Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Sự trần trụi của xã hội loài người phơi bày qua cái chết của cô gái trẻ

Thấy gì nơi những dòng nhật ký trước khi chết?
...
Tháng 9 năm 2007, với tôi sinh ra trong một gia đình nghèo ở nông thôn không phải là bi kịch. Mà bi kịch sẽ là nếu tôi không thể thoát ra khỏi cuộc sống nông thôn. Tôi chắc chắn sẽ trở thành một cư dân thành thị sau khi rời khỏi giảng đường đại học.
Tôi đã từng than phiền rằng Chúa thật sự không công bằng với tôi. Chúa đã để tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng lúc này đây tôi sẽ không nghĩ như vậy nữa. Gia đình đã khiến tôi mạnh mẽ và trưởng thành hơn.
Tháng 5 năm 2008, tôi không thể tin được để kiếm được một công việc part-time lại khó khăn đến thế. Có đến 200 sinh viên để nhận làm tiếp tân bán thời gian. Tôi không thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra khi tôi tốt nghiệp nữa.
Ngày 9 tháng 10 năm 2008, tôi là sinh viên đại học nhưng tôi lại không thể tìm ra một việc làm. Làm sao tôi có thể trở về nhà sau khi tôi tốt nghiệp đại học được?
Tôi cảm thấy rất mệt, tôi muốn ngủ một giấc và không bao giờ còn thức dậy nữa. Tôi sẽ làm việc ư? Ai sẽ có thể cứu tôi? Ngoài bố mẹ ra, tôi không còn luyến tiếc gì trong thế giới này nữa.
Ngày 18 tháng 10 năm 2008 - Trang nhật ký cuối cùng.
- Tại sao lại quá khó như vậy?
- Tại sao lại quá khó như vậy?
Đó là những dòng nhật ký cuối cùng của một cô sinh viên năm cuối ở Trung Quốc. Chỉ vài ngày sau khi viết những dòng nhật ký ấy, cô gái đã trầm mình xuống dòng nước bên bến xe buýt. Và không bao giờ người cha khốn khổ được được nhìn thấy cô để đưa đứa con gái của mình đến trường, để dặn dò, để được nghe đứa con gái bé bỏng ấy nói thêm điều gì nữa… Cô ấy đã ra đi thật rồi dù cô nói với bố rằng: “Bố mẹ đừng lo cho con, con vẫn ổn”.
Lời bình của tác giả Trang Vũ:
Cô ấy đã chọn cái chết vì cô ấy đã cùng quẫn trước cuộc đời, trước một xã hội mà cô không thể tìm thấy một công việc bình thường, để kiếm tìm phụ giúp bố mẹ khi cô đang là sinh viên năm cuối. Cô ấy giày vò, ân hận khi thấy mình chọn nhầm đường, cô nên ở nhà và đi làm còn hơn là quyết tâm theo học đại học để rồi ra trường chẳng kiếm được công việc nào, mà khoản tiền vay cho cô ăn học thì ngày càng lớn.
Tôi hiểu cô gái ấy đã phải sống trong nỗi lo lắng, sự đau khổ và ân hận kéo dài, nó kéo dài đến mức làm cô ấy tiều tụy trong mắt người cha vào ngày gặp mặt. Ngay cả tôi cũng nhiều lần đi qua chiếc gương nơi cái cầu thang tối và đôi lúc cũng không còn nhận ra mình nữa.
Trung Quốc có bao nhiêu sinh viên ra trường thất nghiệp? Còn Việt Nam là bao nhiêu? Hay trong số những người thất nghiệp như tôi, như chúng ta chẳng ai tự tử hay biết bao người “ra đi” mà không để lại dòng nhật ký nào? Mà thiên hạ vẫn đổ lỗi cho họ là “lũ ngu, suốt ngày chỉ thất tình là tự tử”, hay là chúng ta đã quá chai lì trước những nỗi đau?
(Lược trích từ KTNN số 825)
Lời bình của kẻ thương một kiếp người - latuan:
Cám ơn tác giả Trang Vũ về bài viết!
Bài viết đã đọng lại nơi tôi một niềm đồng cảm xót xa. Xã hội con người hiện đang đi về đâu khi những lớp hàng rào giao cảm, ngục tù tâm hồn, tình người đang dựng lên ngày một cao vút và nhiều tầng lớp?
Tình yêu, hạnh phúc, cơm áo gạo tiền, công danh, sự nghiệp, địa vị,… đang trói chặt gần như tất cả loài người.
Rào cản tự hào dân tộc được dựng lên. Việt Nam- Trung Quốc tình đồng chí biểu tượng giả trá, ngụy tạo đang dằn xé với những oán thù xa xưa, và việc giành giật lãnh thổ, lãnh hải biển Đông. Lòng tự hào dân tộc được kêu gọi để kích động thù hằn, ganh ghét. Nhưng đâu ai chịu lắng lòng để nhận biết người dân thường Hoa - Việt vốn không mặn mà trong việc tranh cái ăn, miếng ở một cách thô bỉ, hèn hạ. Điều mà người Hoa, người Việt cần chỉ đơn thuần là được sống bình yên, ấm no.
Vậy ai đã tạo ra sự xung đột, chống trái giữa hai quốc gia Trung - Việt?
Đó chỉ là lòng tham và sự cùng đường của thành phần chính khách, giới lãnh đạo đất nước đầy tham vọng, xấu xa và ngu dốt. Họ đang cố che đậy những vết rạn nứt nội tại bằng việc đi cướp bóc bên ngoài, bằng việc khỏa lấp, che đậy năng lực yếu kém, tầm nhìn thiển cận. Họ đang cố che mắt và lừa mị người dân rơi vào âm mưu thao túng độc tài, bá quyền của họ.
Mạng sống của họ cao quý nhưng mạng sống người dân là những đống phân rác thối tha, bẩn nhơ đáng vứt đi. Mộ xác đồng loại đang đắp cao để nâng tầm vị thế và quyền lực của giới lãnh đạo đê hèn.
Tham vọng bá quyền của giới lãnh đạo Trung Quốc nhằm giết bớt người dân hòng giảm tải dân số, giải quyết những bất ổn nội tại trong lòng người Trung Hoa. Người dân Trung Hoa ném mạng sống vào việc giành giật và giới chính khách thu về đất đai, lãnh hải rộng lớn nhằm trang trải cho những khoản vay nước ngoài tới hạn.
Thêm nữa, khi nắm được bá quyền trong tay thì liệu còn có ai dám chạm đến giới lãnh đạo Trung Hoa?
Kế sách “Ngao sò tương tranh, ngư ông đắc lợi” quả nhiên là giải pháp “Vẹn toàn kỳ mĩ”.
Những khuất tất, dối gian trên liệu người đời có mấy ai rõ biết?
Dựa vào góc nhìn phiến diện, lệch lạc con người đang khơi gợi lòng tự hào dân tộc hay nói khác hơn là kích động hận thù của những kẻ không thấu rõ lẽ đời. Việc làm nhằm cuốn người dân thường Việt - Trung vào quỷ kế thâm hiểm của giới cầm quyền bá đạo.
Hận thù nung nấu, tích góp rồi Việt Nam- Trung Quốc sẽ về đâu?...
Phải chăng con người đang lạc lối bởi tư duy, nhận thức, ý thức, sự hiểu biết bị chủ nghĩa thực dụng thao túng, tham sân si mạn nghi đang trói chặt con người?
Hãy dừng lại, lắng lòng nhìn thẳng, nói thật về quá khứ và thực tại. Đừng đắm chìm nơi hiện tượng vấn đề, hãy tựa vào bản chất vấn đề mà quán xét.
Có bao giờ giới chính khách, thành phần lãnh đạo đất nước, xã hội thật sống vì người dân, dân tộc không?
Có… nhưng một chút thôi. Còn phần nhiều là họ sống cho lòng tham của chính họ cùng bè đảng tay sai. Những chiếc bánh vẽ đã được tạo ra và trang trí sặc sỡ, đẹp đẽ chỉ nhằm bòn rút tiền người dân khốn khổ, bần cùng.
Vươn lên tầm cao mới, nâng tầm vóc dân tộc, phát triển đất nước thành thần long, mãnh sư kinh tế - chính trị,… nghe thật hoành tráng, kỳ vĩ.
Nhưng ai đã là người được lợi?
Chỉ thấy người dân thường Trung Quốc cùng quẫn, mưu sinh; người dân Nhật Bản khốn khổ, tự giam đời mình; người dân Hoa Kỳ hoang mang, bấn loạn, chênh vênh không rõ biết tương lai sẽ đi đâu, về đâu?
Không riêng gì Châu Á, Châu Âu phần lớn giới chính khách, thành phần lãnh đạo, xã hội con người ở những châu lục còn lại đang nhiễu nhương, xáo rộn khôn lường là vì lẽ gì?
 Sự giả trá, đê hèn, ti tiện, gian xảo bộc lộ rõ nét, hằn sâu nơi giới thượng lưu và hệ thống công quyền trên toàn thế giới cũng như ở mỗi nước. Dường như không có một nhóm nhà quản lý đất nước, xã hội nào là ngoại lệ trên bức tranh đa sắc màu chính trị cả 5 Châu. Đáng thương cho kiếp người toàn nhân loại. Loài người tự phụ thông minh nhưng rất đỗi yếu hèn còn mong chờ gì nơi tương lai chỉ là những chiếc bánh vẽ khổng lồ, hảo hạng.
Đừng vội nhận định tôi sống tự ti, bi quan mà vẽ một bức tranh nhân loại với một gam xám xịt, u tối, gây nhiễu loạn lòng người.
Hãy nhìn thẳng vào thực tế. Tôi biết bạn là người rất thực dụng hoặc ít ra đã bị lối sống thực dụng xâm thực ít nhiều. Hãy nhìn vào vóc dáng, kiểu hình của giới chính khách mà với bạn là gần như bất khả xâm phạm. Sự bật khả xâm phạm vì lẽ chỉ khẽ chạm đến bạn đã mất mạng hoặc bị tù đày bức ngặt.
Vì một sự an toàn cần thiết cho cá nhân bạn chỉ nhìn và thầm đánh giá giá trị thật của lời nói, của con người họ.
Nếu với bạn quá khó để nhìn thấu rõ bản chất của một con người thì bạn hãy nhìn gia sản, “của chìm, của nổi” nơi cá nhân, dòng tộc chính khách, giới quản lý đất nước bạn sẽ biết họ đã thật sống, thật giàu vì ai?
Bạn hãy nên thật khách quan, tổng thể mà nhìn nhận toàn cảnh giới chính khách vì điều đó rất cần thiết. Bởi lẽ ta không thể chủ quan, cạn nghĩ chỉ có “Một con sâu mà làm rầu cả nồi canh”.
Đừng chỉ nội soi trong nước, hãy mở lòng ra với thế giới bên ngoài giới chính khách, thành phần quản lý xã hội nơi 5 Châu phải chăng cũng không có nhiều khác biệt?
Đừng vội thất vọng vì thực tế rất nghiệt ngã, phủ phàng, bi thảm. Bởi lẽ tôi muốn bạn sống thật và xây dựng tốt hơn cuộc đời của chính bạn cùng gia đình, dòng tộc.
Bạn hãy tự ý thức rằng bạn không thể bịt mắt, che tai và ảo tưởng một cuộc sống thật đẹp từ những trang sách hồng mà tuổi học trò bạn được “nhồi sọ”. Bạn hãy đổi lối tư duy, cách nhìn về cuộc sống. Đừng cố sống bằng niềm tin và hy vọng về “Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn”. Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra nếu bạn không ra sức dựng xây bằng vào sự hiểu biết khách quan, sáng rõ, đúng mực của tự thân.
Bạn hãy nhìn, chấp nhận sự thật là cuộc sống vốn đầy dẫy sự bất toàn và từ sự bất toàn nơi cuộc sống bạn, chính bạn chứ không ai khác phải mày mò, góp nhặt, tích lũy, tạo ra những điều tốt đẹp bình dị, gần gũi. Đó chính là lối thoát duy nhất tươi đẹp mà bạn có thể xây dựng cuộc đời bạn và xã hội con người.
Cũng đừng vội tẩy chay giới chính trị bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, trái đức và tạo ra đấu tranh, chiến loạn.
Điều đó không ích gì?
Bạn không thể giải quyết bản chất vấn đề bằng việc sửa sai nơi hiện tượng, biểu hiện của vấn đề. Dù máu bạn và loài người có chảy thành sông cho những cuộc thay đổi xã hội kiểu nửa vời. Giới chính trị đê hèn, ti tiện, bất tài hiện tại bị lật đổ thì giới chính trị kế thừa cũng sẽ lại sống trên máu, nước mắt người dân.
Vậy lối thoát nào cho nhân loại?
Phải chăng sẽ không có một lối thoát nào cho một xã hội con người bình yên, tốt đẹp, hài hòa hơn?
Nên chăng xóa sổ hoàn toàn giới chính trị giả trá, thành phần quản lý xã hội nhiều lọc lừa?
Việc xóa sổ hoàn toàn giới chính khách ở thời điểm hiện tại là chưa thật cần thiết và hợp thời. Có một sự thật không thể chối cãi là giới chính khách, thành phần quản lý đất nước vốn có giá trị thật sự. Họ tạo sự gắn kết xã hội, họ có biết sống vì người dân, cộng đồng đó là sự thật.
Nhưng do sự hiểu biết bị giới hạn, tầm nhìn kém cỏi, tư duy nông cạn,… mà họ - giới chính trị đã tạo ra những sai lầm không dễ sửa sai và gần như không thể thứ tha.
Tuy nhiên, hãy cho họ một cơ hội cũng như là cho chính mỗi người một cơ hội để sửa sai triệt để, toàn diện.
Do hiểu biết giới quản lý đất nước rơi vào phiến diện, tin sâu khoa học thực thể và chủ nghĩa duy vật chủ quan họ đã trói nhận thức, tư duy nhân loại vào “Chết là hết” nên đã khiến loài người sống vùi trong lòng tham, ích kỷ cùng vô vàn thói tật xấu xa. “Chết là hết” đã khiến chủ nghĩa thực dụng xâm thực toàn bộ tâm hồn, cách sống của cả loài người. “Chết là hết” tạo ra viễn cảnh một xã hội loài người hỗn mang, rối ren, điên đảo với vô số thiên tai, dịch họa, chiến tranh, thù hận và tràn lan chủng loại khủng hoảng.
Vậy lối thoát thực sự cho xã hội con người là gì? Có không? Và còn kịp lúc không?
Có và hiện tại vẫn còn kịp lúc. Và người có thể làm điều đó chính là bạn. Bạn đừng vội tự ti, bạc nhược, trốn tránh giá trị đúng mực của chính mình bằng tư duy hẹp kém gắn chặt và đè nặng gần như xuyên suốt cuộc đời bạn “Ta nhỏ bé, ta hèn kém, ta “thấp cổ, bé miệng””.
Tôi cũng là người rất nhỏ bé, thấp thỏi nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc sự hiểu biết của tôi hẹp kém, mụ mẫm cùng tư duy, nhận thức mê mờ, chủ quan.
Hơn nữa, tôi cũng không kêu gọi bạn lao vào những cuộc đấu tranh sống còn vô nghĩa. Bạn chỉ việc đặt giới chính trị, thành phần quản lý xã hội vào đúng vai trò, vị trí, và giá trị đúng mực của họ bằng vào việc tiết giảm quyền lực sinh sát, khả năng thao túng, lũng đoạn xã hội con người ở họ.
Nghe chừng thật khó thay. Chạm đến giới cầm quyền thật rất nhiều rủi ro, hung hiểm. Mạng sống tôi, gia đình tôi, dòng tộc tôi không thể ném vào trò chơi “Đùa với lửa” nhiều mạo hiểm này.
Tôi không từng có ý định đặt bạn vào tình cảnh khó xử, hung hiểm. Thế nên tôi không buộc phải ra sức sửa sai họ mà là hãy sửa sai chính mình. Đó là cách thức làm mà không làm, không làm mà không gì không làm không thể nghĩ bàn mà các bậc thánh nhân thường uyển chuyển vận dụng.
Để rõ hơn vấn đề này tôi sẽ biện giải thêm. Tôi chỉ mong rằng bạn tìm lại cuộc sống của chính bạn bằng vào sự hiểu biết, tư duy, nhận thức đúng mực, khách quan, sáng rõ. Bạn hãy dừng lại, chiêm nghiệm lại nhằm thấu rõ cuộc sống nơi xã hội và của chính mình.
Giới quản lý đang hô hào khẩu hiệu đã lạc hậu, lỗi thời “Phát triển, phát triển và phát triển” và các khoản thuế, phí theo đó mà phình to, sinh lợi cho giới quản lý xã hội. Dù rằng được tuyên truyền là ích nước, lợi nhà. Kết quả là những dinh thự, cơ sở công quyền, lâu đài của giới chính khách ngày càng trở nên xa hoa, lộng lẫy.
Hình tượng của đất nước ư?
Không. Đó chỉ là hình hài của con rắn bệnh, là sự trưởng giả nơi một số ít người khoác lên người chiếc áo đại diện dân tộc. Một thực tại phủ phàng, nghiệt ngã là đại bộ phận người dân lao động đang rơi vào sự túng quẫn, khốn cùng về vật chất lẫn tâm hồn. Điều này cho thấy rằng “Giới chính khách thượng tầng và người dân cùng khổ đang cách biệt ở hai tầng trời xa vợi”. Đôi khi, một vài lời động viên môi miệng, chút ít hành động xoa dịu nỗi đau mà không có nhiều giá trị thật vì giá trị thật đã chui tọt vào lòng tham của con người.
Bạn hãy dừng lại chiêm nghiệm “Phải chăng giá trị của ngần ấy năm phát triển, phát triển,… là một sự đánh mất?”. Vật chất, tiền của sau những năm tháng tích lũy ngỡ như giàu lên, hạnh phúc hơn nhưng đánh đổi bằng sự mất giá trị cuộc sống, lạm phát kinh tế, trượt giá đồng tiền, tình cảm nguội lạnh bán mua, gia đình chỉ là một sự nương gá tạm bợ.
Sự ích kỷ, thực dụng chia rẽ, ngăn cách tình người, vật chất được đánh đổi bằng sự mệt nhoài, hối hả, và không biết rồi ngày mai sẽ ra sao?
Hạnh phúc đơn sơ, bình dị dường như bị đánh cắp khỏi đời sống con người.
Thật ra bạn đang được hay dần mất cả. Gia đình, con cái, dòng tộc, tình làng nghĩa xóm,… chỉ còn chút dư vị đắng chát nơi cụm từ “Phát triển, phát triển, phát triển”, “Thuế, thêm nhiều thứ thuế. Tất cả chỉ là thuế”…
Nếu bạn nhận ra thật sự bạn đã sai và xã hội loài người đang xây dựng bằng một sự sai lầm tệ hại thì bạn hãy tự sửa sai nơi cuộc đời mình.
… Dừng lại …

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Đạo, đời và tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu P.3)

Ở phần II, ngoài việc trình bày những vấn đề liên quan đến Phật giáo và các tôn giáo thuộc về Thần giáo, tôi sẽ trình bày thêm Lão giáo - Là tôn giáo đã đóng góp nhiều tri thức giá trị cho sự hiểu biết của nhân loại. Tuy nhiên, do tư tưởng bất tranh của đạo và sự hiểu biết hạn chế của người đời sau nên nguồn tri thức quý giá trên bị quên lãng, đánh mất giá trị thực tiễn.

Tôn giáo cũng gồm phần vật chất hữu hình và phần tâm linh vô hình.
Khác biệt của đạo và tôn giáo là đạo mang tính tự nhiên, tôn giáo lại chịu nhiều sự chi phối của con người nên có phần chủ quan, áp đặt.
Tuy nhiên, thật không dễ phân định tôn giáo và đạo. Do tôn giáo là sự chuyển thể của đạo khi sự hiểu biết và tâm phân biệt của con người nâng lên.
Thực ra hiểu biết con người không dừng lại ở nhận định con người và vạn vật do trời tạo ra. Họ đưa ra thêm nhiều giả thuyết về nguồn gốc của sự sống là nước, không khí, lửa,… Từ những giả thuyết đó con người đã tạo ra nhiều tôn giáo thờ những Đấng quyền năng khác nhau Thượng Đế, Thánh Ala, Đức Chúa Trời, Thần Lửa, Thần Nước,… 
Quay thời gian ngược lại hàng ngàn năm trước, khi sự hiểu biết con người còn hạn chế, lòng tham đã khiến con người tranh giành đất đai, tài sản lẫn nhau. Các nước lớn đã xâm lấn, cướp bóc các nước khác bằng sức mạnh của phần thuộc tính con trong con người. Sự tàn bạo dã man trong việc cai trị của các nước lớn khiến người dân ở các nước bị chiếm đóng khốn cùng, rất nhiều cuộc đấu tranh, phản kháng nhỏ lẻ diễn ra và nhanh chóng bị đè bẹp.
Nguyên do sự thất bại của các cuộc đấu tranh là mang tính tự phát, thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết. Nhằm củng cố vai trò thống trị, giới cai trị đã tiến hành những cuộc trừng phạt đẫm máu khiến người dân các nước thuộc địa thêm căm hận, uất ức, tinh thần tự tôn dân tộc được nuôi lớn dần.
Lúc bấy giờ, con người đã có niềm tin, con người được một Đấng quyền năng nào đó tạo ra. Trong số những người tổ chức các cuộc đấu tranh phản kháng, có người đã nhận ra nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh và họ cũng có những hiểu biết nhất định về thế giới tâm linh. Họ sắp đặt, chuẩn bị một kế hoạch hoàn hảo. Họ tạm dừng các cuộc đấu tranh, bỏ vào những hang động, chuyên tâm thiền định nhằm tìm hiểu thêm về cõi vô hình và vạch ra những kế hoạch mới nhằm giúp dân tộc thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước xâm chiếm.
Khi thời cơ đến, họ xuất hiện với vai trò là hóa thân của Đấng quyền năng mà dân tộc họ tôn thờ. Việc làm này được tiến hành từng bước với sự xuất hiện của nhà tiên tri và những lời sấm truyền.
Kết quả họ đã thành công vì những người dân với niềm tin được sự hỗ trợ của thần linh đã đoàn kết lại, vùng lên mạnh mẽ, bất chấp mạng sống.
Tinh thần quật khởi đó đã đánh bại quân đội lớn mạnh của các nước xâm chiếm. Giành lại được chính quyền, những người lãnh đạo nhận thấy giá trị của phần tâm linh trong tinh thần của con người, họ tiếp tục duy trì đức tin trong lòng người dân để dễ bề cai trị và thuận lợi cho việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Giáo lý, kinh điển, lời răn, điều luật, lời tiên tri,… được xây dựng và dần hoàn chỉnh. Điều này tùy thuộc vào tính khách quan, tư dục, sự hiểu biết về tâm linh của những nhà lãnh đạo tinh thần và bối cảnh xã hội khi tôn giáo đó ra đời.
Tuy nhiên, càng về sau tính chủ quan và tư dục đã bộc lộ trong các điều luật vì lẽ chúng tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho giới cầm quyền, cho các thành phần lãnh đạo tôn giáo,…
Tiêu biểu cho dạng tôn giáo xây dựng theo kiểu mẫu trên chính là Kitô giáo và Hồi giáo.
Kito Giáo:
Khi đất nước bị xâm lược, người dân Israel đã không có sự đoàn kết nên không đủ sức giành độc lập, tự do dân tộc. Một nhóm người có hiểu biết về Thần giáo đã nhận ra muốn khôi phục chủ quyền đất nước cần phải dựa vào yếu tố tâm linh. Họ tạo dựng ra vị giáo chủ mới - Chúa Jesu ra đời là con của đức Chúa Cha.
Kito giáo đã thành công trong việc giành lại độc lập, chủ quyền quốc gia. Để duy trì sự phát triển và tồn tại chủ quyền quốc gia, các nhà truyền giáo đã xây dựng hệ thống giáo lý, kinh điển mới có nhiều khác biệt so với nguyên bản cho phù hợp với tình hình xã hội, tương quan với sự hiểu biết tiến bộ của con người.
Việc làm thiện, tích lũy phước đức, tu bồi đạo đức, phẩm hạnh - Là nền tảng cho sự ổn định, phát triển xã hội vẫn được duy trì. Xóa bỏ chế độ đa thê. Nghiêm ngặt trong chế độ gia đình, xây dựng cuộc sống gia đình một vợ một chồng, tổ chức cuộc sống có phần khoa học hơn.
Kito giáo chú trọng vấn đề vật chất hơn, không đào sâu, tìm hiểu vấn đề tâm linh. Các nhà lãnh đạo Thiên Chúa, Tin Lành giữ đạo bằng việc trói buộc tín đồ vào niềm tin. Niềm tin kiên định không đặt ra những câu hỏi hóc búa, gai góc truy nguyên nguồn gốc của Chúa Jesu và Đức Mẹ Maria,...
Tinh ý, bạn sẽ nhận ra Kito giáo là tôn giáo đã được tư tưởng phương Tây đồng hóa. Tuy nhiên, Kito giáo vẫn phó thác số phận cho Đấng quyền năng, xin tội và cầu nguyện. Con người là do Thượng đế, do Chúa Cha tạo ra.
Về sau tư dục của những người lãnh đạo tinh thần đã chia Kito giáo ra làm Công giáo La Mã, Chính Thống Giáo Đông Phương, Anh Giáo, Tin lành, các nhóm Kito giáo độc lập,...
Hồi Giáo:
Cũng như Kito giáo, dựa vào yếu tố tâm linh các vị thủ lãnh tinh thần đã giành lại được vai trò lãnh đạo đất nước. Sau khi giành lấy chủ quyền, vị giáo chủ cùng các chức sắc, các thành phần trong tôn giáo đã xây dựng hệ thống kinh điển, điều luật và các lời răn,… khuyên dạy con người làm nhiều điều thiện, điều tốt, hạn chế sát sinh hại mạng,…
Bối cảnh lịch sử và điều kiện xã hội ở khu vực Trung Đông thời đó là chế độ chiếm hữu nô lệ, là chế độ quân chủ. Thân phận người phụ nữ thật sự hèn kém. Lòng tham dục của giới thống trị và sự hiểu biết hạn chế của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ đa thê được thừa nhận.
Nhằm đảm bảo vị trí thống trị, giới chính trị và các nhà truyền giáo gieo vào lòng người dân về đức tin tuyệt đối với Thánh Ala. Còn họ được chỉ định là đại diện của Đấng quyền năng và là những người có khả năng giao tiếp được với Thánh Ala. Nếu con người tin theo và đáp ứng tốt những yêu cầu của họ, sẵn sàng chết vì những nhiệm vụ được họ thay mặt Đấng quyền năng giao phó thì khi chết sẽ về Thiên đàng cộng trú với Thánh Ala.
Càng về sau, các giai cấp thống trị và các thủ lãnh tinh thần lợi dụng việc tử vì đạo, thánh chiến để bảo vệ đất nước và củng cố địa vị giai cấp thống trị. Kinh Coran lại là cổ ngữ đã khiến cho người đời sau thêm lầm lạc mơ hồ.
Trên thực tế khi chuyên tâm trì kinh Coran thì người trì tụng sẽ có thể tiếp xúc với cõi vô hình nhưng muốn nhận biết rõ thế giới tâm linh thì đòi hỏi người trì kinh phải có định tâm thật vững vàng và có sự hiểu biết rộng về cõi vô hình.
Chính vì việc được tiếp xúc, nhận biết mơ hồ về cõi vô hình nên các tín đồ Hồi giáo có đức tin mãnh liệt và tin những nhà truyền giáo chính thật là đại diện của Thánh Ala.
Không dừng lại đó, giai cấp lãnh đạo đã hạn chế sự hiểu biết của người dân.
Đặc biệt là người phụ nữ bằng cách hạn chế họ đến trường. Vì giai cấp lãnh tụ tinh thần tôn giáo nhận biết rằng “Khi người dân có hiểu biết thì người dân sẽ có những hoài nghi, không còn tin vào những điều luật vô lý và giai cấp thống trị sẽ mất lá bùa hộ mạng quan trọng”.
Người dân ngay từ nhỏ đã được nhồi nhét vào đầu niềm tin tôn giáo sâu sắc.
Tử vì đạo, thánh chiến được giới lãnh đạo dùng như một lá bùa bảo hộ cho sự tồn vong của quốc gia, dân tộc và họ sẽ đảm bảo được vai trò thống trị.
Tôi cũng đã nhận ra sự quay lưng lại với những điều luật không đúng, không còn hợp thời của các tín đồ Hồi giáo có hiểu biết. Mai này, những tín đồ Hồi giáo thuần thành sẽ không còn giữ đức tin mù quáng như trước. Không lâu nữa, những người phụ nữ Hồi giáo sẽ được đến trường, họ cần sự hiểu biết.
Tôi cũng nhận ra những thanh niên, những người đàn ông Hồi giáo tiến bộ đã nhận biết những điều không hợp lý của chế độ đa thê. Tuy nhiên, họ cần thêm thời gian để bước qua lòng tham dục.
Những quốc gia Hồi giáo rồi đây sẽ có phong trào bình đẳng giới phát triển mạnh mẽ nhất so với các quốc gia khác trên thế giới, người phụ nữ Hồi giáo sẽ tìm được chỗ đứng thực sự của họ trong xã hội văn minh.
Giai cấp lãnh đạo các quốc gia Hồi giáo nên sớm nhận biết rõ điều này, tùy thuận thay đổi cho hợp với lòng tin của các tín đồ, cho phù hợp với tình hình phát triển của nhân loại. Đừng cố giữ lấy lá bùa hộ mạng đã mất hết quyền năng. Điều này sẽ sớm  ra.
Hơn nữa, những người bạn Hồi giáo hãy nhìn nhận lại vấn đề. Thánh Ala, giáo chủ, nhà tiên tri Mohamet có chia Hồi giáo ra làm hai dòng Sunni và Shitte không?
Họ có kêu gọi tín đồ dòng Sunni giết hại dòng Shitte và ngược lại không?
Nếu câu trả lời là có thì thật vô lý. Sunni và Shitte có cùng cha chung - Thánh Ala và nhà tiên tri Mohamet.
Có người cha nào khiến các con mình giết hại lẫn nhau không?
Vậy câu trả lời đúng sẽ là không. Thế nên Hồi giáo phân cành rẽ nhánh là do tư dục của các thủ lãnh tinh thần Hồi giáo. Họ chia rẽ tín đồ nhằm nhận lấy nhiều lợi dưỡng hơn và tranh giành quyền lợi cá nhân.

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Chọn lựa tích cực của Phật Thích Ca Mâu Ni ngay sau ngày thành đạo…

Người nói Phật nói, Phật biết, Phật thấy,… thì hà sa nhưng biết đến Phật, hiểu được Phật liệu có được mấy người?
Vô Ưu này, trải qua bao đời lầm lạc, rất nhiều lần nương nhờ ngón tay chỉ mặt trăng của Người lắm lúc đã được an tịnh nhất thời mà vẫn không tìm được lối ra khỏi biển mê sinh tử luân hồi hàng vạn ngàn năm, hàng muôn ức kiếp... Rồi thì tấm lưới vô minh cũng được Vô Ưu xé toạc ngay trong hiện kiếp. Cụ thể là cách nay vừa tròn 3 năm (ngày 27 tháng 12 năm 2010) tôi một phen “Minh tâm, kiến tánh”, an nhàn đón nhận đóa vô ưu. Ơn soi sáng của Phật Thích Ca đối với chúng sinh nơi 3 cõi khiến Vô Ưu vô cùng cảm phục, thầm mến, rất mong phần nào đáp tạ thâm ân, cũng như không cô phụ từ bi tâm của vị thầy đáng kính và cũng là người bạn đời lớn của nhân loại.
Vì lẽ đó Vô Ưu vọng mang từ bi tâm của Người một phen làm người khách thong dong giữa đời ô trọc. Bi nguyện thiết tha ở Vô Ưu là những mong làm bừng sáng lại ngọn đuốc chánh pháp cứu khổ, lợi lạc của Người nơi biển khổ thế nhân. Vô Ưu tuyệt đối không làm vì tư tâm, tư lợi.
Dù vậy, trải qua 3 năm dài đằng đẳng ngược xuôi mà việc trả ơn Người vẫn chông chênh, nghẽn lối khiến Vô Ưu thấy nhàm mỏi, cảm nhận sâu sắc câu nói của Người “Chúng sinh cõi Ta Bà cang cường, khó độ”. Dù vậy, việc cần làm đã làm, việc cần viết đã viết. Tin rằng “Tư tưởng làm sống lại chánh pháp Phật Thích Ca sẽ nở hoa trong thời gian không xa”. Việc làm đã xong, có lẽ cũng đã đến lúc “xếp áo quy ẩn”, “xóa dấu chim bay” kẻo không lại khiến lòng người hoài nghi một tấm chân tình.
Thời gian gần đây, tôi có dạo quanh một vài trang mạng của Đạo Phật dễ dàng nhận thấy phần nhiều nội dung bài viết có phần viễn vông, xa rời con đường chánh pháp trong lòng mỗi người, cũng như ở giáo điển của người thấy vĩ đại - Phật Thích Ca. Dù rằng các trang mạng viết y kinh nhưng cách diễn giải lại rơi vào nhị nguyên, không có lối thoát.
Trong mê có ngộ
Trong ngộ có mê
Mê mê, ngộ ngộ
Mê ngộ không dừng
Đường ra nghẽn lối…
Vô Ưu dẫu biết rằng kiến văn còn rất hạn hẹp nhưng cũng rõ lý “Biết được gốc thì nắm được ngọn” nên sẽ cẩn ghi vài lời bạt.
Trước tiên, Vô Ưu sẽ lược dẫn y kinh việc Đại phạm thiên Sahampati thỉnh cầu Phật thuyết pháp những 3 lần. Vô Ưu sẽ diễn giải thoát ý, lược bỏ từ trùng lấp theo lối y kinh của giáo lý Phật giáo nguyên thủy sơ khai.
Nguyên do của câu chuyện là sau ngày thành đạo Phật Thích Ca đã quán chiếu vạn pháp rồi khởi ý nhập Niết bàn tịch diệt. Thiên chủ phạm thiên Sahampati nhận biết Phật muốn xuất ly thế gian, bỏ mặc chúng sinh 3 cõi, 6 đường trong đó có ông ta chìm nổi trong luân hồi nên đã hiện thân trước Phật và thiết tha mong cầu Phật nhập thế, cứu độ người si mê, kẻ tham đắm...
Sau khi thành đạo Phật đã quán chiếu lại vạn  pháp. Lúc bấy giờ Người khởi lên ý “Ta đã chứng đạt pháp Vô Sinh, pháp này thật thâm áo, khó nhận thức, khó thấu hiểu, an tịnh, cao thượng, vượt mọi lý luận hiện tại,… Chỉ có những người thông tuệ, không chấp trước, ít vọng tưởng mới thâm nhập rốt ráo nghĩa lý.  Nhưng người đời đang say mê theo luyến ái, chìm đắm trong ngũ dục,… Vì vậy họ sẽ không dừng lặng để trực nhận sự thật luôn đúng của lý duyên khởi - Cái này có mặt vì cái kia có mặt. Đối với họ thật khó để nhận thức đúng mực tri thức vô thượng về sự tịnh chỉ các hành, từ bỏ mọi duyên sinh, đoạn trừ tham ái, si mê, tà tâm, sinh tử, xả ly dục vọng, cứu cánh Niết bàn… Cho dù ta ra sức thuyết giảng pháp thì người đời cũng rất khó thâm nhập, thấu hiểu, nhận thức đúng vấn đề mà ta muốn trình bày. Điều này sẽ làm nhọc lòng khiến ta không được tự do, thanh nhàn, an lạc… Thế rồi Thế Tôn đã khởi các câu kệ vi diệu, thậm thâm, chưa từng có:
Chánh pháp ta chứng ngộ
Cần thuyết giảng hay không?
Bởi những kẻ chìm đắm
Trong ái dục sân hận
Khó ngộ được pháp này
Pháp thù thắng vô sinh
Tinh tế và thâm sâu,
Thật không dễ lĩnh hội.
Những kẻ mê ái dục
Lắm si mê bao phủ,
Rất khó để thâm nhập
Rốt ráo nghĩa Niết bàn.
Nghĩ vậy, Phật muốn khởi ý nhập diệt hơn là lưu lại cõi Ta Bà lắm tham đắm, mong cầu, vọng tưởng đảo điên,… Khi ấy, Phạm thiên Sahampati dùng tha tâm thông biết được thâm ý của Đức Thế Tôn sẽ không ra sức giảng giải pháp Tối thượng vi diệu nên đã dấy khởi lời cảm thán bi thiết:
Như thế thì cõi thế gian này sẽ chóng bị tiêu diệt
Như thế thì cõi thế gian này sẽ sớm bị tàn hoại
Bởi vì tâm của Đức Như Lai, Bậc A La Hán,
Đấng Chánh Biến Tri, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,…
Đã không ra sức thuyết giảng giáo pháp mầu nhiệm
Ngay lập tức, vị Phạm thiên Sahampati hiện thân trước Đức Thế Tôn, với tư thế đắp y bên vai trái, quỳ bên gối phải trên mặt đất, rồi chắp tay cung kính nói:
- Bạch Đức Thế Tôn! Xin đức Thế Tôn thuyết pháp! Xin bậc Thiện Thệ thuyết pháp! Thế giới này có những hạng chúng sinh ra đời bị ô nhiễm ít. Nếu họ không được nghe chánh pháp, họ sẽ đọa vào các cõi xấu. Nếu được nghe chân thật pháp họ sẽ chứng ngộ bản tâm, liễu nghĩa vô sinh, thoát mê sinh tử.
Nói xong, vị Phạm thiên ngâm một bài kệ nói rằng ở xứ Magadha(Ma-kiệt-đà) đã xuất hiện các tà thuyết của ngoại đạo đang chi phối con người và các cõi. Nay thỉnh cầu Đức Thế Tôn dùng  pháp nhãn thanh tịnh nhận biết mọi chúng sinh bị sinh, lão, bệnh, tử bức ngặt và u mê chìm đắm trong khổ đau, phiền não. Xin Thế Tôn hãy rải từ bi tâm mà mở cửa pháp vô sinh vi diệu cứu khổ kẻ mê đắm sinh tử giúp họ liễu thoát luân hồi. Tin rằng sẽ có những chúng sinh thọ nhận, nghe, hiểu và chứng ngộ được chánh Pháp.
Đức Phật đã từ chối vì Người nhận thấy tâm chúng sinh còn ngu muội - tham đắm, si mê, sân hận, hoài nghi, kiêu mạn, còn mãi vui thú nơi ngũ dục,… Thật khó có thể lĩnh hội giáo Pháp thậm thâm mà Người đã được chứng ngộ hoàn toàn.
Dù vậy, Phật quán chiếu tâm ý của chúng sinh nơi 3 cõi, cân nhắc lại lời thỉnh cầu của vị Phạm thiên. Người đã nhìn thấy tâm ý của chúng sinh nơi 6 nẻo qua phong cảnh ao sen ở trước mặt. Trong đó có các loài sen khác nhau như sen xanh, sen hồng, sen trắng… chúng mọc trong hồ, lớn dần trong nước, phát triển dưới mặt nước, một số không vươn lên khỏi mặt nước, một số khác lại vươn lên bằng mặt nước, khoe sắc trên mặt nước,… một số ít thì vươn lên khỏi mặt nước lung linh trước gió, tỏa hương thơm cho đời mà không bị nước hay bùn trong ao làm lấm bẩn.
