Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tử huyệt của đạo Phật ((P.3)

Sao lại có cả Văn Thù Sư Lợi hiện thân chất vấn Vô Ưu?
Đó là yếu tố huyền vẫn thường tồn tại nơi Tam Tạng kinh của Phật Thích Ca. Lẽ nào tôi lại sử dụng yếu tố huyền để điểm tô, làm gia tăng giá trị nội dung bài viết.
Có không sự hiện diện của một Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nơi cõi Phật?
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát kỳ thực không có thật. Văn Thù Sư Lợi Bồ tát chỉ là biểu tượng trí tuệ khách quan, trí tuệ bát nhã của Phật Thích Ca cũng như của tất cả mọi người, là một hóa thân bồ tát đưa ra những phản biện khách quan nhằm giúp người học Phật sáng rõ những vấn đề liên quan đến con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Đây là điều mà người học Phật không dễ dàng nhận biết.
Sự tồn tại tưởng chừng như có thật của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cũng như rất nhiều vị Phật, Bồ tát có nơi Tam Tạng giáo điển là do người Trung Hoa cổ gia công, chế tác ra, cùng với các cõi giới vô hình được thêm thắt, chia chẻ,… cả các cõi Tiên, cõi Phật hà sa khiến người học Phật và nhân loại ngày nay mê mờ sự chân ngụy, gây ra lỗi lầm hủy hoại sự đúng mực, sáng rõ nơi chánh pháp.
Về chất vấn của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát tôi sẽ lại trình bày.
Thực tế là đạo Phật thật sự suýt diệt vong nơi đất nước Ấn Độ vào thế kỷ 14. Cho đến đầu thế kỷ 19 thì đạo Phật mới được chấn hưng trở lại và công cuộc chấn hưng Phật giáo nơi đất nước Ấn Độ phần nhiều không do người học Phật bản địa Ấn Độ ra sức. Những người mộ đạo ở khắp nơi trên thế giới đã tìm về nguồn cội và ra sức gầy dựng lại một đạo Phật tưởng chừng đổ nát, diệt vong ngay nơi Đức Phật hạ sinh.
Và… ngày nay được sự công nhận của quốc tế “Đạo Phật là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, đạo Phật sẽ được tô vẽ, sơn phết, tạo hình thật đẹp đẽ, có phần nhàm chán trong ánh nhìn nhân loại.
Tuy nhiên, đạo Phật sẽ tồn tại vì đây đã là một nét văn hóa truyền thống và trên cả là trong lòng bạn đạo Phật luôn tồn tại.
Nguyên nhân dẫn đến sự sa sút của đạo Phật nơi Ấn Độ được mặc định là do sự bành trướng của đạo Bà la môn (Ấn Độ giáo) và về sau Hồi giáo càn quét đất nước Ấn Độ tận diệt đạo Phật khiến đạo Phật vốn đã rệu rã càng thêm thui chột, mất gốc.
Thật ra vấn đề không đơn giản đến thế. Thực tế là ngay khi Phật cùng những môn đệ chứng ngộ pháp vô sinh nhập diệt thì đạo Phật đã không còn có chỗ đứng vững vàng trong lòng người dân bản địa cũng như tầng lớp quản lý xã hội lúc bấy giờ - Thành phần Sát đế lợi (Vua chúa), Bà la môn.
Đạo Bà la môn vốn dĩ là tôn giáo gốc, tôn giáo truyền thống của người Ấn Độ nên số tín đồ rất đông đảo, hùng hậu. Thêm vào đó đạo Bà la môn dễ dàng du nhập, kế thừa, dung hòa giáo lý các tôn giáo khác. Đạo Bà la môn cũng đã dung hòa giáo lý Tam Tạng kinh cùng với việc đổi thương hiệu thành Ấn Độ giáo đã khiến người Ấn Độ quy thuận ngày càng nhiều thêm.
Sự thức thời của đạo Bà la môn đã triệt hạ sự thô ráp, cứng nhắc của đạo Phật lúc bấy giờ. Nhất là khi đạo Phật bị thiếu vắng một hướng đạo sư giác ngộ chân chính. Người Ấn Độ vì lòng tự tôn dân tộc đã theo về Ấn giáo bởi lẽ trên bình diện giáo lý của đạo Phật và Ấn Độ giáo không có nhiều sự sai khác.
Sự khác biệt quan trọng nhất giữa hai giáo lý là Ấn Độ giáo thừa nhận Thượng đế là tối thượng cùng sự hợp thể Thượng đế là sự giải thoát hoàn toàn. Còn đạo Phật không thừa nhận Thượng đế là Đấng Toàn năng và sự giải thoát hoàn toàn phải do mỗi người tự chủ nhận thức, tự lực hành trì.
