Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Xuất gia - Tại sao không?(P.1)

Nhật ký một thời vụng dại:
Đêm nay mượn rượu để mà say
Cho chếnh choáng trên đường dài lạc lối
Trăng 16 sao nẻo đời u tối
Nhắp mãi chén men nồng,
Sao chẳng ấm chút niềm riêng?

Sau một cơn say, ta chợt nhận ra ta chỉ là một đứa trẻ bơ vơ trong cuộc đời muôn lối. Trong giấc mơ, dường như  ta đang ở một nơi nào đó thật xa xăm. Có lúc ta nhận ra là ta đang tỉnh nhưng ta lại không giống người đời, không tranh danh, đoạt lợi nên người đời bảo “Ta điên”.
Ừ! Có lẽ ta điên thật. Nếu có thể điên để cho người đời tỉnh thì có gì đáng để hối tiếc.

Sóng vẫn ngàn năm vỗ về
Bờ cát trắng
Vết chân trần
Ai quên
Bỏ lại giữa ngàn thông
Kẻ lại người qua
Vô tâm với vết chân trần
Chỉ có một gã khờ
Ngồi giữ
Sợ sóng vô tình cướp mất
Dấu chân yêu…

Thật đáng tiếc! Ta cứ chập choạng bước đi. Ta lầm lạc giữa đời và Đạo.
Không ít lần ta tự hỏi “Ta sinh ra làm gì? Có thật ta sinh ra để lớn lên, già, bệnh và chết?”
Thật vô vị! Ta vô vị, người vô vị.
Bản chất thực sự của cuộc sống là gì?
Ta cũng từng có lúc tự phụ  thông minh nhưng sự hiểu biết của ta không có lời giải cho những câu hỏi đó. Sự hiểu biết không giúp ta an tâm, ta tiếc gì không vứt bỏ.
Ta tìm đến kinh sách Phật. Phật thuyết “Vạn pháp do duyên sinh, do duyên mà diệt”. Hãy sống ở giây phút hiện tại! Đừng tìm về quá khứ vì quá khứ thì đã qua; Đừng mơ mộng về tương lai vì tương lai thì chưa tới. Hãy đón nhận những mầu nhiệm của cuộc sống trong từng thời khắc hiện tại.
Có đôi lúc ta nghĩ đã ngộ ra nhưng rồi lại lầm lạc.
Đằng sau những tấm áo Cà sa ẩn chứa điều gì?
Còn nhớ những ngày chưa từng nếm trải sự vô ưu thường lạc, lúc bấy giờ sự hiểu biết tôi thật ngây ngô, nông cạn,… Nghe người nói “Tu tại tâm” nhưng tôi không thể tường tận “Tu là gì? Tu cái gì? Tại sao lại là tu? Tâm là gì?...”. Rồi nghe “Tâm bình thường là đạo?” thế là tôi lại tự hỏi “Sao lại là tâm bình thường? Có tâm bình thường vậy sẽ có tâm không bình thường? Tâm bình thường là tâm như thế nào? Tâm không bình thường là tâm ra làm sao? Đạo là gì? Đạo và Tâm là 1 hay 2, là giống hay khác?...”. Càng tự hỏi càng rối trí, tôi thật sự chẳng thể rõ “Thế nào là tâm, là đạo?”.
Kinh điển, sách Phật mà tôi tham khảo không thỏa mãn sự hiểu biết vốn dĩ rất giới hạn của tôi về đạo Phật ở thời điểm sơ khai tìm học Phật. Những kiến thức tồn lưu nơi kinh sách chỉ là những sự hiểu biết góp nhặt chung chung, thiếu tính thực tế, xác đáng,… Hỏi người thì chỉ được nghe “Hãy tu đi! Hãy hành đi!” nhưng “Tu cái gì? Hành làm sao?” chẳng ai chỉ rõ để tôi có thể tham khảo, lĩnh hội.
Tôi đã từng cạn nghĩ “Có lẽ chỉ khi xuất gia thì pháp hành, cách tu mới được sư thầy - Thành phần Tăng bảo truyền dạy. Thuở ấy, tôi rất chán ngán đời sống bon chen, giựt giành vô lối. Lòng tôi mong cầu Phật pháp có thể giúp tôi thảnh thơi, an lạc, tự tại, xa rời khổ não thế gian. Có một niềm mong cầu mãnh liệt thôi thúc tôi xuất gia để có được pháp hành đúng mực. Ngoài ra, tôi cũng muốn xa lánh cuộc đời chộn rộn, nhiều lo nghĩ. Sau cùng, tôi đã xin gia đình được xuất gia.
Thế nên, tôi phần nào thấu hiểu sự thôi thúc xuất gia ở những người học Phật, nhất là khi họ nghĩ rằng “Việc xuất gia sẽ góp phần giúp họ tiến tu do được Tăng bảo chân truyền pháp hành của Phật”.
Tuy nhiên, thực tế là pháp hành ở người xuất gia vốn dĩ không có sự kỳ đặc, cao siêu nào cả. Thật sự không có một pháp hành chân truyền nào được gìn giữ từ gốc tích Phật Thích Ca, tất cả pháp hành trong tự viện ngày nay phần nhiều do các sư thầy tùy nghi quyết định. Đa phần những pháp hành dựa trên tính chủ quan của vị sư trụ trì, sự cục bộ này vô hình chung gây ra sự ngăn che, chướng ngại việc khai mở trí tuệ bát nhã ở người học Phật.
Thật vậy, khi vào chùa tôi được thầy giao phó việc nhang đèn, dâng trà, cúng cơm,… ngày 3, 4 thời tụng niệm. Thi thoảng tôi đặt câu hỏi “Tâm là gì? Đạo là sao? Tu hành là làm những gì?...” tất cả đều không được thầy trả lời rốt ráo. Sau đó, tôi dần nhận ra pháp hành của ngôi chùa tôi đang tham học chỉ đơn giản là việc cúng cơm, đánh chuông, gõ mõ, tụng kinh 4 thời cho người đời và cõi giới vô hình biết. Đó là tất cả pháp hành xuyên suốt của ngôi chùa đầu tiên tôi tập tành học Phật. Vì thầy tôi theo lối tu mật tông nên chú trọng trì tụng kinh Thủ Lăng Nghiêm nhưng tôi lại có xu hướng thích sự tĩnh lặng của thiền định. Sự tu học của tôi vô hình chung đã có sự chướng ngại, dù vậy những khi rảnh rỗi tôi tập tành việc tham thiền. Do việc dừng lặng tâm, kết hợp trì chú Thủ Lăng Nghiêm và ngôi chùa tôi đang nương gá vốn là một ngôi chùa khá cổ (yếu tố rước vong về chùa khiến trong chùa có không ít chúng sinh nẻo vô hình nương náu) nhờ vậy mà tôi dễ dàng gặp những thần thức vô hình. Tôi đã từng rất kinh sợ. Lần 1, lần 2,… rồi dần quen, có lẽ do việc thiền định và không nhiều vọng chấp nên tôi không còn hoảng loạn khi chạm phải những chúng sinh nẻo giới vô hình. Thật sự chúng sinh nẻo vô hình mà tôi tiếp xúc không thể giúp tôi sáng dạ thêm về con đường học Phật.
Có thể tạm nói thần kinh của nẻo giới này có vấn đề bởi do họ không thể trả lời rành rõ những câu hỏi đơn giản về chính họ. Có một sự rối ren, hỗn độn nơi ký ức của họ, có thể gọi đó là sự đan xen của tâm trí nhiều đời nơi ký ức của tâm ý sự sống.
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét