Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc (Phần 2)

4. Đức Phật dạy: “Tu là phải lìa xa ý muốn của mình”. Cái ý muốn của mình là gì? Là Bản Ngã Ác Pháp. Bản Ngã Ác Pháp không ly thì làm sao có Niết Bàn? Vô Ngã Ác Pháp là Niết Bàn, chứ không phải Vô Ngã là Niết Bàn, vì vô ngã cả ác lẫn thiện là cây đá.  [trang 41 TCB1] Đạo Phật chủ trương lấy thiện diệt ác, lấy đạo đức nhân quả làm cuộc sống của mình không làm khổ mình khổ người. Từ chỗ này chúng ta suy ra để thấy Đạo Phật không mâu thuẩn, vì Đạo Phật "Vô ngã ác pháp chứ không phải vô ngã thiện pháp". Nếu chúng ta tu hành vô ngã cả thiện pháp và lẫn ác pháp thì hóa ra chúng ta là cây, là đá; cây, đá là một loại vô tri vô giác, đó là cái vô ngã của Đại Thừa. Đạo Phật không có vô ngã như kiểu đó. (ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này có chỗ không ổn vì đã tự có mâu thuẫn bởi lẽ nếu tu mà còn dính mắc tâm phân biệt tốt xấu, thiện ác,… Siêng làm việc thiện, lìa xa việc ác thì chính cái tâm dính mắc đó sẽ khiến người tu trôi lăn nơi luân hồi sinh tử. Người học Phật chân chính còn sống là còn làm nhưng làm những điều hợp với chánh pháp, không tạo tác duyên nghiệp, không ngừng hành trì việc buông bỏ, sống không tham đắm, vọng chấp, móng cầu. Và cái bỏ tối hậu, cứu cánh để đạt sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn là phá ngã, buông bỏ cái tôi cả nghĩ thường tại mà đạt Thường An Lạc Tịnh nơi hiện kiếp. Vô ngã là sống tùy thuận chứ không là sự vô tri hay hữu tri.
5. Một người tọa thiền thân không động, miệng không nói và ý không tư duy thì giống như cây đá, đó là thiền của Đại Thừa và Thiền Đông Độ, ngược lại thiền định của Đạo Phật thân không hành ác, nhưng thân hành thiện, miệng không nói lời ác, nhưng miệng nói lời thiện, ý không suy nghĩ điều ác, nhưng ý suy nghĩ điều thiện. Cho nên nên Đạo Phật không chấp nhận hành không, không chấp nhận hành ác, chỉ chấp nhận hành thiện.  Vì vậy tu theo đạo Phật không trở thành cây đá, mà trở thành một con người hữu ích cho mình cho người, có nghĩa là không làm khổ mình khổ người, tạo cảnh sống thế gian thành cõi Cực Lạc, Thiên Đàng.....[trang 170 TCB 1]
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên.
6. Muốn triển khai Minh trí tuệ, các nhà Đại thừa và thiền Đông Độ dùng pháp hành ức chế niệm thiện niệm ác, cho tâm không niệm thiện niệm ác là định và do tâm định thì phát tuệ (chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền), bản lai diện mục hiện tiền là Phật Tánh, mà Phật Tánh là tánh giác, tánh giác tức là trí tuệ. Do những pháp hành tu tập để triển khai trí tuệ như vậy. Họ đã lầm, không ngờ đường tu tập ấy lại khai mở tưởng tuệ. Khi tưởng tuệ được khai mở thì lý luận của các nhà Đại thừa siêu việt tưởng, nên không tôn giáo nào tranh luận hơn được, nhất là lý Bát Nhã của Đại Thừa. Do lý luận siêu việt tưởng Bát Nhã nên nó đã phá luôn Phật Giáo chính gốc (vô khổ, tập, diệt, đạo). (ĐVXP-Tập 6).
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Do không khách quan, tổng thể,… mà thầy Thích Thông Lạc đưa ra những lập luận chủ quan, thiếu tầm, hẹp lượng và không hợp chánh pháp.
7. Cái sai thứ nhất của kinh sách Phát Triển và Thiền Tông là: Khi tâm hết vọng tưởng do sự tập trung ức chế ý thức mà cho là định thì định đó không phải là định của Đạo Phật, mà là định của ngoại đạo.
Cái sai thứ hai là: Trong chỗ hết vọng phát sanh sự hiểu biết, mọi người đều lầm tưởng mà cho sự hiểu biết đó là trí tuệ. Sự thật đó là tưởng tri chứ không phải trí tuệ. Đức Phật đã xác định trí tuệ ở đâu thì giới luật ở đó; mà giới luật tức là đức hạnh, cho nên người có đức hạnh là người có trí tuệ, người có trí tuệ là người có đức hạnh.
Trí tuệ hiểu biết những tưởng pháp như hiểu biết trong kinh sách Đại Thừa và các công án của Thiền Đông Độ là tưởng tuệ. Sự hiểu biết đó không ích lợi cho mình cho người. Sự hiểu biết đó chỉ là một hý luận. Từ xưa đến giờ các thiền sư dựng lên trò hý luận công án nói Đông trả lời Tây, nói Nam trả lời Bắc và còn hơn thế nữa là la, hét, chỉ, trỏ, v.v...(ĐVXP-Tập 8).
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Do không khách quan, tổng thể,… mà thầy Thích Thông Lạc đưa ra những lập luận chủ quan, thiếu tầm, hẹp lượng và không hợp chánh pháp.
8. Đọc suốt bộ kinh Kim Cang ta không thấy có một pháp hành nào cả, chỉ toàn là hý luận lý thuyết suông. Cho nên nói được nhưng chưa có ai làm được như trong kinh này. Kinh này từ xưa đến nay đã cho chúng ta ăn toàn thứ bánh vẽ......(ĐVXP-Tập 8)
Nhận định kinh Kim Cang không có pháp hành là tự có sai lầm. Không có bộ kinh nào của Phật Thích Ca thuyết nói riêng hay Giác giả trình bày mà không có pháp hành cả. Nếu không nhìn ra pháp hành là do tự thân không liễu nghĩa kinh mà thôi. Một câu “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” đã chỉ rõ phép hành phá chấp có của người đời. Nếu liễu nghĩa câu kinh trên thì người học Phật tự biết không tham đắm tài vật, sắc thân, đẹp xấu, hôi tanh, thơm tho,… vì rõ biết những cái có hình tướng đều có tánh hư huyễn, không trường cửu. Đây không phải là pháp hành thì gọi là gì. Đạo Phật chú trọng cái biết, cái hiểu. Khi nhận rõ chân thật tướng các pháp và bản thân thì người học Phật tự biết hành, tự biết sống đúng theo chánh pháp. Cũng lại như vậy “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” cũng ẩn tàng sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
9. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới không phải là chánh pháp của Phật mà là của Bà La Môn có thâm ý muốn diệt Phật giáo nên mới chế ra Bồ Tát Giới. Mục đích của Bồ Tát Giới là bộ sách có hình thức tổ chức người cư sĩ thành một tổ chức để phục vụ cho Phật Giáo Đại Thừa. Phần thứ nhất là khuyến dụ người cư sĩ thọ Bồ Tát Giới để góp công góp của xây dựng đạo pháp của Bà La Môn, nhưng sự thật là phục vụ cho quý Thầy Đại thừa: Bồ Tát Giới là một bộ sách khuyến dụ Phật tử để lừa công sức và lừa của cải, tiền bạc của họ. Bồ Tát Giới là một loại kinh sách với thâm ý diệt Phật Giáo. Quý vị đọc cho kỹ lại bộ sách thì mới thấy rõ âm mưu thâm độc của Phật Giáo phát triển Đại Thừa. (ĐVXP-Tập 8).
Vì chủ quan mà thầy Thích Thông Lạc đã có những nhận định không thật đúng. Có câu “Y pháp bất y nhân” người học Phật chân chính, đúng mực hành bồ tát giới không sai còn người học Phật làm sai chánh pháp đâu thể bắt lỗi Tam Tạng kinh là hư hỏng. Tuy nhiên, bồ tát giới do không được liễu nghĩa nên đã trở thành một trong những sợi dây trói người học Phật.
10. Kinh Duy Ma Cật là kinh phát triển của Đại Thừa. Kinh giáo Đại Thừa là kinh sách chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau và những phong tục tập quán của con người trên hành tinh này mà thành lập ra giáo lý của mình. Nó không có gì đặc biệt riêng của nó, chỉ khéo dùng những danh từ thật kêu và cũng giống như vẽ rắn thêm chân, thêm râu, khiến cho mọi người dễ bị lường gạt tưởng là rồng thật. Giáo lý Đại Thừa và Thiền Đông Độ cũng lường gạt tín đồ như vậy, tưởng là một chân lý siêu việt của Đạo Phật, nào ngờ là một giáo lý chắp vá, như chiếc áo may nhiều loại vải thô xấu....(ĐVXP-Tập 8)
Kinh Duy Ma Cật là một bộ kinh hay của Phật Thích Ca. Nếu liễu ngộ kinh này thành Phật thật không khó.
11.Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã lừa đảo mọi người. Tánh Biết, Tánh Thấy, Tánh Nghe, những tánh này là thường, lạc, ngã, tịnh, nó luôn luôn có trí tuệ diệu dụng, hằng giác, sáng suốt vô hạn, thế mà lại chui vào cái đải da hôi thúi. Thiền Sư Triệu Châu trả lời cho một thiền tăng hỏi đạo: biết mà cố phạm. Xưa Đức Phật cho những luận thuyết này là những loại luận thuyết trườn uốn như con lươn… Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh phát triển của Đại Thừa, do người sau viết ra mạo nhận là Phật thuyết, nên lối lý luận thiếu chân thật, không logic, thường mâu thuẫn, v.v... Kinh này chỉ dạy cho chúng ta thấy Phật Tánh thường hằng sáng suốt từ vô thủy cho đến nay. Tất cả chúng sanh từ loài côn trùng, cầm thú đến loài người đều có, có mà ngu như con bò, nên thường chịu khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Thà là chịu ngu như loài cầm thú còn hơn có Tánh Giác mà lại ngu thì mới buồn cười cho loại kinh sách xảo ngôn. Suy nghĩ chút xíu, chúng ta sẽ thấy rất nhiều cái sai trong kinh này. [ĐVXP-Tập 8]
Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng là một bộ kinh đáng đọc dù rằng có một sự trùng lập ý khá nhiều nơi bộ kinh. Tuy nhiên, đây cũng là một bộ kinh có tính liễu nghĩa, thông suốt. Sự rườm rà ý từ có thể là do người đời sau không liễu nghĩa nên thêm thắt, dẫn dắt những lời thừa. Nói đi thì cũng nói lại, có lẽ phần lớn kinh sách sau nhiều lần trùng tuyên đã có sự “Tam sao, thất bản” người chứng ngộ dễ dàng nhận ra những lời thừa cũng như sự liễu nghĩa trọn vẹn có nơi những bộ kinh (nếu người đó khách quan, không tự phụ cái biết chủ quan cá nhân). Thêm nữa, bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm khá trừu tượng với cách diễn giải tương đối cao nên với tri thức cạn thì người học Phật khó thể nhất thời lĩnh hội được hết nội dung hay nói cách khác là khó liễu nghĩa. Rất nên đọc nhiều lần và có lẽ nên tìm kinh Thủ Lăng Nghiêm do những dịch giả dịch thoát ý, liễu nghĩa.
12..Kinh Viên Giác không phải kinh sách Phật thuyết mà do các Tổ thuyết, nhưng các Tổ khôn khéo gán cho Phật thuyết để dễ lừa đảo tín đồ Phật Giáo và tín đồ Phật Giáo cũng dễ tin tưởng là tất cả kinh đều do Phật thuyết vì kinh sách Đại Thừa tập kinh nào cũng bắt đầu bằng câu: Như thị ngã văn nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, kỳ thọ Cấp Cô độc viên dữ ... , chỉ nội câu này cũng đủ lừa đảo người khác rồi.Kinh sách Đại Thừa nào cũng có hai phần: 1- Dụ dỗ 2- Hăm dọa.
Đoạn này đã được lý giải theo những ý ở bên trên.
13..Đức Phật Di Lặc không có, đó chỉ là một Đức Phật tưởng tượng của các nhà Đại Thừa Bà La Môn. Đức Phật Di Lặc đã được kinh sách Đại Thừa nói đến rất nhiều. Đó là một thâm ý nham hiểm của các nhà Đại Thừa Giáo, đưa Đức Phật Di Lặc ra để làm một cuộc cách mạng Phật Giáo lật đổ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thay thế bằng vị giáo chủ mới là Phật Di Lặc. .(ĐVXP-Tập 7).
Nhận định đức Phật Di Lặc không có thật là khá chuẩn nhưng thực ra chính Giác giả đã thuyết chứ không phải là gian kế của đạo Bà La Môn cũng như Phật giáo đại thừa. Tuy nhiên, lỗi này không thuộc hoàn toàn nơi các nhà truyền giáo Đại thừa mà là do nơi người học Phật (nói chung), có một sự không liễu nghĩa về vị Phật Di Lặc, không rõ dụng tâm của Phật Thích Ca khi thuyết ra pháp Di Lặc hạ sanh do vậy nên “người trong mê thường nói lời mộng”. Phật Thích Ca trình bày về sự tồn tại của Phật Di Lặc với dụng tâm khác hẳn, đó cũng chỉ là một pháp hành đơn giản, ngắn gọn mà người học Phật nên tùy thuận, là pháp Từ Bi Hỷ Xả.
14…Bởi vậy từ khi có sự hý luận của Ngài Long Thọ với Trung Quán Luận là một tai hại rất lớn cho tín đồ Phật Giáo từ thế hệ này đến thế hệ khác chỉ toàn là ăn thứ bánh vẽ cho nên không mấy vị tu sĩ đạt được giải thoát, đến khi chết không có vị nào mà không đau khổ cả, họ đều lăn lộn trăn trở trên giường bịnh một cách khổ đau không thua gì người thế tục. .(ĐVXP-Tập 9).
Nếu nhận định thế này thì pháp hành của thầy Thích Thông Lạc cũng đâu khác chiếc bánh vẽ là mấy. Cũng tứ thiền, bát định, thập nhị nhân duyên,… nhưng niết bàn có hay không? Cách để thể nhập niết bàn,… thầy Thích Thông Lạc cũng đâu từng trình bày sáng rõ đủ để người học Phật dễ dàng chạm đến bằng cái biết khách quan, đúng mực.
15. Trên đường hoằng hóa độ sanh, Thượng Tọa bộ tuy cố giữ gốc Nguyên Thủy, nhưng vì các vị tu hành chưa chứng đắc nên có sự kiến giải trong giáo lý ấy bằng trí tuệ học giả hoặc bằng những kinh nghiệm chưa đến nơi đến chốn như: Thiền sư Mahàsi, Thiền sư A-Chaan-chah. Hai Ngài có những bài kinh soạn theo kiến giải kinh nghiệm tu hành của mình như: Mặt Hồ Tĩnh Lặng, Thiền Minh Sát Tuệ, v.v... Làm sai ý nghĩa và giáo pháp của Đức Phật rất lớn..Vì tu hành chưa tới nơi tới chốn, nên các Ngài biên soạn những loại kinh sách này vô tình đã để lại cho loài người trong hiện tại và mai sau những tai hại rất lớn, làm hao tài tốn của và phí cả cuộc đời của hậu học chẳng ích lợi gì, khi họ theo tu những pháp môn này. Trong thế kỷ này, tín đồ Phật Giáo khắp năm châu bốn biển đua nhau tu tập thiền Minh Sát Tuệ. Tu tập thiền này phải tập trung theo cơ bụng (Phồng, xẹp) nhằm diệt vọng tưởng. Loại thiền ấy thuộc về thiền ức chế tâm nó không phải là thiền của Đạo Phật.....(ĐVXP-Tập 8)
Đoạn này đã được lý giải theo ý ở bên trên. Cũng là những nhận định thiếu tính khách quan, hợp chánh pháp, hợp lòng người. Những nhận định mang nặng tính cá nhân, cảm tính.
Về ý thầy Thích Thông Lạc nói “không có linh hồn” thì có lẽ là đã có một sự nhầm lẩn nào đó. Có thể người lược trích nhận định này đã không viết đủ đầy ý của thầy Thích Thông Lạc muốn trình bày hoặc có thể thầy Thích Thông Lạc bị sự cứng nhắc, cực đoan khi dùng từ Phật học. Thực ra nếu không có sự tồn tại linh hồn thì lấy cái gì mà chúng sinh nơi 3 cõi 6 đường trôi lăn trong sinh tử, quy luật nhân quả. Nếu không có linh hồn thì Tam Tạng kinh đã trở nên vô nghĩa rồi. Có thể thầy Thích Thông Lạc không thừa nhận khái niệm linh hồn mà muốn dùng khái niệm thần thức theo cách trình bày của đạo Phật. Linh hồn, thần thức, vong, hình thần,… tất cả cũng đều chỉ chung cái hiện trạng còn lại sau khi con người hay loài vật đã chết, cái mà sau này tôi sẽ gọi là Tâm ý sự sống cho sáng rõ, đúng mực hơn phù hợp với khoa học và tri thức đương đại hơn.
Bổ sung thêm ý về nhận định của thầy Thích Thông Lạc về sự không có Phật A di đà, Bồ tát Quán Thế Âm, Địa Tạng Vương Bồ tát cũng như hàng loạt vị Phật, Bồ tát khác,… sự không tồn tại cõi giới Tây Phương cực lạc. Tôi thừa nhận về nhận định trên của thầy Thích Thông Lạc là chuẩn, là đúng.
Để cho vấn đề đơn giản lại tôi chỉ xét vấn đề Phật A di đà và cõi Tây Phương cực lạc. Nếu đứng trên phương diện tổng quan và dựa trên kinh sách ta sẽ dễ dàng nhận ra hằng hà sa chư Phật, Bồ tát đều do Phật Thích Ca tuyên thuyết. Điều này có ý nghĩa gì? Thực ra mỗi vị Phật đều ẩn tàng một pháp hành mà Phật Thích Ca đã sáng suốt lồng ghép vào. Mục đích của việc lồng ghép pháp hành vào những bộ kinh có các vị Phật, Bồ tát là nhằm giúp con người dứt trừ đau khổ cả hai mặt thân và tâm, tiến đến là sự tăng trưởng trí tuệ cũng như việc tự liễu thoát sinh tử nơi mỗi người chứ không lệ thuộc, nhờ vả ai cả. Mục đích Phật Thích Ca sáng rõ là vậy nhưng người đời sau lầm lạc ý kinh, không liễu nghĩa Tam Tạng kinh nên bị kinh điển trói chặt dẫn đến mê tâm, cuồng tín.