Tuy nhiên, do không có giác giả ra đời chỉ lối và loài người bạc nhược vốn quen thói nương tựa, dựa dẫm mà đạo Phật ngày càng suy tàn. Dù rằng cũng có cội gốc bản địa nhưng thương hiệu chung chung, mang tính phổ quát mà đạo Phật không tìm được chỗ đứng vững chắc nơi bản địa, sau cùng sự vượt trội cùng tính khả dụng từ bi của giáo lý giúp đạo Phật vươn ra tầm thế giới. Còn Ấn Độ giáo lấy lòng người Ấn Độ bằng thương hiệu đặc thù dân tộc tính nhưng gặp nhiều chướng ngại khi vươn ra biển lớn nhân loại.
Tử huyệt lớn nhất của đạo Phật chính là yếu tố vô ngã. Người học Phật giác ngộ chứng đắc pháp vô sinh là phải sống được bằng vô ngã nhưng điều này quả thật không dễ. Đành rằng kinh Phật nói đến việc dính mắc cái ngã khiến con người đau khổ, luân hồi trong nhân quả không biết đến ngày ra.
Hãy chứng ngộ vô ngã để Thường an lạc tịnh! Đạo Phật ra đời nhằm đối trị lòng tham không cùng của con người.
Nếu người học Phật nhận biết rõ vô thường, tánh không của vạn pháp và thật sống với điều đó thì tham sân si mạn nghi tự giải trừ, con người sẽ trở về vô ngã tùy thuận sống vì người.
Nếu việc đối trị lòng tham ở người học Phật không thành thì người học Phật gần như vĩnh viễn không thể giác ngộ sự giải thoát hoàn toàn, tham sân si mạn nghi lấp đầy tâm hồn, tâm dính mắc phân biệt chủ quan sẽ không thể tựu thành Giác giả.
Đạo Phật với ngã - vô ngã cùng giáo lý bị nhạt nhòa đã không giúp người học Phật lúc bấy giờ tỏ ngộ sự giải thoát hoàn toàn.
Khi nào là ngã? Khi nào là vô ngã? Khi vô ngã thì được gì? Tại sao khi vô ngã lại trở nên Thường lạc ngã tịnh?...
Những câu hỏi này người học Phật không liễu ngộ pháp vô sinh đâu dễ tường tận trả lời vì lẽ đó giới Bà la môn đã triệt hạ đạo Phật trong lòng tầng lớp Sát đế lợi để tranh phần hơn sự bảo hộ cùng lợi dưỡng.
Dù rằng không ít người thuộc tầng phần Sát đế lợi sáng suốt nhận ra sự vi diệu, thậm thâm trong giáo điển Tam Tạng kinh nhưng thực tế đã không có một vị chân sư nơi đạo Phật nào đủ khả năng chứng thực sự đúng đắn, khả dụng, xác thực về con đường chánh pháp. Những câu trả lời nửa vời, không rốt ráo khiến tầng lớp Sát đế lợi mất niềm tin về đạo Phật và không bảo hộ xây dựng đạo Phật như trước nữa.
Việc đối trị lòng tham ở người học Phật thất bại kéo theo hệ lụy lòng tham, sự si mê ở tầng lớp Sát đế lợi, Bà la môn cùng mọi thành phần xã hội Ấn Độ khiến đạo Phật rệu rã, suy tàn. Sự tì đè của Ấn Độ giáo cùng sự càn quét, tận diệt đạo Phật của Hồi giáo sau này đạo Phật đã chết nơi mảnh đất Phật Thích Ca ra đời.
Càng về sau đạo Phật càng lạc lối. Một khi phương thuốc đối trị lòng tham trong mỗi con người cũng như trong lòng nhân loại bị đánh mất công dụng thì đôi khi phương thuốc đó gây ra tác dụng phụ là sự mê tín dị đoan, con người càng dùng càng thêm lắm bệnh.
Làm sao để từ ngã trở thành vô ngã, rồi từ vô ngã trở thành ngã?
Người học Phật không dễ dàng tường tận. Vì lẽ đó Vô Ưu sẽ dùng đến cụm từ Phá ngã nhằm trình bày sáng rõ vấn đề ngã - vô ngã.
Thực tế là mỗi người chúng ta đều đang dính mắc vào cái tôi, bản ngã của mỗi con người. Nhưng qua giáo lý đạo Phật người học Phật dễ dàng nhận ra cái bản ngã đó không có thật, không thường còn vì lẽ mắt tai mũi lưỡi thân ý… các bộ phận con người khi chia chẻ, tách rời chẳng thể tạo nên thằng người hay cái ngã trong mỗi con người.
Nếu lập luận khi không chia chẻ thì vẫn có thằng người, cái ngã. Tuy nhiên, sự vô thường có nơi vạn pháp khiến xác thân con người không còn mãi điều này thể hiện cái ngã không thường còn. Tham đắm, si mê, sân hận,… sẽ khiến cái ngã dính mắc nhiều khổ não, muộn phiền cùng sự trôi lăn nơi 3 cõi. Vậy nên hãy từ bỏ sự dính mắc chấp trước vô lối về cái ngã thường tại.