Thế rồi Đức Thế Tôn thấu hiểu lời cầu khẩn của vị Thiên chủ Phạm thiên là thuần khiết, vô úy. Với con mắt của bậc giác ngộ hoàn toàn, ánh nhìn của Phật tràn đầy bi mẫn đối với muôn loài chúng sinh. Ngài nhận diện trên thế giới có những hạng chúng sinh bị uế trược ít và những chúng sinh bị uế trược nhiều, những hạng chúng sinh có căn cơ bậc thượng, thông tuệ, bén nhạy và những hạng chúng sinh có căn cơ trì độn, những hạng chúng sinh có thiện tính và những hạng chúng sinh có ác tính, những người ham học, dễ dạy bảo và những người khó dạy bảo, một số người sống và biết nghĩ đến những cảnh tái sinh tương tục trong tương lai và biết sợ khi phạm phải những điều tội lỗi, sinh tâm hối cải, phục thiện…
Theo y kinh thì cho đến khi Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu lần thứ 3, Đức Phật mới nhận lời và Người đã lưu lại cõi Ta Bà thêm 49 năm nữa để thuyết pháp, độ sinh.
Những người dịch giải đoạn kinh văn ghi lời Phật thuyết này thời rất nhiều nhưng liệu có mấy ai thấu hiểu được chân nghĩa thâm sâu ẩn tàng trong từng lời Phật thuyết?
Đã hơn 2500 năm rồi mà người mê vẫn mê, kẻ ngộ chân tâm tiền nhân vẫn như bóng chim, tăm cá. Bởi do chẳng tỏ ngộ hoàn toàn chánh pháp nên việc dùng pháp không sáng rõ, minh bạch.
Từ lâu, người học Phật đọc Tam tạng kinh mà chẳng ngộ ý kinh, rơi vào huyền hoặc, bí ảo hoặc trói vào giả pháp vô ngôn, đoạn lìa văn tự nhằm che giấu góc khuất, sự mờ tối nơi tri thức chưa tột cùng...
Ngay đoạn kinh văn trên người học Phật tin rằng có một Phạm thiên Sahampati hiện thân và 3 lần khẩn thiết thỉnh cầu Phật nhập thế.
Học Phật mà như thế thì biết đến bao giờ mới liễu ngộ Phật tánh?
Vậy nên càng gặp khó khi chuyển Phật tánh thành Tánh Phật và thật không dễ khai mở thông suốt sự hiểu biết giải thoát hoàn toàn mà vị giác giả bậc thầy mấy phen lao nhọc, tận tụy…
Việc cần học không học, việc cần lĩnh hội, không lĩnh hội, lại đắm chìm trong mê mờ, mụ mẫm, chấp văn ngữ, tham huyền, mộng huyễn,...
Thật ra thông qua đoạn kinh văn này Phật đã ám thị một điều là Phật đã từng phân vân, từng trăn trở, từng băn khoăn,… trước một chọn lựa quan trọng bậc nhất trong một cuộc đời sau cùng nơi lưới mộng luân hồi.
Vì người dấn thân rộng truyền chánh pháp hay ngoảng mặt, quay lưng với đời, riêng hưởng niềm hỷ lạc, an tịnh, thảnh thơi?
Và cuối cùng người đã chọn lựa việc dấn thân vì từ bi tâm sinh khởi, vì thấu hiểu nỗi thống khổ của chúng sinh nơi 3 cõi, rõ biết quy luật luân hồi ở 6 đường là thật có và cả con đường thoát khỏi biển mê sinh tử. Đó mới thật là điều Như Lai gửi gắm nơi đoạn kinh văn trên.
Tại sao Phật Thích Ca lại thuyết ra sự hiện thân của Phạm thiên Sahampati cùng 3 lần thỉnh cầu?
Vì người đương thời bấy giờ cả tin vào giáo pháp của hơn 62 học thuyết ngoại đạo sai lầm, vọng chấp thần thông, huyễn thuật, bùa chú. Tuy nhiên, Phật rõ biết cả 62 học thuyết đang được phổ truyền đã rơi vào tà kiến cực đoan chấp Thường, chấp Đoạn, hoàn toàn không có lối thoát ra khỏi luân hồi. Do vậy Người đã tùy thuận thuyết giảng Kinh đại sự nhân duyên nói về sự ra đời một vị Giác giả chánh biến tri. Đây là việc làm tùy thuận nhằm tiếp cận người mê rồi từng bước tháo gỡ những định kiến, tà kiến, tri thức mê lầm, thuận duyên rộng truyền chánh pháp liễu thoát luân hồi sinh tử, cứu khổ chúng sinh nơi Tam giới.
Có thể nói nếu không có yếu tố huyền hoặc, siêu hình, việc hiện diện của thế giới tâm linh, sự vô minh mê lầm của chúng sinh 3 cõi cũng như việc không tồn tại con đường thoát khỏi luân hồi thì Phật Thích Ca sẽ không bao giờ dấn thân vào lao nhọc trải qua 49 năm trèo non, lội suối, băng rừng,… vì người khổ, kẻ mê mà trình bày Tam tạng giáo điển.
Hãy nên cẩn trọng nhận diện “Trong huyền hoặc, siêu hình,… có mê tín, có chánh tín”. Phật Thích Ca thuyết huyền hiển chánh chứ không thuyết huyền vì lợi dưỡng, lợi danh, buông thả tà tâm, giăng lưới mê cuồng nơi người đắm nhiễm. Hơn 2500 về trước, hiển nhiên là tri thức người xưa không thể thông đạt vạn sự như người đương thời nên Phật Thích Ca phải dùng đến pháp phương tiện tiếp dẫn như người uống thuốc cần có nước để dẫn dược.
Đáng tiếc là ngày nay sự hiểu biết con người có sự tăng trưởng vượt mức như tâm hoài nghi, kiêu mạn, chấp trước cũng vươn xa, tâm mê cuồng, tham đắm, tâm phân biệt chủ quan… đã chặn đứng sự hiểu biết khách quan, tổng thể, toàn diện… có nơi giáo lý Phật Thích Ca.
Biết trách ai đây?
Người mê, kẻ ngộ hay việc rạch ròi đời đạo, lý luận nhị nguyên thiên kiến thiển cận…
Nếu bảo Người vì danh tiếng, quả vị Phật mà bước chân trần đi thuyết giảng thì hẳn là lời hư vọng, nghịch tai. Ngay như người kém trí cũng chẳng dại gì bỏ chút gia sản nhỏ nhoi, mở lời hoa mỹ để “bỏ hình, bắt bóng”. Sự thật là Phật Thích Ca hoàn toàn tự chủ trong việc quay về nắm lấy Vương quyền, trị vì đất nước Thích Ca. Nhưng Người đã quyết định chọn con đường đầy gian khó để dấn thân. Việc làm dũng mãnh, cao cả, vĩ đại của Phật Thích Ca người hẹp lượng, si mê, tham đắm, hoài nghi, kiêu mạn khó thể thâm nhập tận cùng nghĩa lý.
Liệu có mấy ai dám đánh đổi cuộc đời mình như thế nhất là khi chưa tường tận vạn pháp, cũng như việc tự đoạn dứt luân hồi?
Những điều tôi vừa trình bày là lời của người mê hay kẻ ngộ? Là lời hư vọng chăng?
Vị giác giả Thích Ca phải vay mượn từ bi tâm của chư Thiên mới đoái hoài đến nỗi thống khổ của chúng sinh nơi 3 cõi. Chỉ đến khi Phạm thiên Sahampati khuyến thỉnh những 3 lần mới động tâm ra sức vì người.
Thật là điên đảo thị phi. Nếu Phật Thích Ca tầm thường đến vậy thì Vô Ưu này đâu thể xem Người là người bạn lớn.
Hiểu Người rồi, rõ biết chúng sinh cõi Ta Bà cang cường, khó độ. Thêm vào từ bi tâm vay mượn nơi Người, thế nên từ bi tâm của Vô Ưu không thật tha thiết, nặng lòng. Vì vậy Vô Ưu đã thoái chí, chùn tâm,... Dẫu vậy, Vô Ưu hứa với lòng sẽ không cô phụ Người. Cho đến lúc tùy thuận làm sáng rõ giáo pháp của Người, Vô Ưu sẽ lui về sau, trả dứt những đoạn ân tình vay mượn, sau cùng sẽ thâu thần tịch diệt.
Thà làm đống xương khô nơi gò hoang, đất lạnh
Không cất tiếng gầm của sư tử chúa lạc bầy đàn.
Việc về sau đành trông chờ vào sự chọn lựa của người ở lại.
Khi khởi bài viết này hữu duyên trùng vào ngày 27 tháng 12 do vậy tôi sẽ hoàn tất trong ngày. Lẽ ra ngày mai tôi mới post Phần 3 của bài viết Đạo, Đời, Tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu nhưng vì sự trùng hợp kỳ lạ mà tôi sẽ post bài Chọn lựa tích cực của Phật Thích Ca Mâu Ni ngay sau ngày thành đạo… trong ngày hôm nay.
Sau loạt bài mà theo thiển ý cá nhân tôi là có giá trị không kém Đạo, Đời, Tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu sẽ là hai bài viết khá nặng ký:
Trần Nhân Tông, Phật hoàng hay chỉ là gã cùng tử đi lần tìm bóng trăng?
“Khai quan, điểm nhãn” - Bước ngoặc lịch sử nơi sự hiểu biết khách quan, sáng rõ, tổng thể và đúng mực của nhân loại đã được khai mở cách đây những hơn 2500 năm

Lưu ý: Bài này khởi viết và hoàn tất trùng vào ngày 27 tháng 12 năm 2013, là trọn 3 năm sau ngày tôi nếm trải được niềm hỷ lạc vô tận của pháp vô sinh, vô ngã, vô sở đắc).

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Đạo, đời và tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu (P.2)

Khái niệm về đời đã thể hiện sự ích kỷ của loài người. Vì khi đặt khái niệm đời làm câu hỏi thì phần lớn câu trả lời nhận được đều là những vấn đề liên quan đến con người. Nhưng thật ra đời mang hàm nghĩa rất rộng, đời chính là phần dụng của đạo.
Khi tìm hiểu về đời bạn sẽ nhận ra đạo. Đời chính là tất cả các sự vật hiện tượng - vạn vật nằm trong những quy luật tự nhiên.
Thế nên đời cũng gồm hai phần:
- Phần vật chất hữu hình.
- Phần tâm linh vô hình.
Tuy nhiên, khi tâm phân biệt của con người càng rõ ràng thì đời đạo trở nên tách biệt, ngày càng xa rời nhau. Khi khái niệm đời bị giới hạn vào những vấn đề liên quan đến con người thì đạo - đời bị chia hai và đạo chịu sự tác động chủ quan của con người đã khoác cái tên mới là Tôn giáo.
Ban đầu, khi hiểu biết con người chưa cao, khả năng tạo ra vật chất là chưa nhiều thì nhân loại vẫn xem trọng phần tinh thần, tâm linh. Ở mức độ tương đối có thể xem như phần vật chất và phần tinh thần tâm linh vẫn còn cân bằng dung hòa. Sự hiểu biết nâng lên, sự phân biệt rõ ràng thì xuất hiện sự khác biệt.
Người phương Đông cổ xưa sống tùy thuận theo tự nhiên. Mặc định tin rằng con người có đời sống an vui, hạnh phúc là ở phần tinh thần nên người phương Đông đi sâu tìm hiểu, học hỏi, nuôi dưỡng phần tinh thần, nội tâm. Việc làm này giúp cho họ có điều kiện tiếp xúc với thế giới tâm linh và tin sâu vào sự tồn tại của cõi giới vô hình. Thế nên việc làm của người phương Đông cổ xưa thường tùy thuận theo đạo, theo tự nhiên; Họ có đời sống nội tâm sâu sắc, triết lý sống mang tính nhân văn, sống từ ái, cần kiệm, khiêm nhu vì lẽ họ mơ hồ nhận biết “Họ chỉ là một phần rất nhỏ bé của sự sống”.
Những người hiểu biết cất công tìm hiểu về thế giới tâm linh và họ đã đạt những hiểu biết nhất định về cõi vô hình. Vì thế phương Đông là chiếc nôi của nhiều tôn giáo lớn có sức ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của nhân loại và cả thế giới tâm linh. Có thể nói đời sống người phương Đông xưa có xu hướng thiên về nội tâm, tâm linh hơn là vật chất.
Người phương Tây cổ xưa có nhận thức khác, họ tin rằng có thể cải thiện cuộc sống bằng việc cải tạo, làm thay đổi tự nhiên. Họ đã thành công trong việc tạo ra nhiều của cải, vật chất. Họ tin rằng con người sẽ có cuộc sống hạnh phúc khi có nhiều của cải, vật chất. Người phương Tây cổ xưa có cách sống lệch về phần vật chất, ít chú trọng phần tâm linh vô hình. Vì mãi theo đuổi sản xuất vật chất người phương Tây cổ xưa không có điều kiện tiếp xúc với cõi vô hình nên họ tin rằng con người chết là hết.
Nhưng vật chất đã không mang lại hạnh phúc như người phương Tây mong đợi, họ có những lo toan, những hụt hẫng về tinh thần,… hoài nghi về giá trị của cuộc sống.
Chính sự hoài nghi này đã khiến một số người phương Tây tiếp xúc được với người đã khuất. Họ bắt đầu tin rằng thế giới tâm linh có tồn tại, họ sang các nước phương Đông học hỏi về thế giới tâm linh trong giáo lý, kinh điển của các tôn giáo. Nhưng họ không thỏa mãn vì có quá nhiều những nghi vấn trong kinh điển mà họ không tìm được câu trả lời. Các nhà truyền giáo trói buộc họ bằng đức tin, niềm tin nhưng họ cần sự hiểu biết và lời giải đáp cho những hoài nghi trong đầu họ.
Người phương Tây cố tạo ra thêm nhiều trò giải trí, những môn thể thao,… để an định tinh thần nhưng vẫn không khỏa lấp được khoảng trống tâm linh.
Chủ nghĩa thực dụng và những nhà truyền giáo không chân chính đã nhận ra điều đó, họ đã xây dựng nên những tà thuyết, tà giáo quái lạ, điên đảo, làm cho phần tinh thần tâm linh của người phương Tây thêm bấn loạn.
           Chủ nghĩa thực dụng ra đời và lan rộng từ tây sang đông.
Điều đó đồng nghĩa với vật chất quyết định ý thức?
Phần tâm linh, cõi vô hình sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn trong tri thức nhân loại?...
Thực tế, vật chất không quyết định được ý thức, tinh thần của con người. Thể hiện rõ vật chất càng nhiều, tinh thần con người càng rối loạn. Sự hụt hẫng tinh thần, bấn loạn nội tâm khiến con người càng quay về tìm lại thế giới tâm linh.
Nhưng giáo lý, kinh điển đã bị diễn giải sai lệch, chân sư khó tìm, các nhà truyền giáo chỉ còn biết trói buộc con người vào đức tin, niềm tin. Nhiều tôn giáo ra đời lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của tín đồ, gom góp tài vật phục vụ việc trái đạo.
Đây là biểu hiện của đời đạo suy vi, hỗn độn.
           Tóm lại, đời cũng có hai phần gồm phần vật chất và tâm linh.
Lẽ ra đời đạo chỉ là một nhưng tâm phân biệt của con người đã chia thành hai. Đạo là phần thiên lệch về tinh thần, đời là phần thiên lệch về vật chất.
Chính sự phân chia lệch lạc này đã góp phần làm mai một sự hiểu biết về đạo, về đời của con người. Con người làm việc trái đạo là đầu mối của sự rối loạn nội tâm, xã hội loài người.
Nhân loại cần phải hợp nhất đời đạo, sống tuy thuận theo đạo nhằm dung hòa lại phần vật chất và tâm linh trong mỗi con người.

Khi phần vật chất và tâm linh được cân bằng thì tinh thần, nội tâm con người sẽ tự ổn định.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Bóc trần sự thật về sai lầm ở các nhà ngoại cảm (P.2)

Nghe có vẻ siêu thực nhưng không hẳn là điều không thể chứng thực bằng cơ sở khoa học, tư duy logic.
- Tại sao có những thiên tài toán học, vi tính, nhạc sĩ, ca sĩ,…?
Sẽ không có câu trả lời dựa trên cơ sở khoa học và duy vật. Còn việc tin nhận có sự tồn tại của tàng thức lưu giữ kỹ năng, sở thích từ tiền kiếp là tùy thuộc ở mỗi người. (Bạn có thể tham khảo bài viết Giải trình Luận án ngoài học hàm bác học)
Khi xét đến một gia đình có truyền thống về một ngành nghề nào đó thì ta sẽ dễ dàng “bắt gặp” có những đứa trẻ được sinh ra trong gia đình đó có tài năng di truyền thiên bẩm. Và nếu đổ lỗi cho việc bộc lộ khả năng thiên bẩm là do yếu tố di truyền dòng tộc thì sẽ không đúng với sự logic và tính đúng đắn của khoa học ngày nay. Vì theo quan niệm của khoa học chủ quan, giới hạn ở thời điểm hiện tại thì “con người chết là hết” và kết cấu vật chất tạo nên bộ não, cơ thể không thể mang theo những kỹ năng di truyền từ cha mẹ. Yếu tố vật chất chỉ mang thông tin di truyền giống nòi mà không thể mang theo sự hiểu biết của dòng tộc.
Tuy nhiên, nếu chấp nhận và dựa vào duy tâm khách quan thì đây là sự luân hồi cục bộ nơi dòng tộc của tâm ý sự sống đã từng gắn bó với gia tộc này, tâm ý sự sống đó đã trở lại cùng với niềm đam mê, sở thích, kỹ năng sớm được bộc lộ.
Nếu xét đến những dòng tộc bệ rạc, suy đồi thì ta cũng dễ dàng nhận thấy những đứa trẻ sớm biểu hiện những đức tính xấu của gia tộc đó. Cụ thể hơn là nếu xét một gia tộc có truyền thống làm bạn với sâu rượu, ma men thì con cháu của họ sẽ sớm bộc lộ khả năng bia rượu vô đối hoặc là người có hệ thần kinh mụ mẫm, kém trí, lạc thần,... Đây có thể là yếu tố luân hồi cục bộ cùng với việc “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, những người trở lại vốn là bạn nhậu thân tín, thường xuyên của gia tộc hoặc họ chính là “thế hệ trước” của dòng tộc đó… đã “trở lại”.
Khi tạm chấp nhận sự luân hồi tồn tại thì sự sai khác biểu hiện về tính tình, thái độ của những đứa trẻ sơ sinh cũng dễ dàng được nhận biết. Đó vốn là tiềm thức căn bản của người trở lại. Tuy nhiên, tiềm thức xa xưa không hẳn sẽ “trói” cuộc đời của người trở lại mà yếu tố môi trường sống, sự giáo dục và việc tích lũy cái biết ở kiếp hiện tại sẽ tạo ra cuộc đời của người trở lại.
Phần trình bày bên trên của tôi dường như đã vượt ra khỏi nội dung của bài viết. Nhưng thật ra những vấn đề trình bày có ít nhiều liên kết với vấn đề ngoại cảm và cũng là việc bổ sung cho người đọc về một “mảng khuất” nơi hiểu biết của nhân loại ngày nay.
Quay lại vấn đề tiếp xúc, chạm đến phần tâm linh ở các nhà ngoại cảm hàng thật.
Vì giới hạn hiểu biết, tầm nhìn, khả năng và thực lực vốn có mà những nhà ngoại cảm muốn “nắm bắt” thông tin tâm linh phải nhờ vào một lực lượng vô hình cùng những nhạy cảm tâm linh. Thế nên, việc đúng sai nơi kết quả thu được những nhà ngoại cảm gần như không thể làm chủ.
Thêm nữa, vì khả năng ngoại cảm thường là “tiếng vọng tiềm thức” mà không dễ có một phương pháp rèn luyện đúng đắn, việc không được rèn giũa thường xuyên theo thời gian cũng như việc lạm dụng khả năng ngoại cảm, việc gia tăng bản ngã ở nhà ngoại cảm thì sự nhạy cảm tâm linh sẽ mất dần đi và những kết quả tâm linh ngày càng bị sai số, mắc nhiều lỗi lầm.
Sự cố gắng chứng minh đúng cho những kết quả được kiểm tra, khẳng định sai càng làm cho hình ảnh những người có khả năng ngoại cảm tự nhiên thêm lu mờ, đánh mất uy tín, sự tín nhiệm ở mọi người. Kết quả là hình ảnh một nhà ngoại cảm đã chết về mặt tâm linh sẽ phơi bày trước mắt mọi người và số đông những kẻ hiếu kỳ với nội tâm cạn cợt cùng khả năng tư duy vụng về, hời hợt.
Cuộc chơi với lực lượng vô hình thường rất nghiệt ngã, người chơi có thể được đưa lên tận trời xanh nhưng cũng có lúc bị dập vùi không thương tiếc. Cái giá phải trả cho cuộc chơi tâm linh mà người chơi không thể tự chủ là không thể nghĩ bàn.
Trên thực tế là thành phần vô hình hỗ trợ cho nhà ngoại cảm không phải là thần thánh biết tuốt, biết tất cả. Sức hiểu họ vốn dĩ có rất nhiều giới hạn, khi nhà ngoại cảm cần một thông tin tâm linh thì lực lượng tâm linh trên ra sức tìm kiếm nhưng không hẳn lúc nào cũng tìm được thông tin mà nhà ngoại cảm đang cần. Và sự nôn nóng, mong cầu khẳng định khả năng tâm linh nơi nhà ngoại cảm sẽ khiến lực lượng vô hình “rối trí”. Kết quả là việc trả về tín hiệu tâm linh sẽ bị sai số hoàn toàn.
Thế giới tâm linh sở dĩ tồn tại là do yếu tố tâm ý sự sống vô hình. Tâm ý sự sống vốn dĩ là thức nhưng trong thức của tâm ý sự sống lại có cả sự tồn tại của tâm tưởng. Khi sự móng cầu, cuồng tín thúc bách ở nhà ngoại cảm cùng lực lượng vô hình đồng minh thì tâm tưởng của thế giới tâm linh “bắt” được tín hiệu sẽ lưu xuất ra tâm ý sự sống giả và khi đó phát ra những tín hiệu giả dẫn đến kết quả nhà ngoại cảm thu được sẽ sai sự thật.
Nghe chừng khó hiểu và hoang đường. Thế nên tôi sẽ trình bày một vấn đề mà có một số không ít người từng biết đến dù không tường tận căn nguyên.
Cụ thể là việc nhập xác, lên đồng. Việc đồng cốt cũng có thật, có giả nhưng hiển nhiên là tôi đang đề cập đến hàng thật. Ở Việt Nam, có một số trường hợp vong mượn xác nói tiếng Khơ - me, tiếng dân tộc dù rằng người bị mượn xác chưa từng biết đến người Khơ-me, người đồng bào,… Không ít trường hợp phần vong nhập xác tự xưng là thần thánh, Quan âm bồ tát, Tề thiên đại thánh,… và đưa ra những “lời phán truyền trật chìa”. Tề thiên đại thánh vốn dĩ là một con khỉ trong câu truyện Tây Du Ký của tiền nhân Ngô Thừa Ân vì cớ gì lại trở nên có thật và lên nhập xác? Quan thế âm bồ tát vốn là một tạo hình bồ tát nơi cõi Tây Phương kề cận Phật A di đà cớ gì lại hiện thân ở cõi Ta bà?
Nếu bạn đọc bài viết Giết các Đấng quyền năng vì 1 chữ Duyên mà tôi đã từng trình bày thì những vị Phật, bồ tát không thật có tôi đã đúng mực và tùy thuận “xóa sổ”. Vậy nên sở dĩ các vong nhập xác tự xưng thần thánh là do tâm tưởng và thức biết giới hạn của tâm ý sự sống mượn tạm xác người lộng ngôn lập ra.
Nếu bạn khách quan, cởi mở tư duy thì vấn đề tôi trình bày ở trên đã được lý giải. Chính tâm tưởng và thức biết đã làm nhiễu loạn khả năng ngoại cảm của những nhà ngoại cảm.
Tất nhiên là những vấn đề tôi vừa trình bày phần nhiều vượt ra ngoài sự hiểu biết của lực lượng vô hình cũng như các nhà ngoại cảm hiện nay. Chính sự giới hạn hiểu biết của các nhà ngoại cảm và lực lượng vô hình phò trợ sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả ngoại cảm thu về.
Mặt khác, phần hồn của những người đã chết không hẳn lúc nào cũng chờ đợi người thân “bắt” được tín hiệu tâm linh “tìm nhặt” thân xác về rồi thì mới “chịu” siêu sinh. Số đông phần tâm ý sự sống vô hình đã cuốn vào vòng luân hồi nghiệp nhân quả từ lâu xa. Những người bạn chết cùng với đương sự không hẳn còn chờ đợi “đồng đội cũ” tìm đến và ra sức chỉ điểm. Thêm nữa, đồng đội cũ còn sống không hẳn đã còn nhớ nơi người bạn chiến đấu cùng đã nằm xuống… Thế nên việc tìm ra hài cốt nhầm lẫn không phải là vấn đề khó lý giải.
Tôi cạn nghĩ mình cũng nên nói thêm về cách hành xử chủ quan, thiên kiến, phiến diện, cục bộ ở loài người (nói chung).
- Tại sao con người vẫn thường có lối hành xử “giậu đổ, bìm leo” trải qua suốt lịch sử ra đời và phát triển của nhân loại?
- Tại sao sự ra đời của những nhà ngoại cảm buổi đầu được dung dưỡng, chấp nhận và rồi đến nay lại cố ra sức phá bỏ, phủ định sạch trơn vai trò, giá trị đóng góp, những việc làm đã từng được thừa nhận hữu ích, thấm đẫm tình người?
Nếu bảo việc làm của các nhà ngoại cảm là hoàn toàn sai thì “Tại sao việc làm hoàn toàn sai đó lại có thể tồn tại dài lâu và được không ít giới quản lý đất nước và xã hội tin nhận, cầu cạnh “nhờ vả”… qua rất nhiều đời?”.
- Phải chăng khi đó sức hiểu của loài người còn ngây ngô, mông muội… và hiện tại con người đã khôn hơn với sự hiểu biết đủ đầy? Do vậy nên tri thức nông cạn, non kém một thời xa xưa cần phải được con người cũng những nhà quản lý xã hội xóa bỏ, triệt tiêu hoàn toàn không để xót lại một dấu vết theo đúng nghĩa “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Nhưng phải chăng kết quả thu được từ các nhà ngoại cảm có không ít kết quả đúng?
- Vậy điều này sẽ lý giải làm sao?
Chỉ vì những kết quả sai lầm ở các nhà ngoại cảm cả thật lẫn giả mà con người vội vàng phủ nhận sạch trơn những đóng góp đã từng có ích cho xã hội thì “Phải chăng đây là cách hành xử thiếu tính chuyên nghiệp, cách hành xử của những kẻ “Ăn cháo, đá bát”…?
- Và “Phải chăng cách hành xử và sự hiểu biết của con người hiện nay đã khách quan, sang rõ, luôn đúng?”.
Tôi đã thử thả lòng mường tượng về việc đi tìm hài cốt của những người đã khuất ở các nhà ngoại cảm và đặt câu hỏi vụng “Giá trị, mục đích của việc làm đó là gì?”
- Phần nhiều giá trị, mục đích của việc tìm hài cốt người đã khuất là đưa thân xác người chết về nơi an nghỉ đàng hoàng, yên lành. Đây là việc làm nhằm an định lòng người sống là chính. Ngoài giá trị an định lòng người thì việc làm trên còn thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của người sống đối với người chết. Số khác làm việc trên nhằm lấy tiếng cũng như việc thu gom quyền lợi…
Bỏ qua những mục đích tư lợi, tôi sẽ xét việc làm của các nhà ngoại cảm chân chính tìm hài cốt liệt sĩ vì tình người nhằm giá trị an lòng người sống. Nếu bảo rằng “Đây là việc làm không đáng quý, đáng trọng” thì đó là lời không phải với lòng tôi.
Và rồi việc xuất hiện những nhà ngoại cảm giả danh cùng với những kết quả ngoại cảm “dỏm” cùng với “vật chứng” ngụy tạo. Việc “lừa người, dối mình” ở các nhà ngoại cảm dỏm được phanh phui ra ánh sang đã kéo theo một hệ lụy. Với sự hiểu biết nông cạn, nửa vời ở một số ít người - họ đã “níu kéo” ngành khoa học cũng mang tính tạm thời, nửa vời cùng với chuỗi hệ thống phương tiện thông tin đại chúng mang tính chủ quan, nông cạn ra sức “triệt tiêu” thành quả, giá trị gốc mà giới ngoại cảm đã từng mang lại.
Việc cố ra sức chứng minh đúng họ đã chủ quan lẫn khách quan “xóa sổ” những kết quả ngoại cảm đúng đắn. Nếu bảo họ đã làm đúng thì e rằng tôi đã nói lời khiêng cưỡng, hư vọng, dối lừa…
Dù vậy, dưới góc nhìn chủ quan, cục bộ thì con người (nói chung) và những người đang ra sức “triệt hạ” giới ngoại cảm luôn cho rằng việc họ làm rất quả cảm, thánh thiện, cao thượng,…
Tuy nhiên, ở góc nhìn tổng thể, toàn diện, khách quan hơn thì tôi và bạn có thể nhận diện giá trị của những việc “triệt hạ” khả năng ngoại cảm ở các nhà ngoại cảm dường như mang tính cảm tính, có phần chủ quan. Việc làm đó có thể gọi là việc “Đào mồ quá khứ, bới thây người chết”, gây mất niềm tin, tăng trưởng sự hoài nghi nơi người sống, là việc làm gây nhiễu loạn lòng người,…
Vì sao?
Vì việc ngoại cảm được chấp nhận, tồn tại từ lâu đã mang lại biết bao nhiêu bộ hài cốt của các chiến sĩ cùng nạn nhân của chiến tranh. Những bộ hài cốt được quy tập đã góp phần an lòng người sống lẫn kẻ chết. Và rồi “Đùng một cái” loài người cố chứng minh kết quả ngoại cảm là giả, là sai.
Liệu thân nhân của những bộ hài cốt có thể an lòng, việc nguôi ngoai nỗi khổ đau, muộn phiền về nỗi đau mất người thân lại được khơi dậy, cào xé cho tươm máu?
Niềm tin bị đánh cắp, sự hoài nghi thật giả khiến thân nhân của người đã khuất thêm bấn loạn, bất an,… Là điều tốt hay việc xấu thật không dễ một lời mà nói cho tường tận.
Nếu bảo rằng “Việc làm của những người đang chủ quan ra sức “triệt hạ” khả năng ngoại cảm ở con người là tội ác khó thể thứ tha, là việc làm tương đồng với việc “Đào mồ, quật mả” thì cũng không hẳn là lời nói hoàn toàn sai quấy.
Lẽ ra, con người dựa vào khoa học ngày nay phải có cách hành xử khôn khéo, khách quan, đúng mực hơn. Việc ra sức thể hiện bản thân đã đẩy họ vào những cuộc tranh cãi không hồi kết. Giới thông tin lại có dịp “ném” cho độc giả một tảng băng vào mặt hồ tĩnh lặng.
Và lực lượng các nhà ngoại cảm bị triệt hạ lại lên tiếng bảo vệ uy tín, danh tiếng,… cùng với những hành động phản kháng, chống trả. Rồi thì… sự việc cũng sẽ không đi đến đâu vì cả hai phe tranh cãi đều không rõ biết những việc đã, đang, sẽ làm. Mỗi phe đều có đúng, có sai riêng và do mãi tranh cãi họ đã quên mất việc lắng nghe để thông cảm, để hiểu rõ hơn vấn đề. Vì thế việc tranh cãi nhùng nhằng, không hồi kết,…
Giới quản lý xã hội, quản lý đất nước thì có phần bàng quang, đứng ngoài cuộc vì việc tranh cãi giữa 2 phe có vẻ không ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi, địa vị của họ.
Thêm nữa, giới quản lý cũng không thể thấu rõ bản chất của vấn đề nên chọn lựa làm kẻ ngoài cuộc để an toàn là sự chọn lựa khôn khéo. Cho đến khi giới quản lý thấy sự việc sẽ chẳng đi đến đâu thì họ sẽ mở lời cho giới truyền thông “dìm hàng” “chặt đứt” “dọn dẹp” tảng băng được ném xuống mặt hồ yên ả thì mọi việc dường như được giải quyết triệt để.
Dù vậy, việc tranh cãi vẫn sẽ không thể ngã ngũ và sẽ bùng phát khi có dịp. Nhất là khi giới truyền thông bị “bí” đề tài. Còn sự hiểu biết của con người vẫn lẩn quẩn, không sáng rõ, kéo theo sự si mê cuồng loạn, hoài nghi,…
Tôi sẽ dừng bài viết này tại đây. Việc chọn lựa tiếp tục tranh luận hay dừng lại những lạm bàn có phần vô nghĩa về việc có không khả năng ngoại cảm ở con người tùy mỗi người chọn lựa.
Bài viết này tôi không có thời gian viết liền mạch nên cách trình bày có phần thiếu liên kết, không được chỉnh chu,… Có thể nói là bài viết chưa thể hiện hết ý từ, nội dung mà tôi muốn trình bày.
Dù vậy, tôi cũng thấy việc trình bày đã đạt sự tương đối nhất định nên dừng lại. Nếu bạn nhận thấy chỗ khiếm khuyết thì hãy vui lòng góp ý, tôi sẽ bổ khuyết thêm.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm! Chúc bạn cùng người thân một mùa Noel an lành, tươi vui!

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Đạo, đời và tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu (P.1)

Tại sao tôi vẫn cứ trình bày vấn đề đời đạo đan xen?
Bởi lẽ bạn và nhân loại sẽ không thể tách rời đời đạo. Đời đạo vốn không hai, là một khối duy nhất.
Bạn thử nghĩ tách đời rời khỏi đạo, khỏi những quy luật tự nhiên, làm việc trái đạo, trái quy luật tự nhiên thì phải chăng đời sẽ diệt vong?
Quy luật tự nhiên và sự sống thì vẫn còn mãi. Nhưng tách đạo ra khỏi đời thì đạo cũng không thể tồn tại.
Chính vì lẽ này mà đệ tử Phật gồm hai thành phần:
- Người xuất gia là thành phần giữ đạo, hành đạo, truyền trao kinh Phật, giáo pháp cứu khổ, giác ngộ và sự giải thoát.
- Người tại gia là người tham gia lao động sản xuất, học hỏi, tìm hiểu giáo pháp để xây dựng cuộc sống hạnh phúc, hài hòa đời sống tâm linh và đời sống vật chất.
Ngoài ra, người tại gia cũng góp phần lưu giữ đạo Phật qua việc hộ trì tăng bảo truyền trao chánh pháp.
Người học Phật chân chính không phải là chuyên cần cầu nguyện, lễ lạy và cúng bái.
Nhân đây tôi cũng đập tan định kiến, kiến chấp của những người theo chủ nghĩa duy vật có cách nhìn hạn hẹp, thiếu khách quan,… khi đưa ra nhận định thành phần tôn giáo chỉ là thành phần ăn bám của xã hội.
Sở dĩ giới chủ nghĩa duy vật có nhận định hẹp kém trên là vì họ không nhận ra giá trị góp phần làm an định xã hội mà những tôn giáo chân chính tạo ra thông qua những tác động tích cực về tinh thần và tâm linh cho con người trong xã hội.
Câu hỏi tôi đặt ra là “Nếu thành phần tôn giáo chỉ là những kẻ ăn bám xã hội thì những thành phần khác trong xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, du lịch, dịch vụ,… là ai?”.
Trên thực tế, chỉ có ngành nông nghiệp, công nghiệp là ngành sản xuất ra lượng vật chất phục vụ xã hội. Thế nên những người có tầm nhìn hạn hẹp, thiếu khách quan,… hãy nên tự đánh giá lại bản thân và có cách nhìn tổng thể, khách quan hơn.
Hãy tự nhận biết “Mỗi thành phần, mỗi tầng lớp, mỗi bộ phận,… trong xã hội đều có những giá trị khác nhau nhưng tất cả có cùng chung mục đích góp phần xây dựng cuộc sống nhân loại tốt đẹp, ấm no và hạnh phúc”.
Những thành phần không có giá trị phục vụ cho cuộc sống con người thì sẽ tự đào thải vì đó chính thực là kẻ ăn bám của xã hội.
           Đạo là bản thể của sự sống là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Đạo dung chứa vạn vật và vạn vật vận động và phát triển theo những quy luật tự nhiên. Đó là cây cối, loài vật và con người tồn tại trong quy luật sinh lão bệnh tử. Là các sự vật hiện tượng như mưa giông, sấm chớp, gỗ đá,… thì chịu sự chi phối của quy luật thành trụ hoại không. Điều này đồng nghĩa với với việc vạn vật được sinh ra, lớn lên, tàn hoại dần và cuối cùng sẽ mất đi.
Là vật chất hay không phải vật chất đều nằm trong quy luật đó. Tôi tạm xem đây là phần vật chất của đạo.
           Đạo có trước sự phát sinh ngôn ngữ chữ viết do đạo có trước cả loài người và vũ trụ. Thế nên chữ đạo cũng chỉ là giả lập ngôn ngữ, là tạm dùng từ để gọi.
           Cùng với sự hiểu biết sơ khai của loài người, khái niệm đạo ban đầu chỉ là vạn vật có trong tự nhiên.
           Về sau con người có sự hiểu biết hơn. Họ tự đặt ra câu hỏi “Con người và vạn vật có từ đâu? Cái gì đã tạo ra sự sống?”. Và nhiều câu hỏi hóc búa khác...
Kết quả là người xưa không thể tìm ra câu trả lời. Sự hiểu biết thời đó không thể tìm ra được nguồn gốc tạo ra loài người và sự sống.
Những người được cho là người hiểu biết, thông thái bàn luận với nhau. Sau cùng, họ thống nhất với nhau trời đã sinh ra loài người và vạn vật.
Sở dĩ người xưa thừa nhận trời sinh ra loài người và vạn vật vì họ nhận thấy sấm chớp, mưa giông,… những hiện tượng thể hiện sức mạnh siêu nhiên dường như xuất hiện trên bầu trời. Vì thế họ nhận định có lẽ trời đã sinh ra những hiện tượng đó và như vậy chỉ có trời mới đủ khả năng tạo ra con người và vạn vật.
Càng về sau, con người hiểu biết hơn. Sự phân biệt, so sánh yêu thương, hận ghét, tranh giành,… được rạch ròi. Họ nhận thấy những người thân yêu cứ lần lượt chết. Họ đau xót thương nhớ. Kết quả trong giấc ngủ chập chờn, họ gặp lại những người thân đã mất. Có người về than khóc, kể khổ. Có người vui tươi, rạng rỡ hơn cả lúc họ còn sống. Họ lấy làm lạ, mới tìm gặp, trao đổi những điều mắt thấy tai nghe.
Những người cao tuổi biết nhiều mới “xét lại” câu hỏi “Con người chết đi về đâu?”.
Bởi vì họ nghĩ nếu chết là hết thì sao họ lại có thể gặp lại người thân trong giấc ngủ và với những cung bậc cảm xúc khác nhau?
Họ chưa thể có ngay câu trả lời. Mãi về sau, câu hỏi lớn này  được các nhà thông thái, hiểu biết rộng đưa ra một lý giải.
Con người chết sẽ tan hoại vào trong đất. Đất thì vẫn có những nơi sụt lún, động đất và phun trào lửa nóng,…
Phải chăng người chết đang bị hành hạ ở những nơi đó?
Khái niệm Hỏa ngục, Địa ngục ra đời. Ngoài ra, họ còn nhìn nhận ra vấn đề khác. Số người về báo mộng cho người thân với tâm trạng tươi vui, lạc quan thì lúc còn sống họ có đời sống rất thuần phác, hiền lương, vui vẻ và có ích cho mọi người. Vậy ra có thể họ đã lên trời.
Thế là có Thiên đàng và Địa ngục, tôi tạm quy ước đây là tinh thần, tâm linh vô hình của đạo.
Lạm bàn thêm về việc làm gàn dở của người xưa:
Bạn chớ trách người xưa dở hơi đặt ra những câu hỏi ngớ ngẩn rồi đưa ra những câu trả lời ngây ngô, nông cạn. Lẽ ra nên dùng những khoảng thời gian vô bổ đó để làm việc, kiếm tiền học tập, làm giàu thì lợi ích hơn. Tôi cũng đã từng nghĩ họ nên như thế. Nhưng tôi đã lầm.
Vì sao?
Vì đến nay, con người vẫn đang tìm cách trả lời những câu hỏi đó nhưng vẫn chưa có câu trả lời hoàn chỉnh. Tiên phong cho sự tiến bộ loài người - Khoa học vẫn đang cố tìm câu trả lời nguồn gốc của con người, của sự sống.
Thời gian bắt đầu khi nào, có kết thúc không?
Vũ trụ là vô biên hay hữu biên, là vô hạn hay hữu hạn,…?
Việc đi tìm nguồn gốc loài người và sự sống là rất cần thiết và đúng đắn nhưng khoa học đã sai khi tìm hiểu nguồn gốc con người, sự sống lại đi tìm hiểu ở nơi không có sự sống, loài người.
Cụ thể, khoa học ra ngoài vũ trụ, không gian để đi tìm nguồn gốc sự sống. Có lẽ đây là sai lầm không thể chối cãi và không thể bào chữa của ngành khoa học.
Sai lầm khác rất nghiêm trọng của ngành khoa học là từ bỏ câu hỏi của người xưa “Con người chết sẽ đi về đâu?”
Vì sự hiểu biết nông cạn và chủ quan khi không thể trả lời câu hỏi trên tri thức nhân loại đã vội bác bỏ bằng việc khẳng định “Con người chết là hết”.
Điều này đồng nghĩa với việc chặn đứng sự hiểu biết của loài người về nguồn gốc của sự sống, của loài người. Bởi lẽ nếu xem như câu hỏi nguồn gốc của sự sống là một ổ khóa cần mở thì câu trả lời con người chết sẽ đi về đâu chính là chiếc chìa khóa duy nhất để mở ổ khóa đó.
Quay lại vấn đề đạo.
Tổng hợp lại tôi sẽ có khái niệm về đạo. Đạo là bản thể là nguồn gốc của sự sống và vạn vật. Tính chất của đạo là tùy thuận những quy luật tự nhiên.
Đạo gồm hai phần:
- Phần vật chất hữu hình.

- Phần tâm linh vô hình.
(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Tìm gì...

Ta tìm gì nơi đổ nát, tan hoang?
Túp lều tranh, hai quả tim vàng
Đã vỡ nát… kể từ ngày tiền là tất cả
Hạnh phúc đơn sơ, bình dị một thời
Đã không còn…
từ lúc thôn nghèo lên phố thị
Đèn đỏ xanh mờ tối kiếp nhân sinh
Tạm biệt đời…

Ta tìm gì nơi tiếng chuông xa vọng?
Lời kinh cầu bác ái, từ bi
Buông tham sân si, bỏ đời ô trọc
Giáo đường, tự viện hùng vĩ thay!
Kẻ truyền đạo đáng thương…
Nhiều kẻ còn lắm mong cầu
Tượng Phật đẹp hào hoa, vô vị…

Ta cười cho vỡ đạo đời môi miệng
Cuốn 3 y ta nương náu núi rừng
Mới hay rừng già chỉ còn đất rẫy

Tâm vọng cuồng rơi…
Ta bình yên làm một gã khờ

Tìm chi nữa?...
Ta đã về nhà khi…
trời chưa kịp tối

Bỏ con đò
Ta làm khách thong dong

Ơ hay! Vầng trăng sáng
Khi ta tìm… không gặp.