Những bộ kinh liên quan đến Phật A di đà đều không quan trọng ở nội dung bộ kinh điển đó mà là ở nơi căn nguyên Phật Thích Ca thuyết bộ kinh đó. Phật Thích Ca thuyết kinh A di đà khi hoàng hậu Vi Đề Hi tìm đến người trong tình trạng suy sụp hoàn toàn, không còn thiết sống nữa. Sở dĩ hoàng hậu Vi Đề Hi rơi vào trạng thái khủng hoảng cùng cực là do bà phải tận mắt chứng kiến con bà - Vua A Xà Thế bức tử cha ruột - Vua Tần Bà Sa La. Vì lẽ đó hoàng hậu chẳng còn thiết sống nữa, bà tìm đến Phật cũng chỉ là sự mong cầu Phật hóa giải hận thù trong lòng vua A Xà Thế và tạm xem như là “cứu rỗi” linh hồn chồng bà, vua Tần Bà Sa La lẫn chính bà. Là một người giác ngộ hoàn toàn Phật Thích Ca đã nhận thấy sự rệu rã tinh thần ở hoàng hậu, nếu không có một biện pháp “sốc dậy” tinh thần hoàng hậu thì e rằng hoàng hậu sẽ đau khổ và chóng chết. Đứng trước tình cảnh một người sắp chết đuối Phật Thích Ca đã đưa ra một chiếc phao cứu sinh và Phật A di đà, cõi Tây Phương cực lạc chính là chiếc phao đó. Dụng tâm của Phật rất rõ ràng, cần phải cứu người sắp chết đuối lên bờ chứ không thể đứng ở mé sông mà thuyết pháp cho người sắp chết đuối. Khi cứu thoát người khỏi chết đuối rồi thì hoàng hậu sẽ có nhiều hơn cơ hội lĩnh hội chánh pháp, sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Khi đã làm chủ sinh tử, sáng rõ lối đi và khi ở trên bờ an toàn rồi thì người có hiểu biết, người tỏ ngộ phải chăng là sẽ không ôm giữ mãi chiếc phao cứu sinh giờ đã không còn cần thiết nữa.
Tuy nhiên, về sau người học Phật nhận lầm ý kinh. Cộng với việc ảnh hưởng phép Tu Tiên của đạo Lão người học Phật lầm đường ngỡ rằng cõi Tây Phương cực lạc là thật có nên ra sức hoằng dương Tịnh độ tông làm mê tâm, rối mắt người đời sau. Người học Phật sáng rõ chánh pháp sẽ tự biết niết bàn là không có nơi chốn để về, Tây Phương cực lạc chỉ là một pháp ẩn dụ của Phật Thích Ca mà thôi.
Song do mê tâm người học Phật ngày nay cũng như phần đông Tăng bảo tin rằng cõi Tây Phương là có nơi chốn để về chuyên tu. Thật đáng tiếc thay! Do vọng tưởng như vậy nên cõi Tây Phương huyễn cảnh được dựng lập nơi thế giới tâm linh. Cõi Tây Phương cực lạc đã có sự tương tợ cõi Tiên, cõi Trời,… người học Phật về đây an nhàn được một khoảng thời gian nhất định, tùy thuộc vào định lực, định tâm rồi cũng sẽ lại trôi lăn nơi sinh tử luân hồi ở 3 cõi, 6 đường. Lời này của tôi không sai với chánh pháp bởi lẽ còn sinh là còn tử, không thể khác được.
Có một sai lầm nơi nhận thức cũng như việc tự đánh tráo khái niệm ở người tu theo pháp môn Tịnh độ, từ đó họ tự “lừa người, dối mình”. Họ cho rằng chết nguyện vãng sanh cực lạc sẽ được Phật A di đà tiếp dẫn về Tây Phương tiếp tục tu học và thành Phật mà không phải chết thêm lần nữa. Được không với sự đúng mực, rõ ràng “Còn sinh ắt còn tử”. Thực ra, “Vãng sanh cực lạc” được dịch liễu nghĩa sẽ là dừng lại việc sinh tử sẽ đạt được sự an lạc tột cùng.
Thêm nữa, Phật A di đà, Phật Thích Ca hay bất kỳ một vị Phật nào đều cũng có hiệu Như Lai. Như Lai là không đến, không đi vậy Phật A di đà sao có thể tiếp dẫn người học Phật theo pháp môn Tịnh độ về Tây Phương và lại còn giảng đạo, thuyết pháp nữa. Đừng hiểu lầm tâm Phật.
Xem ra tôi đã viết khá nhiều, khá rõ về hiện tượng Thích Thông Lạc.Có lẽ cũng đã đến lúc nên dừng lại. Việc đúng sai ở nơi lòng mỗi người vậy nên mọi người hãy thư thả xem và xét lại.
Nếu có chỗ nào tôi trình bày sai với chánh pháp thì rất mong được mọi người bổ khuyết! Tôi rất cảm ơn những ý kiến mang tính đóng góp xây dựng.
Nếu còn có chỗ nào gút mắc, chưa rõ thì mọi người cứ góp ý tôi sẽ hoàn chỉnh lại bài viết.
Chúc mọi người thân tâm an lạc, sớm liễu nghĩa Tam Tạng kinh, sáng rõ chánh pháp ngõ hầu có một cuộc đời an nhiên, tự tại và có thể làm chủ sinh tử luân hồi. Trân trọng!

Cám ơn Diệu Tâm, Minh Quân cùng mọi người đã chia sẻ bài viết và thư ngỏ!

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc (Phần 1)

Thư ngỏ của BBT Thư viện Hoa sen
Hoa Kỳ ngày 16-6-2003
Kính gửi các bậc Tôn Túc, quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,…
Kính gửi quý Cư sĩ Phật tử,
Kính thưa quý vị,
Trong những tháng vừa qua Phật tử cũng như không là Phật tử Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đã được tiếp cận với đạo Phật qua các bài thuyết giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc, Viện chủ Tu Viện Chơn Như ở Trảng Bàng, Tây Ninh, Việt Nam trên mạng lưới điện toán toàn cầu và qua các sách in ấn của Tu Viện Chơn Như. Một số đông đã thư về cho ban biên tập chúng tôi hỏi ý kiến về pháp tu cũng như đường hướng hoằng pháp của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Họ bầy tỏ niềm hoang mang trước những lời giảng rất khác thường của Hoà Thượng, bởi vì Hoà Thượng Thông Lạc là một trong mười đệ tử đầu tiên của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, mà HT. Thanh Từ lại chính là một đại Thiền sư của Phật Giáo Việt Nam, người hiện đang hoằng dương Đại Thừa Thiền Tông, rất nổi tiếng trên khắp thế giới. Ngoài ra, chính HT. Thông Lạc cũng tự xưng mình đã chứng Tứ Thiền, đắc Tam Minh và đã được Hòa Thượng Thanh Từ ấn chứng, đồng thời còn yêu cầu HT. Thông Lạc trụ thế, như sau:
 “…Hòa Thượng Thanh Từ sau khi đã ấn chứng Thầy chứng quả Thiền Tông, yêu cầu Thầy trụ thế, và duyệt lại kinh sách để cùng Hòa Thượng CHẤN HƯNG THIỀN TÔNG. ..” [TL-0]
Vì sự trường tồn của Phật Giáo và trước những hoang mang của Phật tử, nên chúng tôi trân trọng kính gửi thư này xin quý vị từ bi hoan hỷ cho biết tôn ý về việc Hoà Thượng Thông Lạc cho rằng từ các kinh điển Đại Thừa như các kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, kinh Viên Giác, kinh Bát Nhã, kinh Phạm Võng, kinh Duy Ma Cật; tới chư vị Tổ Sư như các Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ v.v. [TL-8] của các truyền thống Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, và Tịnh Độ là ngoại đạo, là Bà La Môn giáo, trà trộn vào Phật giáo để đánh phá đạo Phật, biến Phật Giáo thành một thứ tà giáo ngoại đạo. [ĐVXP-T2] Hoà Thượng Thông Lạc cho biết Hoà Thượng đã bị chư Tổ lừa gạt và lầm lạc pháp môn ngoại đạo (Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông) và khuyên các Phật tử không nên đi vào con đường tu lầm lạc đó. [ĐVXP-T5] 
Trước những cáo giác Phật Giáo Đại Thừa và chư Tổ Phật giáo từ Tây Trúc đến Việt Nam là tà giáo ngoại đạo, ban biên tập Thư Viện Hoa Sen và Nguyệt San Liên Hoa Điện Tử do chúng tôi chủ trương đã thận trọng và âm thầm tìm hiểu xem từ nguyên nhân nào mà bỗng nhiên lại có hiện tượng một vị sư phát biểu như thế, nhưng vẫn chưa tìm ra được manh mối một cách rõ ràng. Trong khi chờ đợi, chúng tôi đã không phổ biến các tài liệu diễn giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Tuy nhiên, trước những lời mạ lỵ quá nặng nề của Hòa Thượng dành cho kinh điển và chư Tổ Phật Giáo Đại Thừa, nhiều đạo hữu đã gửi tới chúng tôi những tài liệu mà chúng tôi xin đính kèm sau đây, trích trong một số bài giảng tiêu biểu của Hoà Thượng Thông Lạc để quý vị tham khảo.
Chúng tôi rất mong quí vị hoan hỷ góp ý kiến vì đối với một tôn giáo thì vấn đề kinh điển và nhân cách của chư vị Tổ Sư truyền giáo là vấn đề lớn, cần phải được chiếu rọi cho rõ ràng, tránh cho Phật tử bị rơi vào tình trạng hoang mang. 
`Xin quý vị thư về cho ban biên tập chúng tôi.
Trân trọng kính chào và kính chúc quý ngài vạn sự cát tường.
Kính thư,
Ban Biên Tập

Tâm Diệu

Trong một dịp tình cờ tôi đọc được bài viết Về sư Thông Lạc, GHPGVN im lặng mới là “Hiện tượng” của Minh Quân và bài viết Thư ngỏ của BBT Thư Viện Hoa Sen do Tâm Diệu viết thể hiện sự quan tâm về hiện tượng hành giả Thích Thông Lạc. Tôi nhận ra sự mong mỏi có tính cầu thị, bi thiết nơi những bài viết, cùng với những chia sẻ bên dưới mỗi bài viết đã thể hiện người học Phật chân chính đang những mong có được câu trả lời thích đáng, đúng mực, hợp lý cho hiện tượng Thích Thông Lạc ở những người viết và mọi người. Do nhân duyên đó hôm nay tôi sẽ viết bài viết Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc dựa trên cái biết đúng thật, khách quan. Có lẽ cái đúng này không là của riêng tôi mà đó là cái đúng trong lòng mọi người.
Thông qua bài viết của Minh Quân tôi được biết thầy Thích Đức Thắng có bài viết liên quan đến thầy Thích Thông Lạc nhưng nghe chừng bài viết rời rã, thiếu tính thuyết phục. Lại thấy bài viết của thầy Toàn Không tôi có ghé qua xem phần bài 1 nhưng xem chừng cũng chỉ là những câu chữ được xếp hình. Vì lẽ đó tôi không xem tiếp và bắt đầu cho bài viết Giải mã cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc.
Trước hết, tôi sẽ trả lời cái ý thể hiện nơi bài viết của Minh Quân “Tại sao GHPGVN lại im lặng trước hiện tượng Thích Thông Lạc?” hay nói theo cách của người viết là “Sự im lặng của GHPGVN mới thật là hiện tượng”.
Thầy Thích Thông Lạc vốn là một vị hành giả có hành trì, có sự chứng ngộ nhất định nên thật không dễ phản bác lại những phát ngôn có tính quyết liệt và có phần cực đoan, bảo thủ ở sư Thích Thông Lạc. Bên cạnh đó, GHPGVN phần nhiều là những học giả Phật giáo, số ít có sự chứng ngộ chưa đạt mức liễu nghĩa Tam Tạng kinh. Thế nên, sự hiểu biết của những sư thầy đại diện cho GHPGVN là không đủ sức để tranh biện cùng sư Thông Lạc ngõ hầu làm sáng rõ vấn đề, sáng rõ chánh pháp, sáng rõ đạo Phật. Do vậy GHPGVN đành chọn sự “im hơi, lặng tiếng” để đứng ngoài cuộc chơi nhằm mục đích “Tránh voi không xấu mặt nào”. Tuy nhiên, họ không thể nghĩ, không thể ngờ cũng không dám thừa nhận sư Thích Thông Lạc vốn là một bậc Long Tượng của đạo Phật.
Thực tế là GHPGVN không đủ tầm để phản biện, chất vấn sư Thích Thông Lạc, họ bị cột trói nơi mớ giáo lý có phần hỗn độn, không liễu nghĩa nơi kinh sách, có rất nhiều điều liên quan đến đạo Phật nằm ngoài tầm nhận thức, tư duy và cả sự hiểu biết của họ. Chính do có sự không sáng rõ giáo lý Tam Tạng kinh, những gốc khuất hiện có nơi đạo Phật cũng như ưu khuyết điểm của thầy Thích Thông Lạc mà GHPGVN đành thúc thủ trước hiện tượng Thích Thông Lạc. Đứng trước chọn lựa tranh biện với thầy Thích Thông Lạc nhằm bảo vệ cái đúng dựa trên cái biết không chắc chắn, không rõ ràng thì sự im lặng đã được chọn.
GHPGVN im lặng không phải vì “Im lặng là vàng”, im lặng là vì “Ta đúng hơn” mà là vì “Tự biết không thể đối đầu thầy Thích Thông Lạc”.
Và cho dù GHPGVN có phản biện, chất vấn lại thầy Thích Thông Lạc thì vấn đề cũng sẽ chẳng đi đến đâu, chánh pháp cũng chẳng thể sáng rõ hơn.
Vì sao?
Vì cả hai - Thầy Thích Thông Lạc và GHPGVN - đều không sáng rõ chánh pháp, không tường tận vấn đề. Khi tranh biện xảy ra ai cũng sẽ bảo vệ kiến chấp của mình để khẳng định tôi đúng nhất để rồi cả hai đều có không ít điểm sai.
Vì Minh Quân có ý mong rằng người đóng góp bài viết cho hiện tượng Thích Thông Lạc nên có những lập luận chuẩn xác, đúng mực dựa trên kinh Nikaya nên tôi sẽ nói thêm ý này góp ý cùng Minh Quân và cả mọi người. Thực ra chánh pháp không là kinh Nikaya, thế nên những lập luận có tính đúng mực, logic, hợp lý dựa trên cơ sở biện chứng khách quan, sáng rõ hợp lòng người, đúng chánh pháp là được, là ổn, không cứ gì phải dựa vào kinh điển nhiều dễ gây rườm rà, rối mắt người đọc.
Nhân tiện, tôi cũng trình với mọi người. Nếu đạo Phật là chánh pháp thì những gì liên quan đến đạo Phật cần phải sáng rõ, khách quan, đúng mực và không có góc khuất. Thế mới là chánh pháp. Chánh pháp thì không thể mê tâm, cuồng tín. Cho dù là trình bày vấn đề ở hữu hình hay vô hình thì vấn đề cũng phải được trình bày rõ ràng, minh bạch và tường tận. Nếu thỏa những điều kiện đó thì đạo Phật mới thật sự là chánh pháp, đáng để người đời tham học và gìn giữ.
Tiếp đến, tôi sẽ xét lại vị trí của thấy Thích Thông Lạc, mức độ chứng ngộ của thầy Thích Thông Lạc ở các tầng bậc thiền.
Thầy Thích Thông Lạc là một vị hành giả là sự thật. Thầy đạt được sự chứng ngộ nhất định cũng là một sự thật. Tuy nhiên, thầy chưa đạt đến quả vị A la hán cũng là một sự thật. Có thể nói thầy Thích Thông Lạc đạt tầm mức chứng ngộ cao hơn các vị thầy đương thời thông qua sự “ra đi” có phần tự tại của thầy. Dù không rõ trình độ học vấn của thầy nhưng tôi tin rằng thầy không là người học cao, hiểu rộng (Trước khi xuất gia, trước lúc chứng ngộ). Sau khi có dịp tham cứu Tam Tạng kinh cùng việc ngồi thiền thầy đạt được sự chứng ngộ nhất định kèm với khả năng rút thần thức ra khỏi xác thân vật chất. Từ đó, thầy nhận ra sự khác biệt của cá nhân với cách tu học của những người đồng tu cùng sư thầy Thích Thanh Từ, thầy nhận ra phương pháp thầy đang hành có sự sai khác với tôn sư và có khả năng pháp hành cá nhân có chỗ vượt trội, nhanh chóng chứng đắc hơn pháp hành của thầy Thích Thanh Từ.
Có lẽ đã có những trao đổi có tính chất thẳng thắn, quyết liệt giữa thầy và thầy Thích Thanh Từ. Kết quả là thầy Thích Thanh Từ không đồng thuận với những pháp hành mang tính cá nhân của thầy Thích Thông Lạc. Ngược lại, thầy Thích Thông Lạc cũng không tán đồng cách thức xây dựng thiền tông theo đường hướng của thầy Thích Thanh Từ, những cách biện giải của thầy Thích Thanh Từ đã không còn lấy được niềm tin, sự kỳ vọng của thầy Thích Thông Lạc. Đất không chịu trời, trời không chịu đất nên thầy Thích Thông Lạc rời khỏi dòng thiền do thầy Thích Thanh Từ khơi nguồn trở lại. Về sau thầy Thích Thông Lạc tự lập thiền phái và môn quy mà thầy cả nghĩ rằng đúng mực hơn.
Nếu đứng trên góc độ tổng thể, khách quan để xét về yếu tố tự lập thiền môn, viết sách bày tỏ sự không đúng của dòng thiền do vị thầy tiền bối Thích Thanh Từ dày công xây dựng đủ thấy thầy Thích Thông Lạc có sự chứng ngộ nhưng chưa phá ngã thành công, có dấu vết của sự phản kháng mang tính cá nhân. Do quá tự tin vào sự hiểu biết cá nhân (sau khi được khai mở) thầy đã cả nghĩ cái biết của thầy là đúng nhất, khác với cái biết của thầy là sai cả, ngã kiến thật sự rất lớn, từ đó thầy Thích Thông Lạc đã viết nên cái được gọi là hiện tượng Thích Thông Lạc.
Dựa vào tư tưởng có nơi sách cùng những bài viết của thầy Thích Thông Lạc ta dễ dàng nhận ra thầy có những thiên kiến, phiến diện, chủ quan rõ rệt trong cách hành văn, lập luận cũng như dẫn chứng. Có một sự cứng nhắc, cực đoan, bảo thủ và cả sự mâu thuẫn mơ hồ nơi lập luận của thầy. Thầy đặc biệt thiên lệch về dòng tu nguyên thủy, cũng như kinh điển Tiểu thừa - Nikaya, sự vướng chấp này đã khiến thầy bị cái tôi - ngã trói cho đến tận cuối cùng. Thật sự thầy chưa liễu ngộ chánh pháp, chưa thông suốt Tam Tạng kinh.
Lấy giới làm thầy cũng có thể xem là một sai lầm của thầy Thích Thông Lạc. Bởi lẽ giới chỉ là trợ pháp cho sự thành tựu chứng ngộ chứ không phải là cứu cánh của đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, mà giác ngộ chính thật là sự hiểu biết sáng rõ, khách quan, đúng mực. Thế nên, đến với đạo Phật là đến với sự hiểu biết minh bạch, cùng tận, tổng thể chứ không hẳn chỉ dùng giới làm thầy mà có thể thành Phật, thành Tổ.
Có lẽ chính do giới hạn tri thức căn bản cùng việc rơi vào đại ngã mà thầy Thích Thông Lạc không thể tránh khỏi việc cực đoan, quá khích khi phơi bày cũng như chỉ trích các pháp môn tu khác mang danh nghĩa đạo Phật. Có thể nói khi theo thầy Thích Thanh Từ học thiền thầy Thích Thông Lạc có niềm tin rất lớn nơi thầy Thích Thanh Từ nhưng về sau khi thầy chứng ngộ thì sự hiểu biết của thầy Thích Thanh Từ đã không còn đủ sức để dung chứa, hóa giải những mối nghi cũng như sự hiểu biết tâm linh mới mẻ trong lòng thầy Thích Thông Lạc. Những mâu thuẫn nội tâm cũng như những xung đột tư tưởng tế nhị thầy Thích Thông Lạc rời thầy Thích Thanh Từ và từ đó “con ngựa bất kham” đã không còn có người đủ sức cầm cương. Ngã kiến ngày càng lớn do ta luôn đúng nên dần dà thầy Thích Thông Lạc ra sức “vạch lá, tìm sâu” ở các tôn giáo thuộc đạo Phật đương đại.
Do là người có sự chứng ngộ thật sự nên thầy Thích Thông Lạc đã dũng cảm chỉ ra những cái đúng, cái sai của đạo Phật đương đại mà thầy nhận diện được. Thầy đã không ngần ngại “Chỉ mặt, đặt tên” những chỗ không ổn có nơi đạo Phật ngày nay. Từ đó, với những phát ngôn, lập luận mang tính thẳng thắn, quyết liệt thầy đã phần nào chỉ ra những cái sai có thật nơi đạo Phật, sự thẳng thắn, bộc trực xen lẫn tính cực đoan, quá khích thầy Thích Thông Lạc phần nào tạo ra dấu ấn riêng cũng như gây ra sự hoang mang trong lòng người học Phật ngày nay.
Như đã nói ở trên, do giới hạn nền tảng tri thức căn bản ban đầu cùng với ngã kiến sâu nặng nên không phải tất cả những điều thầy Thích Thông Lạc trình bày đều đúng cả. Thật ra đã có những điểm sai lầm then chốt, có những mâu thuẫn nơi các phát ngôn của thầy, đã có sự tiền hậu bất nhất và không thể dung hòa.
Nếu tinh ý ta vẫn có thể tìm thấy dường như có sự mâu thuẫn nhất định giữa các bộ kinh do Phật Thích Ca thuyết. Song kỳ thực đó không là sự mâu thuẫn mà có một sự liên kết có tính tổng thể, đồng nhất nơi các bộ kinh, bộ kinh này góp phần làm sáng rõ bộ kinh kia, rất hài hòa. Trong khi đó, sách mà thầy Thích Thông Lạc trình bày có những sự vướng mắc, không có lối ra. Chung quy lại nếu khônglà sự chỉ trích, phản bác thì cũng chỉ là những “lời hay, ý đẹp” thường có nơi giáo lý của phần lớn tôn giáo. Lối thoát khỏi luân hồi sinh tử không rõ ràng, niết bàn có không chẳng được trình bày sáng tỏ,…
Nếu thầy Thích Thông Lạc thành tựu việc phá ngã thì thầy sẽ sáng rõ một điều là chánh pháp không chỉ có nơi kinh điển Nikaya nguyên thủy. Ngay nơi kinh điển đại thừa cũng có những pháp hành ẩn tàng giúp người liễu nghĩa an lạc, thoát khổ, giải thoát hoàn toàn ngay nơi hiện đời chứ không cần đợi đến chết mới về Niết bàn tịch diệt. Không chỉ vậy! Chánh pháp có ở tất cả mọi nơi, có trong lòng mọi người chứ chánh pháp không hề bị nhốt trong giới hạn kinh Nikaya nguyên thủy.
Nhìn chiếc lá, bông hoa, đám mây, dòng nước,… người học Phật hoàn toàn có thể tìm được chánh pháp, trực nhận được Tam Tạng kinh. Cụ thể ngay nơi chiếc lá, dòng nước,… có sự sinh tử, luân hồi, vô thường, duyên, các pháp… Quán chiếu thâm nhập được tự tánh của chiếc lá, của đám mây,… hành nhân hoàn toàn có thể chứng ngộ pháp vô sinh không sinh, không diệt.
Chỉ bằng những luận chứng bên trên thì hiện tượng Thích Thông Lạc xem như đã được giải mã hoàn toàn.
Tiếp theo, tôi sẽ trình bày thêm sự ưu khuyết, đúng sai nơi những lập luận mang đậm tính cá nhân của thầy Thích Thông Lạc do Tâm Diệu, đại diện BBT Thư viện Hoa Sen trình bày trong thư ngỏ về hiện tượng Thích Thông Lạc.
Trích từ thư ngỏ của Thư viện Hoa Sen do Tâm Diệu trình bày cùng với những giải mã ngắn gọn, đơn giản và hiệu quả.
1.Phật Giáo Đại Thừa không phải là Phật Giáo chánh thống, mà là Phật giáo theo kiểu kiến giải giáo pháp của Bà La Môn. Hay nói cách khác, Phật Giáo Đại Thừa là đạo Bà La Môn lấy tên là Phật Giáo Đại Thừa để lừa đảo tín đồ Phật Giáo. Cho nên nghĩa lý toàn bộ kinh sách Đại Thừa là Giáo pháp của Bà La Môn chính gốc. .(ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này không hoàn toàn đúng vì thực tế là nội dung phần lớn Tam Tạng kinh đều có sự liễu nghĩa, thông suốt. Sự thông suốt này thể hiện nội dung kinh điển phải do một Giác giả thực sự chứng ngộ hoàn toàn mới có thể trình bày viên dung, toàn bích đến vậy. Đạo Bà la môn do dính mắc sự tồn tại của đại ngã nên khó thể thông suốt sự giải thoát hoàn toàn, rời xa sinh tử luân hồi.
2. Thiền Đông Độ không phải là của Phật Giáo mà là của Lão Giáo Trung Hoa (Tiên Đạo) Tư tưởng Lão Trang Trung Hoa phát triển, có những điểm tương đồng với tư tưởng kinh sách phát triển Đại Thừa Giáo Ấn Độ. Vì thế, sau này Phật giáo Đại Thừa đồng hóa tư tưởng Lão Giáo lấy tên là Phật Giáo Tối Thượng Thừa" hay còn gọi là "Thiền Tông". Chủ trương của Thiền Tông là kết hợp Lão Giáo và Đại Thừa, nên thường gọi là "Thiền Giáo đồng hành". ...(ĐVXP-Tập 8).
Nhận định này chỉ đúng ở chỗ là đã có sự giao thoa, hòa trộn giữa đạo Phật và đạo Lão nhưng riêng yếu tố giác ngộ, giải thoát hoàn toàn vẫn còn được gìn giữ nơi Thiền tông, yếu tố giác ngộ giải thoát hoàn toàn tư tưởng có nơi đạo Lão - Trang chưa thể chạm đến, do còn sự móng cầu có nơi chốn để về sau khi chết, có việc rèn luyện hình thần, thánh thai để rời khỏi thân xác. Thật ra thầy Thích Thông Lạc cũng hành trì chạm đến xuất thần thức rời thân. Việc dùng ngôn từ có khác nhưng vốn dĩ chỉ là một, nhưng do trói vào định kiến nên thầy Thích Thông Lạc cả nghĩ là khác nên đưa ra lập ngôn có phần không thông.
Về lý thì tên gọi tôn giáo, đạo gì mà chẳng được. Điều quan trọng là giáo lý của tôn giáo đó có đưa đến sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, có là chánh pháp, chánh đạo hay không…
3..Khi về họp ở Tỉnh Hội Phật Giáo Tây Ninh, ông Trưởng Ban Tỉnh Hội đề nghị tôi biên soạn giáo án Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Pháp Hoa Tông và Thiền Tông. Trong buổi họp hôm đó, tôi đưa ra ý kiến và vạch rõ bốn tông phái này không phải của Phật Giáo mà của Bà La Môn Giáo: 
a- Tịnh Độ Tông là pháp môn mê tín, lừa đảo giới tín đồ bình dân, biến tu sĩ thành những ông Thầy tụng, Thầy cúng tế làm những điều mê tín, phi đạo đức. Các vị Thầy này phá giới luật Phật tận cùng, có một lối sống giống như người thế tục, có vợ con, làm tất cả các nghề nghiệp để sanh sống.
b- Mật Tông là pháp môn tà thuật, huyễn hoặc lường gạt tín đồ nhẹ dạ, ham mê thần thông, biến ông Thầy thành Thầy phù thủy, Thầy bùa, Thầy pháp, v.v... 
c- Pháp Hoa Tông là pháp môn phi đạo đức, ngồi không mà muốn làm giàu, làm ác mà muốn trốn tránh tội lỗi, biến ông Thầy thành một vị Bà La Môn chuyên tế lễ, cúng bái, cầu khẩn van xin v.v... Biến Đạo Phật thành thần giáo. Biến tín đồ mất sức tự chủ, luôn luôn sống trong tha lực, tựa nương vào thần quyền, do thế mới sản xuất ra Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn.
d- Thiền Tông là pháp môn ngã chấp, lý luận có logic, dễ lừa đảo giới trí thức, biến Phật Giáo vô ngã thành Phật Giáo hữu ngã trừu tượng, mơ hồ, biến thiền sư thành giảng sư, luận sư, v.v...
Sau buổi họp đó các Thầy trong Ban Tri Sự Tỉnh Hội báo cáo về Giáo Hội Trung Ương và Thầy tôi tức là Hòa Thượng Thanh Từ. Tôi biết rất rõ điều đó, nhưng tôi không ngại, là vì tôi xác định: Những gì tôi nói là sự thật, vì sự thật thì còn để mọi người suy ngẫm, chứ sự thật mà dối gạt được ai sao? [ĐVXP-Tập 7].
Nhận định này có phần cực đoan, quá khích, tâm phân biệt sâu nặng nhưng lại không đạt được sự khách quan. Nhận định trên không hoàn toàn sai nhưng cũng lại chẳng đúng hoàn toàn.
Về vấn đề này, tôi tạm không lý giải vì thấy cũng không cần đến mức phải lý giải tận cùng. Nếu sau bài viết này mà mọi người vẫn muốn rõ tường tận thì mở lời, tôi sẽ trình bày thêm sau.

(Còn tiếp)