Chỉ cần tư duy, quán chiếu thực tế người học Phật sẽ nhận thức điều đó là sự thật và dần buông bỏ tham đắm, si mê, hoài nghi,… về sau việc phá ngã thành tựu đau khổ, muộn phiền không còn não hại được người trở về cái vô ngã chân chính.
Cùng với sự khai mở trí tuệ người học Phật sẽ chứng ngộ vô sinh, xé tan màng lưới vô minh cùng vòng luân hồi lẩn quẩn. Lúc bấy giờ một vị A la hán đã ra đời. A la hán chỉ đơn giản là người sống được bằng vô ngã, chứng ngộ pháp vô sinh thù thắng.
Dù đã trở về vô ngã nhưng A la hán cũng là con người bằng xương, bằng thịt cũng có sự uống ăn, đi đứng ngủ nghỉ. Duy có điều sự tham đắm, si mê, dính mắc đã giảm thiểu ngày càng giảm thiểu về sau tùy duyên vì người mà ra sức chỉ bày. Thế nên vô ngã kỳ thực không phải là sự mất đi hoàn toàn mà là cái ngã sống vì người không còn tham đắm, dính mắc. A la hán đã không còn bị việc sinh tử trói cột nhưng cũng không tùy tiện hủy mình nếu điều đó không là sự cần thiết.
A la hán cũng có nhiều cấp độ và tùy thời.
Nếu pháp Phật sáng rõ cũng như sự không cần thiết nhập thế cùng hạnh nguyện không dũng mãnh đền trả ơn Phật thì nhân loại sẽ ra đời một vị A la hán theo lối tu Tiểu thừa. Vị A la hán thuộc Tiểu thừa sống tùy thuận ở đời và có khuynh hướng hành trì “ve sầu thoát xác” rời bỏ cõi tạm càng sớm, càng tốt.
Nếu vì bi nguyện dũng mãnh đền trả ơn Phật cùng hạnh nguyện bồ tát phổ độ cứu khổ loài người, muôn vật thì nhân loại sẽ ra đời một vị A la hán theo lối tu Đại thừa. Vị A la hán theo khuynh hướng Đại thức ra sức rộng truyền chánh pháp, vì người gieo duyên. Khi việc làm đã xong tùy duyên lui về tịch diệt.
Tóm lại, tử huyệt của đạo Phật gói gọn nơi ngã - vô ngã.
Nếu người học Phật đối trị được lòng tham thì giáo lý của Phật Thích Ca vi diệu, thù thắng. Con đường học Phật, con đường chánh pháp sáng rõ, thênh thang, pháp vô sinh hiển hiện chân thật, Giác giả ra đời, loài người thức tỉnh, nhận diện sự vô minh, tham sân si mạn nghi tự giải trừ, đau khổ, muộn phiền nơi xã hội loài người tự giảm thiểu. Nhân loại bình an, ổn định, hạnh phúc, hằng sống nơi niềm vui và tình yêu thương chân thật.
Bằng ngược lại, người học Phật thất bại trước cám dỗ của lòng tham thì Tam Tạng kinh chỉ còn là một phế vật vô nghĩa, một liều thuốc đã mất đi sự linh nghiệm, tính hữu dụng. Nếu mê mãi lạm dùng thì nhân loại sẽ chìm sâu vào hàng loạt khủng hoảng, đảo điên, mê tín, cuồng tâm.
Tiếp theo là bài viết Điểm mù nhân loại, đây là bài viết sau cùng của loạt bài viết mới. Tôi sẽ tạm dừng viết bài mới.
Tuy nhiên, nếu còn thời gian tôi sẽ post loạt bài viết được hoàn thành từ lâu có trong nội dung của 9 bộ sách đã viết. Có thể nói nội dung đã được trình bày trên blog hiện nay đã là khá rõ ràng về việc tôi đã bơi qua sông, những bài viết mà tôi cạn nghĩ đã trình bày sự sáng rõ, đúng mực của chánh pháp nơi Tam Tạng kinh. Còn những bài post tiếp theo sẽ thể hiện tôi đã bơi qua sông như thế nào cũng như là việc gieo duyên đến mọi người.
Thêm nữa, nếu các bạn có những điều chưa thông suốt về cả hai nẻo đạo đời và có chút yên tâm về sức hiểu của tôi thì hãy đặt vấn đề. Khi có đủ khả năng trình bày rành rõ vấn đề thì tôi sẽ tận lực.
Sau một khoảng thời gian nhất định, nếu không có những vấn đề liên quan đến con đường chánh pháp cần mổ xẻ thêm thì tôi sẽ lui về sau. Vì lẽ khi con đường chánh pháp đã minh bạch, sáng rõ thì tôi nên lui về sau và không nói thêm những lời vụng về.

Trân trọng!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét