẽ rơi vào những đoạn gấp khúc, đầy ghềnh thác,…điều này dẫn đến tần suất chu kỳ dòng chảy gấp, nhanh hơn cùng với việc rút ngắn biên độ biến thiên kéo theo sự nhấn chìm cuộc sống con người vào vòng xoáy ganh đua sinh tồn nghiệt ngã, hỗn loạn,…
Có không những sự diệt vong cục bộ nơi gia đình, dòng tộc, chủng người,… trong sự hỗn mang, điên đảo, cuồng loạn?
Có không sự diệt vong nhân loại khi cả loài người đắm chìm trong lòng tham, si mê, sân hận cùng sự hoài nghi, tự phụ hơn người?
Đại diện cho tri thức nhân loại với tầm nhìn tự giới hạn cùng sự chủ quan, cục bộ, cạn cợt nơi tư duy, nhận thức, tri thức,… nên chưa thể nhận diện rõ vấn đề, càng gặp khó hơn trong việc đề ra giải pháp vẹn toàn nhằm giải quyết vấn đề.
Tương lai nhân loại, gia đình bạn rồi sẽ về đâu?
Lòng tham, sự thực dụng của loài người đã đang hủy hoại dần sự bình yên, ổn định, hạnh phúc của gia đình bạn cùng nhân loại. Cũng chính lòng tham của con người đã khiến mặt trời, trái đất xoay nhanh và nóng bức hơn. Điều này thật không tưởng, điều này thật khó tin,…
Đừng chờ đợi ý kiến, đánh giá của giới chuyên gia, học giả cùng những nhà quản lý xã hội. Hãy mở lòng ra nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống bạn sẽ dễ dàng nhận diện được điều đó!
Điều này thật điên rồ, điều này thật lớn lao. Đó là việc của giới chuyên gia, của các nhà quản lý xã hội, của đại diện tri thức xã hội học rộng, biết nhiều,… Đây không là việc của người sống an phận, không phải là việc của tôi.
Không hẳn vậy! Tôi không nói đến những việc lớn lao, vĩ đại. Tôi cũng không đủ tầm để làm những việc vượt qua khả năng, giới hạn của một con người. Tôi chỉ đang nói đến cuộc sống của bạn cùng gia đình, dòng tộc và cả những đứa con bé bỏng đáng yêu. Vì họ bạn hãy một lần trực nhận và chạm đến giá trị thật của cuộc sống.
Hãy đổi mới tư duy, nhận thức sống khi bạn ý thức được đó là sự cần thiết! Qua đó bạn hãy cân bằng lại nội tâm và cân bằng lại cuộc sống của gia đình. Hãy nhớ rằng gia đình là tình yêu thương và niềm hạnh phúc!
Sống chậm lại vì tương lai, bạn nhé! Những đứa con và người thân của bạn cần biết học cách sống có hiểu biết, tình thương yêu cùng niềm hạnh phúc sẻ chia.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Khoa học bệnh hoạn

Tôi đi lần tìm hình ảnh cho bài viết “Khai quang, điểm nhãn” thì được “mãn nhãn” với những bức hình nghệ thuật liên quan đến đạo Phật. Thế là tôi có ý tưởng viết bài “Đạo Phật dơ bẩn”, lại đi tìm những hình ảnh liên quan thì tình cờ tôi nhặt được một nghiên cứu khoa học được coi là nghiêm túc nhưng rất chi là dở hơi, bệnh hoạn.
Đã vậy tôi sẽ thử viết ít lời phản biện cho đề tài nghiên cứu khoa học được đề cập có vẻ rất nghiêm túc này. Không rõ khi có dịp đọc được những phản biện vụng của tôi giới khoa học, học giả nhiều hiểu biết, những chuyên gia nghiên cứu sẽ đối đáp ra sao.
Phải chăng giới khoa học đã bế tắc đề tài, bí lối nghiên cứu khoa học?
Có vẻ như họ - giới khoa học đang cố giãy dụa và chứng thực sự tồn tại của họ bằng những đề tài nghiên cứu mang tính chuyên sâu,… Những dự án khảo cứu đa dạng, linh hoạt, phong phú nhằm vào việc khoe mẽ sự học vấn, cái hiểu biết uyên thâm lẫn tầm nhìn ở một tầm cao mới của giới đại diện tri thức nhân loại.
Đáng tiếc là có những công trình nghiên cứu sâu sát mang danh nghĩa khoa học được xem là tầm cao mới, là tiến bộ, là sáng kiến đột phá,… đối với giới trí thức, học giả, chuyên gia, những nhà quản lý xã hội… thì với không ít người đó chỉ là sự vô nghĩa, kém cỏi, tụt hậu, hoàn toàn không có giá trị thực tiễn cho xã hội loài người.
Thậm chí với những kẻ không nhiều hiểu biết, tri thức nông nổi nhưng trực tính thì họ sẽ thể hiện sự khinh miệt giới khoa học, học giả là những tri thức giấy chỉ giỏi ngụy tạo sự hiểu biết sâu rộng nhưng lại không thể che đậy sự cạn cợt tư duy, sức hiểu cùng sự non nớt nội tâm, sự mục rỗng tâm hồn…
Thật sự không nên tùy tiện xúc phạm người. Vậy nên tôi cần phải có dẫn chứng xác đáng cho những lời đã nói.
Đề tài nghiên cứu khoa học Ngắm Ngực Trần Phụ Nữ Sẽ Giúp Tăng Sức Khỏe, Tuổi Thọ ở Người Đàn Ông là một dẫn chứng cụ thể điển hình.
Theo Frankfurt, một nhóm chuyên gia người Đức, bác sĩ Keren Weatherby cùng đồng sự đã thực hiện cuộc nghiên cứu trên kéo dài 5 năm với 200 tình nguyện viên và được khảo cứu ở 3 bệnh viện tiêu chuẩn Đức. Sau đó, giới chuyên gia đưa ra nhận định “Nếu nhìn ngực phụ nữ mỗi ngày từ 5 - 10 phút thì sức khỏe của người đàn ông sẽ tốt hơn và sống thọ thêm những 5 năm”.
Có thể nói đây là một cuộc nghiên cứu rất nghiêm túc và đã có tiên liệu đề tài nghiên cứu này sẽ được công bố trên Tập san Journal of Medicine ở New England.
Tuy nhiên, trước mắt thì chuyên đề nghiên cứu này đã trở thành đề tài sôi nổi trên cộng đồng mạng gồm cả giới trẻ lẫn giới không còn trẻ.
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra những cơ sở rất khoa học để biện chứng về tính đúng mực của đề tài. Cụ thể là ham muốn tình dục sẽ kích thích lưu thông máu giúp sức khỏe tổng quát của người đàn ông được cải thiện tích cực. Từ đó vị bác sĩ khẳng định người đàn ông nhìn ngắm ngực phụ nữ mỗi ngày sẽ tăng thêm 5 năm tuổi thọ. Và… có lẽ kết thúc một chuyên đề khảo cứu y học sâu sát trên sẽ kèm theo lời khuyến cáo nóng bỏng, trơ trẽn đầy tính dục.
Trên đây là tóm lược một cuộc khảo cứu có tính chính quy và bài bản của nhóm chuyên gia người Đức và cũng có không ít người tán thán công trình nghiên cứu vượt tầm chuyên sâu này.
Còn đây là phản biện của kẻ học không đến nơi, đến chốn.
- Dường như uống rượu hợp lý, chừng mực cũng có cùng công dụng với nghiên cứu khoa học của giới chuyên gia người Đức. Vậy đâu cần đến những cuộc khảo cứu to tát mang tầm vóc khoa học bằng phương cách nhìn ngực trần phụ nữ.
Không chỉ vậy, phải chăng việc uống rượu hợp lý sẽ nên dùng hơn cách của vị bác sĩ người Đức phổ truyền?
Vì sao?
Vì vật phi lễ bất kiến - Người chánh trực, đứng đắn, đúng mực không nhìn những vật không hợp lễ. Lẽ nào ngay cả điều đơn giản, dễ hiểu này mà giới học giả người Đức không thấu rõ.
Phải chăng tôi nói rằng nhìn ngực trần phụ nữ là phi lễ?
Tôi không nói điều đó. Nhìn ngực trần phụ nữ có lễ, có phi lễ. Nhìn ngực trần có lễ là chỗ vợ chồng, giữa những người bạn đời với nhau. Còn nhìn phi lễ là nhìn của nhà người. Nhìn phi lễ là biểu hiện của sự túng dục, tham dâm, khát ái,…
Vậy khảo cứu của giới khoa học người Đức sẽ là có lễ hay phi lễ? Làm sao tôi có thể nhận biết mà vội nhận định “Đó là cái nhìn phi lễ”?
Dù là cuộc khảo cứu áp dụng bằng vào cách nhìn có lễ nhưng khi giới chuyên gia đưa ra những lời khẳng định vội vàng, nông cạn thì cái nhìn có lễ đã mau chóng trở thành cái nhìn phi lễ. Hơn nữa, tin rằng các nhà nghiên cứu đã dùng cái nhìn phi lễ cho cuộc khảo cứu này. Vậy nên có thể xem đây là một nghiên cứu khoa học bệnh hoạn, dở hơi, không có giá trị.
Dường như cuộc khảo cứu mang tính nghiêm túc trên bộc lộ sự héo hắt tâm hồn, sự bế tắc tâm thức cùng với sự buông thả bản tánh nơi những người chuyên gia.
Có lẽ con người vốn mang đầy lòng tham dục, dù cố gắng che đậy nhưng không thể kìm nén và đành thông qua một việc làm mang tính khoa học để “danh chánh, ngôn thuận”, hợp thức hóa việc nhìn trộm của người hay là sự học của giới chuyên gia thật sự hẹp kém, cạn cợt,...?
Khi nghiên cứu khoa học trên được thừa nhận tính khả dụng và phổ truyền thì sẽ có những kịch bản sau đây:
- Những vị đại gia lắm của nhiều tiền sẽ sưu tầm thật nhiều cô gái đẹp chỉ nhằm vào việc ngắm ngực để sống lâu.
- Một ông cụ 70, 80 tuổi yêu cầu con cháu được ngắm ngực trần phụ nữ mọi ngày để sống thọ cùng con cháu. Tin rằng đây sẽ là cái nhìn phi lễ vì sẽ khó có thể nhìn ngực trần cụ bà 70, 80 mà đảm bảo được việc tăng cường sinh lực, tuổi thọ ở ông cụ.
- Những cậu choi choi tận dụng thời cơ chiêm ngưỡng ngực trần mọi lúc, mọi nơi nhằm thọ thêm ngày nào, lợi thêm ngày nấy.
- Những cô gái trẻ cá tính sẽ vận trang phục phơi bày nhiều hơn phần xác thịt và tự tin khẳng định “họ đang góp phần nâng cao tuổi thọ cho nửa còn lại thế giới”.
Phải chăng đó là giá trị của một nghiên cứu chuyên sâu của giới khoa học người Đức?
Dường như đây chỉ là chuyện bé tẹo mà sao tôi lại làm lớn chuyện? Đây chỉ là một khảo cứu nhỏ của một nhóm khoa học gia rất nhỏ người Đức, nó không đủ tầm để cáo buộc bằng một tiêu đề giật gân Khoa học bệnh hoạn.
Cũng không hẳn là việc bé tẹo vì đây là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của những nhà khoa học và kết quả đã được thừa nhận cùng công bố. Đã không có những phản biện tích cực, đúng mực từ các học giả, các nhà khoa học, các chuyên gia, đại diện tri thức xã hội,… nhằm “tháo gỡ” một đề tài nghiên cứu sai lầm cùng dở hơi.
Nếu phản biện “Đó đề tài khoa học dở hơi, bệnh hoạn” của tôi là chuẩn mực thì sẽ kéo theo một hệ lụy giới học giả, nghiên cứu, chuyên gia khoa học và đại diện tri thức nhân loại (nói chung) đều có sự hiểu biết kém cỏi, tư duy nông cạn, sức sống nội tâm cạn cợt cùng với tâm hồn bị đọa đày.
Vì sao?
Vì họ đã để một đề tài khoa học dở hơi, bệnh hoạn ra đời và tồn tại. Dường như vấn đề đã không còn bé khi sự việc đã chạm đến giới trí thức, học giả nói chung mà không còn riêng là vấn đề của người Đức.
Đại diện tri thức của nhân loại mà còn tụt hậu, kém cỏi đến vậy thì xã hội con người còn trông mong gì cho tương lai?
Được biết vị bác sĩ Keren Weatherby là một phụ nữ, vậy liệu có không việc chăm lo đến tuổi thọ cho giới nữ dựa trên cơ sở khoa học?
Sẽ lại có một đề tài mang tính đối trọng và cũng dựa trên cơ sở tình dục, vậy để tăng tuổi thọ của giới nữ thì “đối tượng” trần ở cơ thể của người đàn ông sẽ là gì?
Phải chăng đề tài đối ứng tôi giả lập đặt ra không hẳn là thiếu logic, nhất là khi đề tài nghiên cứu khoa học bị bí lối và con người đang tham đắm lối sống thực dụng, hưởng thụ?
- Không chỉ vậy. Khảo cứu khoa học nhìn ngực trần phụ nữ ở trên đã dựa trên sự chủ quan, cảm tính nên phạm phải không ít những sai lầm.
Chỉ dựa vào vài năm khảo cứu với lượng người ít ỏi cùng với những thông số cục bộ, đơn điệu như nhịp tim, huyết áp, sự hứng khởi thần kinh mà đã vội khẳng định sự cải thiện sức khỏe, tuổi thọ ở người đàn ông là một sự sai lầm không thể biện giải.
- Làm sao có thể dùng một cuộc khảo cứu vài năm để khẳng định tính hiệu quả, hữu dụng cho cả một đời người và cả tuổi thọ con người?
Thêm nữa, thông số khảo sát chỉ là sức khỏe cơ tim, huyết áp, tinh thần,… gián tiếp liên tưởng đến thông số tuổi thọ còn thông số sức khỏe tình dục liệu có đảm bảo an toàn, không chịu tác dụng phụ đáng tiếc?
Cụ thể là việc nhìn ngực trần mỗi ngày 5 - 10 phút chỉ dừng lại ở việc nhìn hay có cả việc thọ dụng?
- Nếu việc nhìn ngực trần kết hợp cùng với việc thọ dụng thì có lẽ sức khỏe, tuổi thọ của những người nhìn và thọ dụng ngực trần sẽ suy giảm nghiêm trọng cùng với việc chết sớm. Bởi do nếu mỗi ngày mỗi thọ dụng tình dục thì con người sẽ mau chóng suy kiệt tinh lực, khí lực, trí lực,… kết quả là hình thể chóng suy hoại, người năng thọ dục sẽ sớm chết. Đây là sự thật luôn đúng. Kết quả này sẽ hoàn toàn trái ngược với kết quả khảo cứu của giới chuyên gia, học giả,…
Nếu chỉ là việc nhìn ngực trần để kích thích tuần hoàn máu, ổn định nhịp tim,… nhằm gia tăng tuổi thọ thì chỉ sau một thời gian sẽ tạo ra tâm lý nhàm chán, thừa mứa sự hứng khởi, tắt lịm sự hưng phấn, là dấu vết của chứng lãnh cảm tình dục, gây ra căn bệnh bất lực, vô sinh ở người no nê việc nhìn. Thật sự việc dùng liệu pháp tâm lý theo kiểu “Thị ơi! Thị rơi bị bà. Bà để bà ngửi chứ bà không ăn” để cải thiện sức khỏe, tuổi thọ sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng gây ra căn bệnh bất lực, hiếm muộn ở người đàn ông. Nhất là khi việc sử dụng liệu pháp tâm lý dở hơi, bệnh hoạn kéo dài. Kết quả là khi con người bị trơ cảm xúc, lịm tắt sự hưng phấn thì tác dụng kích thích tuần hoàn máu, ổn định nhịp tim, điều hòa hơi thở,… sẽ bị vô hiệu.
Phải chăng khi đó liệu pháp tâm lý nhìn ngực trần phụ nữ nhằm cải thiện sức khỏe, tuổi thọ ở người đàn ông sẽ trở nên trơ trẽn, lố bịch, dở hơi, nghèo nàn,…?
Tương ưng với phản biện về sự trơ tình dục, hứng khởi giới tính khi việc lạm dụng thưởng lãm ngực trần tôi vừa trình bày sẽ là một giả định đã, đang diễn ra nơi xã hội loài người.
Con người ngày nay dưới sự hỗ trợ của khoa học chủ quan cùng tri thức giới tính nửa vời tăng trưởng việc sinh con ở các gia đình trẻ ngày nay được quy hoạch, tính toán chỉnh chu, có chọn lựa điểm rơi kinh tế thích hợp. Kết quả của việc lạm dụng các biện pháp tránh thai đã dẫn đến tình trạng hiếm muộn ở không ít gia đình trẻ.
Việc no đủ tình dục, việc nhàm chán xác thịt người bạn đời, những thói quen thừa mứa,… dẫn đến sự hứng khởi, hưng phấn không còn như buổi đầu gây ra sự ức chế tâm lý lẫn sự giảm thiểu tính năng động của các tế bào sinh dục, hoạt lực sinh lý không còn mãnh liệt. Dù rằng sự hứng khởi, hưng phấn không hoàn toàn lịm tắt như tính hiệu quả sinh dục đã mất đi, có một trạng thái trơ tình dục âm thầm khiến việc sinh con ở những gia đình từng áp dụng các biện pháp ngừa thai lâu dài bị chướng ngại. Việc sinh con bị trì trệ, việc khó có thai gây ra áp lực tâm lý ngược bức bách những người trong cuộc vào trạng thái mong cầu cùng sự đánh mất niềm tin. Những sự ức chế tâm lý này nếu không sớm tháo gỡ thì những người trong cuộc sẽ rơi vào bệnh lý vô sinh, bất lực thật sự.
Việc lạm dụng các biện pháp tránh thai, việc trơ xúc cảm giới tính do sự quen thuộc, thường xuyên, những ức chế tâm lý,… và cả những tác động từ môi trường, điều kiện sống sẽ ảnh hưởng đến việc di truyền giống nòi. Nếu con người không có sự thay đổi đúng mực về mặt tư duy, nhận thức thì những thế hệ về sau sẽ rơi vào hội chứng vô sinh, bất lực, hiếm muộn bởi do có sự luân hồi và ký ức của tâm ý sự sống sau khi chết có tồn tại.
Đây chỉ tạm là giả định chứ không là kết luận cục bộ của cá nhân tôi. Tính đúng mực, chuẩn xác của giả định đành trông chờ vào các cuộc khảo cứu của giới chuyên gia khoa học. Nếu khách quan bạn có thể tự nhìn nhận, đánh giá vấn đề bằng vào cái hiểu biết không dính mắc sự cục bộ, chủ quan, phiến diện vốn có nơi bạn.
Tôi viết bài Khoa học bệnh hoạn nhằm vào mục đích gì?
Tôi sẽ chỉ ra những sai lầm ngớ ngẩn, non nớt, kém cỏi của đại diện tri thức nhân loại khi tầm nhìn của giới học giả, chuyên gia, nhà khoa học, nghiên cứu, thành phần quản lý xã hội,… bị rơi vào tính cục bộ, chủ quan, tự giới hạn.
Và… hiển nhiên hiện tại không chỉ có đề tài khảo cứu Ngắm Ngực Trần Phụ Nữ Sẽ Giúp Tăng Sức Khỏe, Tuổi Thọ ở Người Đàn Ông là đề tài khoa học bệnh hoạn, dở hơi, lố bịch duy nhất tồn tại trong hệ tri thức nhân loại.
Đại diện cho tri thức nhân loại với tầng lớp học giả, chuyên gia, giới chuyên gia, thành phần khoa học, các nhà quản lý xã hội,… đều đã lâm trọng bệnh ở sự tự phụ hơn người, sự vượt trội tri thức nửa vời cùng tư duy, tầm nhìn sâu rộng nhưng kỳ thực là rất giới hạn, hẹp kém.

Hy vọng những sai lầm không thể bào chữa, không dễ khỏa lấp ở giới khoa học, chuyên gia, học giả… một khi được phơi bày sẽ giúp cho thành phần đại diện cho tri thức nhân loại thức tỉnh, rời xa sự mê muội, nghẽn lối sự hiểu biết... Mong rằng việc tan rã “uy phong, thanh thế” của giới đại diện tri thức nhân loại giúp họ và mọi người nhận thức rõ vai trò, giá trị đúng mực của chính họ trong công cuộc định hướng và xây dựng xã hội con người.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Viếng chùa cầu Phật - Nói với Thần giữ chùa


Ngày chùa còn nghèo lắm
Tôi thường đi lễ Phật
Đốt 3 nén trầm thơm
Dập đầu tôi cúi lạy
Lòng khấn nguyện thầm thì
Cầu cho Phật bình an
Đừng nay đau, mai ốm
Ngày qua tôi viếng chùa
Đốt 3 nén trầm thơm
Cúi đầu tôi khẽ vái
Lòng chợt tự hỏi lòng
Chùa to lớn xô bồ
Phật thường ưa tịnh lạc
Người còn ở chùa không?
Hay bỏ chùa đi mất
Tôi muốn nguyện cho Người
Cầu cho Phật bình an
Người ơi! Đang ở đâu?

Nói chuyện với thần giữ chùa
Ai đời đi viếng chùa
Lại cầu Phật bình an
Ngươi, gã khờ đệ nhất
Sao không cầu cho ngươi?
Phật làm lợi muôn người
Người cần hơn tuổi thọ
Tôi khờ ngốc khôn cùng
Cầu sống lâu thêm thẹn
Sao không cầu thông minh?
Nếu tôi được thông minh
Ngu dốt thì về ai?
Người nhận sẽ buồn lắm
Thôi tôi chẳng tranh đâu
Người cần xin cứ nhận
Tôi chỉ cầu cho Phật
Bình an là tôi vui
Tôi lại cầu cho người
Sức khỏe cùng hạnh phúc
Trí tuệ là đuốc sáng
Soi tỏ sự vô minh
Đẩy lùi muôn tăm tối
Sống an vui trọn đời
Thần giữ chùa nghe xong
Ôi! A di đà Phật
Mi không phải là người.
Dạ thưa Ngài đã đúng
Thằng người là bạn tôi.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Xuất gia - Tại sao không? (P.2)

Điều giá trị nhất mà chúng sinh nẻo vô hình giúp tôi tường tận. Đó chính là việc họ đã vô tình giúp tôi phá vỡ kiến chấp tin sâu khoa học về việc “Chết là hết”. Từ đó tôi nhận thức sáng rõ “Con người không dễ chết là hết”, có sự luân hồi, có các cõi giới hữu hình, vô hình tồn tại xen lẫn vào nhau trên cùng một nơi,…
Về sau, do chưa đủ duyên làm người xuất gia tôi đã xin thầy rời chùa. Tôi lại dấn thân vào đời và những khi rảnh rỗi lại tham cứu kinh sách, ngồi thiền. Lâu về sau, cái biết của tôi dần khai mở và đến một ngày tôi chợt bừng tỉnh mộng, tự biết lưới sinh tử luân hồi tôi đã xé toan.
Khi chạm đến cái biết khách quan, tổng thể, sáng rõ tôi nhận thức được rằng “Hiện tại, tôi chưa thể trở nên là một Tăng bảo nâng cao ngọn đuốc chánh pháp mà Phật Thích Ca từng một phen lao nhọc phổ truyền”.
Tôi cần nên làm sáng rõ lại ngọn đuốc chánh pháp bằng việc chỉ ra hàng loạt những sai lầm đang tồn tại nơi đạo Phật ngày nay. Nếu khoác y áo cà sa để làm việc này tin rằng đa số người học Phật và giới Tăng bảo cạn nghĩ, hẹp hòi sẽ cáo buộc “Tôi là phản đồ của đạo Phật”. Do vậy nên tôi sẽ đi trong phi đạo thành tựu Phật đạo trước khi trở thành một vị Sa di.
Mai này, tôi có xuất gia, có làm một vị Tăng bảo không?
Tùy duyên. Có lẽ khi tôi biết đủ với nội dung của blog doavouu và quyết định việc dừng lại. Khi mọi việc liên quan đến con đường chánh pháp đã sáng rõ, thông suốt thì việc lo hậu sự cho mình ở một ngôi chùa hẻo lánh là một chọn lựa không tồi.
Một ngày nào đó, nếu tôi chọn lựa hóa thân làm người xuất gia thì có lẽ là duyên trần của tôi đã đến lúc tận. Tôi sẽ làm một kẻ tu hành lẩn trốn mọi bon chen của đời sống và cả việc truyền pháp. Có thể xem như đó là một sự trốn chạy lặng thầm của Vô Ưu, tôi sẽ riêng hưởng niềm an lạc. Với tôi pháp Phật khi ấy chỉ còn là sự tùy duyên.
Tại sao tôi xác định việc vào chùa xuất gia của cá nhân chỉ là hiện tượng trốn chạy, lẩn tránh cuộc sống mà không là việc rộng truyền và nâng cao ngọn đuốc chánh pháp sáng rõ?
 Vì lẽ với cách phổ truyền chánh pháp đúng mực bằng cách chỉ ra những sai lầm tồn lưu nơi tự viện, chùa chiềng và cả những người xuất gia thì tôi sẽ tạo ra sự chống trái, tranh luận nơi những người học Phật. Có lẽ việc làm đó dễ thường gây ra việc dậy sóng nơi chốn tòng lâm, có thể tôi bỗng chốc trở thành kẻ phá hoại đạo Phật. Vậy nên im lặng, ẩn nhẫn, lui về sau nhận chén cơm thừa của bá tánh sẽ là chọn lựa của kẻ đã đặt thân ra ngoài thế sự với những tranh giành hơn thua, được mất, thành bại,…
Những điều tôi trình bày nơi blog doavouu có lẽ đã đủ để người đời nhận diện được giá trị đúng mực, sáng rõ của chánh pháp. Vấn đề còn lại chỉ là chữ duyên giữa mọi người, người học Phật chân chính với nội dung của blog Một thoáng phương Đông. Vì vậy một khi tôi khoác y áo cà sa sẽ đánh dấu sự dừng lại, sự yên nghỉ của một người biết đứng lui về sau.
Người học Phật ngày nay thật không dễ dàng nhận ra 2 chọn lựa có sự khác biệt rõ rệt ở quyết định xuất gia.
- Một là việc dấn thân rộng truyền hoằng dương chánh pháp. Nỗ lực tham học pháp Phật, ăn cơm của đàn na tín thí không uổng phí, hổ thẹn...
- Hai là việc trốn đời, lánh vào đạo. Chấp nhận làm người vô sự, vô vi, làm kẻ ăn bám hạng sang của xã hội.
Người học Phật chân chính ngày nay phần nhiều quyết liệt xuất gia là do nghĩ rằng sẽ được chân truyền pháp hành, chóng tiến tu, đạt được sự giải thoát hoàn toàn ngay nơi hiện đời. Họ tin rằng pháp hành ở những người xuất gia có chứa đựng điều kỳ đặc, khả dụng,… Thêm nữa, việc “cắt ái, ly gia” kết hợp với pháp hành chân truyền từ sư thầy sẽ giúp họ vãng sinh cực lạc.
Tuy nhiên, nếu khi chính thức “Cắt ái, ly gia” làm một sa di và nhận ra pháp hành nơi chùa chiềng không có sự cao siêu, kỳ đặc thì có không một sự bẽ bàng, hối tiếc.
Khi đó, việc không rõ chọn lựa lối đi nơi con đường xuất gia sẽ khiến những người học Phật với tâm nguyện chân chính ban đầu bối rối về sau. Thông thường những người học Phật mập mờ lối đi dễ sa ngã vào lợi dưỡng, lợi danh và tham đắm.
Tôi muốn nhắn gửi đến bạn điều gì?
Hãy thật sự chính chắn, sáng suốt trước những chọn lựa mang tính quyết định cho cả cuộc đời mình! Nếu tường tận, sáng rõ lối đi về sau thì dù ở đời hay trong đạo đều an lạc, tự tại. Bằng ngược lại khi không đủ đầy cái biết để chọn lựa thì dù tại gia hay xuất gia cũng đều có những hối tiếc, hụt hẫng giăng giăng.
Nếu vì móng cầu pháp hành kỳ đặc nhằm chóng giải thoát hoàn toàn có ở những vị thầy xuất gia thì đó sẽ là một tư duy, nhận thức sai lầm. Thật sự pháp hành của người xuất gia cũng chỉ quẩn quanh việc cúng cơm, niệm Phật, tụng kinh, trì chú, ngồi thiền,… và việc rời xa những chộn rộn nơi cuộc sống đời thường.
Bạn cũng đừng vội cả tin việc ít lo nghĩ về cuộc sống bon chen giúp bạn mau chóng đạt sự giải thoát hoàn toàn. Vì chính sự an lạc, thong dong của một kiếp sống nhàn hạ, ít va chạm khổ não sẽ gây ra sự chướng ngại con đường tiến tu của bạn bởi do việc tạo ra sự an lạc, tự tại giả.
Một kinh nghiệm cá nhân của tôi là tôi đạt được đóa vô ưu ngay khi ở đời thường. Và… Phật Thích Ca thành đạo khi ngồi thiền định nơi cội bồ đề chứ không nương gá vào một ngôi chùa xa hoa, tráng lệ.
Vậy nên quyết định xuất gia nhằm đáp tạ ơn Phật hay chỉ là sự trốn chạy khổ não, trốn chạy trách nhiệm bản thân cần phải được xác định đúng mực, rõ ràng ngay từ lúc khởi đầu.
Tôi là người rất nóng lòng mong cầu được xuất gia học Phật và tôi đã từng nhận ra sự vụng về, nông nổi của tự thân. Vì lẽ đó tôi mong rằng bạn đừng mắc phải sai lầm tương tự. Nếu thật sự đủ duyên thì việc xuất gia vào chùa tu học không hẳn là một chọn lựa tồi. Chúc bạn sớm “minh tâm, kiến tánh” để ra sức đáp đền ơn Phật và không cô phụ y áo, vật phẩm cúng dường của đàn na tín thí.
Tuy nhiên, nếu chưa thật sự đủ duyên thì bạn hãy thư thả, đừng quá vội vàng mà hối tiếc về sau.
Những năm gần đây xã hội lâm vào tình cảnh rối ren, hỗn độn do đời sống thực dụng gây ra. Vật chất quyết định ý thức con người khiến tình người ấm lạnh vô thường. Đã có không ít người chán ngán tư duy của trường phái duy vật - khoa học “Chết là hêt”, niềm tin duy tâm khôi phục, “sự tồn tại của thế giới tâm linh có hay không?” là câu hỏi không ngừng nảy nở, lan tỏa trong tái tư duy, nhận thức ở con người. Đặt biệt là ở tầng lớp trí thức nhiều hiểu biết và cũng nhiều hoài nghi, nhất là khi niềm tin vào duy vật bị phá vỡ. Một số lượng giới trí thức không nhỏ đã từ bỏ mọi thứ công danh, sự nghiệp, việc làm,… và cả vợ trẻ, con thơ để xuất gia tu học. Một số người xuất gia nhằm trốn chạy bon chen, khổ não đời thường. Số khác móng cầu học được pháp hành chân chính mau chóng ra khỏi luân hồi…
Có không ít giới trí thức học cao, hiểu rộng, có năng lực từ bỏ việc đời, chuyên tâm học đạo. Có lẽ điều này sẽ gây tổn thất cho xã hội không ít. Không chỉ vậy! Nếu không có định hướng chuẩn mực ban đầu thì người trí thức xuất gia học Phật sẽ nuối tiếc, ân hận về sau.
Trong số những người tôi quen biết cũng đã có một trí thức “Cắt ái, ly gia” vì mong cầu sẽ có được pháp hành chân truyền. Khi đó, tôi không có duyên được trao đổi cùng anh ấy. Anh ấy vốn là một trưởng phòng kỹ thuật của ngành điện lực có năng lực của huyện. Và cuộc đời ai lại chẳng có lúc thăng trầm, lúc ấy giống như tôi anh cũng tìm hiểu đạo Phật và rồi niềm thôi thúc mong cầu đạt đạo anh ấy đã từ bỏ tất cả - gia đình, công việc, địa vị xã hội,…
Tin rằng nếu đặt một câu hỏi với những người dũng mãnh xuất gia như thế câu hỏi “Anh có hối hận không khi quyết định xuất gia?” thì câu trả lời ở thời hiện tại và ngay lập tức sẽ là “Không”.
Quả thật, học Phật, tìm cách thoát ra mỗi khổ não, cả việc sinh tử luân hồi là điều tốt, đâu thể có sự nuối tiếc, ân hận. Nhưng…
Thực ra, nếu một mai việc vướng bận y áo cà sa cùng những ràng buộc nơi tự viện khiến người học Phật không thể tròn đạo hiếu, không vẹn nghĩa vợ chồng, không tròn trách nhiệm bổn phận làm cha, làm mẹ đối với con cái,… thì liệu có không sự ân hận dằn xé nội tâm?
Nhất là khi những âu lo, phiền muộn do không vẹn đạo đời khiến người xuất gia nóng vội không thể thông suốt pháp Phật. Ngoài ra, việc nuối tiếc không học được pháp hành chuẩn mực (do cạn nghĩ khi xuất gia sẽ được chân truyền) hoặc do chọn nhầm minh sư sẽ gây ra sự não hại thân tâm người học Phật.
Thậm chí ngay cả khi tỏ ngộ phần nào chánh pháp Phật Thích Ca thì liệu lòng người xuất gia có an lạc khi nghĩ đến cha mẹ, đến những đứa con thơ mà ta đã từng lạnh lùng dứt áo bỏ đi?
Đừng vội khỏa lấp “Đó là nghiệp của người”. “Ai đã tạo ra những đứa trẻ thơ?” mà bảo rằng “Là nghiệp của người ở lại”.
Thế nên, khi không thông suốt, sáng rõ thì sự ân hận, nuối tiếc sẽ gây não hại người xuất gia nông nổi, vội vàng.
Sẽ chẳng có phép hành chân truyền kỳ đặc nào ẩn giấu nơi tấm áo cà sa cũng như ở chùa chiềng, tự viện,…
Sống ở đời tùy thuận theo chánh pháp, học điều buông bỏ, giảm thiểu tham đắm, học hỏi kinh sách Phật dịch giải liễu nghĩa thì pháp hành người học Phật sẽ tự thông suốt, thấu đáo.
Tôi vì không muốn sự thôi thúc, nóng lòng đạt pháp ở người học Phật mà bao phen nhiều lời. Quả thật là tôi đã quá đa sự. Nhưng vì mắt thấy người học Phật cạn nghĩ vội “cắt ái, ly gia” từ bỏ mẹ cha già yếu, vợ dại, con thơ nên lòng cảm thấy bất nhẫn đành vụng về mở lời cảnh tỉnh.
Việc xuất gia hãy lấy yếu tố đủ duyên làm trọng. Đừng vội vàng, nông nổi mà người học Phật sẽ rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, đạo đời đều không trọn và sự dằn vặt ân hận, nuối tiếc khi ra quyết định không đúng thời, hợp lẽ.
Trong bối cảnh hiện tại việc xuất gia không hẳn sẽ đảm bảo được niềm kỳ vọng về sự tiến tu, vượt thoát luân hồi, đạt sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Có chăng việc xuất gia sẽ phần nào đảm bảo việc hậu sự cho những kẻ chùn tâm, thoái chí nẻo đời và việc dối láo “minh tâm, kiến tánh” ở không ít vị Tăng bảo tham đắm hư danh, lợi dưỡng sẽ khiến đạo Phật ngày mai bị rẻ rún, khinh thường (nếu không có một cách thay đổi tư duy, nhận thức nơi người học Phật).
Làm một người xuất gia hay một cư sĩ tại gia học Phật là một quyết định trọng đại, là một bước ngoặt quan trọng của cả đời người. Do vậy mỗi người hãy tự đánh giá, nhận định và tùy thuận đưa ra quyết định phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân cùng gia đình.

Trân trọng!