Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Bát nhã tâm kinh mộc giải


Bát nhã ba la mật đa tâm kinh là bài kinh cô động lại của bộ kinh bát nhã, lời kinh súc tích gãy gọn nhưng không vì thế mà giảm đi chân giá trị. Những ai hành trì miên mật bài kinh này, tự khắc trí tuệ khai mở. Khi cơ duyên đến, tùy nghi đại ngộ sẽ đạt sự giải thoát mầu nhiệm ngay trong hiện đời.
Tôi tự thẹn Hán văn ngu muội, không dám tranh hơn luận thắng với các bậc tôn trưởng, cao đức. Chỉ vì muốn lời kinh trở nên gần gũi hơn với người học Phật, tôi đành một phen mạo muội. Đắc tội!
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung. Vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc, vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố. Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng tưởng cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam muội tam bồ đề.
Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Lời kinh như lời nhắn gửi của Đức Phật Thích Ca đến với người học Phật, y kinh  hành trì miên mật sẽ mau chóng liễu thoát sinh tử.
Phật thuyết:
Khi ta quan sát một vị bồ tát đã đạt được sự tự tại giải thoát, ta sẽ nhận thấy vị này chuyên tâm hành trì bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tùy thuận ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ vậy mà vị Bồ tát này nhận ra  sắc thọ tưởng hành thức đều là tướng hư huyễn, không thật vì tất cả do duyên hợp. Do nhận biết lẽ thật đó mà vị Bồ tát vượt qua mọi khổ não, tai ách và phiền muộn.
Sắc do vật chất gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, đầu, cổ, tay chân, thân hình, máu huyết,… hợp thành. Thọ do cảm giác vui buồn, giận thương, yêu ghét,… hợp thành. Tưởng là những nhận thức nghĩ nhớ, ghi nhận, chuyện đã qua, việc hiện tại, tương lai,… hợp thành. Hành là tri giác, là những tâm ý dao động, lăn xăn, dừng nghĩ,… hợp thành. Thức là ý thức do tâm phân biệt, so sánh, đánh giá,… hợp thành. Bồ tát nhận thức rõ khi tách rời sắc thọ tưởng hành thức, và các phần nhỏ mắt tai, mũi lưỡi, vui buồn, nhớ nghĩ, sự lăn xăn tâm ý, ý thức so sánh,… thì sẽ không có ai là bồ tát và ngay cả khi hợp nhất chúng lại cũng không có vị bồ tát nào vì sắc thọ tưởng hành thức khi hợp lại vẫn không dừng lặng mà diễn ra quá trình sinh trụ dị diệt,... Chỉ có sự tự tại của chân tâm là thường còn. Vì thế vị Bồ tát không còn tham đắm dính mắc những tranh giành, hơn thua, được mất, thật giả,… nên không còn bị sự đau khổ, lo lắng bức hại.
Này người học Phật! Hãy tự nhận biết! Có thì không khác gì không, không thì không khác gì có. Có tức là không, không tức là có.
Vì lẽ thân xác người chết khi tan hoại vào đất thì thân người sẽ không còn mà con người thì phải chết. Nhưng khi còn sống, thân xác chưa tan hoại thì vẫn có thân người. Thế nên có thì đâu khác gì không, không đâu khác gì có và nói một cách khác thì có tức là không, không tức là có vì nó biến chuyển liên tục, không dừng nghỉ, không bền vững mãi mãi.
Cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức cũng đều như thế.
Chúng cũng biến chuyển liên tục, không dừng nghỉ, không bền vững. Ai có thể giữ mình vui hoặc buồn cả ngày; nhận thức, ý thức, tri giác của mỗi người cũng không dừng lặng được; việc đẹp xấu, những chuyện ngày mai, hôm qua,... chạy loạn trong đầu. Vì thế chúng cũng không khác gì không, cũng không khác gì có. Chúng cũng chính là không mà cũng chính là có.
        Này người học Phật! Hãy tự nhận biết. Tất cả các pháp đều không phải tồn tại ở dạng có hay không, cũng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Tất cả các pháp đều không có hình tướng, không có cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, tư duy. Cũng không có cái gì gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi , thân, ý; Cũng không có gì là màu sắc, âm thanh, mùi hương, khẩu vị, sự xúc chạm và các sự vật, các pháp. Cũng không có cái bị thấy, không có cái bị nhận biết phân biệt. Không có sự hiểu biết không sáng rõ, cũng không có sự hiểu biết sáng rõ. Không có sự già chết cũng không có sự không già chết. Không có sự khổ, không có nguyên nhân gây ra sự khổ, không có dứt trừ sự khổ, cũng không có dứt khổ. Không có sự hiểu biết trí tuệ, cũng không có pháp để đắc.
Vì bởi rõ biết có tức là không, không tức là có. Khi người học Phật sống được với cái biết đó thì sẽ rõ biết vạn pháp - Mọi sự vật, hiện tượng đều không phải tồn tại ở dạng có hay không? Tất cả chỉ do duyên, đủ duyên thời nhận thấy rằng có nhưng khi duyên biến diệt không còn nữa thời nhận thấy là không. Thế nên người học Phật sẽ nhận biết vạn vật sẽ không có sinh diệt, không có dơ sạch, không có tăng giảm. Sở dĩ có sự sinh diệt, dơ sạch, tăng giảm là do tâm phân biệt của con người, do con người quan sát, đánh giá ở góc nhìn hạn hẹp chứ không đặt sự vật hiện tượng ở góc nhìn tổng thể khách quan. Cụ thể, khi ta nhìn một đống phân bò bên một gốc cây mận, ta sẽ thấy sự nhòm gớm, dơ bẩn. Sau một thời gian ta không thấy đống phân bò nữa và cây mận trước kia chưa có trái, bây giờ đã có nhiều trái chín mọng. Ta hái vài trái mận cho vào miệng ăn và nhận định cây mận có trái ngon ngọt, thanh mát. Vì không nhìn ở góc nhìn tổng thể nên ta vội quên cây mận tốt tươi, nhiều trái là do chuyển hóa đống phân bò gớm bẩn thành quả ngọt. Mọi vật trong cuộc sống cũng đều như vậy chúng không thể tự có mà nương nhờ các duyên, đủ duyên thì mới có thể sinh ra. Điều này đồng nghĩa với việc vạn pháp sẽ không có gì cả. Không hình tướng, cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị giác,… Không có sự hiểu biết trí tuệ, cũng không có pháp để đắc.
Nhiều người tham cứu, học hỏi Phật đến đây thì mê mờ lý sự. Vạn pháp đều là không thì có gì để tu học, không có pháp để đắc thì tu hành mà làm chi. Những người theo ngoại đạo chỉ trích Phật giáo chấp không cũng ở lý này. Vì không nhìn nhận, đánh giá ở góc nhìn tổng thể, khách quan nên chúng sinh 3 cõi 6 đường mê mờ, lầm lạc. Qua đoạn kinh văn này, bạn thấy vạn pháp là không nhưng ai là người nhận thấy vạn pháp là không? Đó là người tu học đạt quả vị Bồ tát. Vậy ra không phải vạn pháp hoàn toàn không mà còn có một vị Bồ tát tự tại. Bồ tát là ai? Bồ tát là người tự cứu mình thoát khổ và độ người thoát khổ. Vì lẽ con người tự nhận mình có thân, tham đắm thân sinh ra khổ. Hiểu lý lẽ đó vị Bồ tát đã hành thâm bát nhã ba la mật quán chiếu nhận rõ thân không thật, các pháp không thật để không còn dính mắc, nhằm xa lìa sự khổ. Cái mà vị Bồ tát cầu đắc chính là cái không có gì để đắc, là không có người để đắc - Vô sở đắc.
Khi đạt cái pháp không có gì để đạt, vị Bồ tát đã y tựa vào bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ hành trì miên mật, và đạt được tâm không lo lắng, tâm không sợ sệt, tâm không kinh hoảng, từ đó xa rời sự mộng tưởng điên đảo về Niết bàn - cõi thường lạc ngã tịnh. Ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều y tựa vào bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí huệ hành trì miên mật mà chứng ngộ được quả vị chánh đẳng, chánh giác.
Khi đạt được pháp không có gì đạt được, vị Bồ tát tiếp tục hành trì miên mật sáu phép ba la mật cho đến khi tâm không còn xao động, sợ sệt, lo lắng thì đạt được chánh định, đạt được chánh định rồi thì vị Bồ tát không còn động loạn, mong cầu về cõi Niết bàn thường lạc ngã tịnh nữa. Phật còn khẳng định “Cũng bằng việc hành trì liên tục, tùy thuận, không rời bỏ sáu pháp ba la mật mà chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, đắc quả vị Phật”.
Vì vậy người học Phật phải rõ biết hành trì sáu pháp ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tùy thuận mọi lúc, mọi nơi thì đó chính là câu thần chú lớn nhất, là câu thần chú sáng rõ nhất, là câu thần chú cao tột nhất, là câu thần chú không có câu thần chú nào có thể so bì. Câu thần chú này sẽ có công năng diệt trừ hết mọi sự khổ nạn, tai ách. Đây là lời nói chân thật không có hư dối.
Ý từ của đoạn kinh văn rất rõ ràng, người học Phật phải tùy thuận, siêng năng hành trì sáu phép ba la mật thì sẽ đạt được sự tỏ ngộ và nhận ra đây là câu thần chú cao tột có công năng độ thoát con người ra khỏi mọi cảnh khổ. Người học Phật sẽ tự biết lời nói đó không chút hư vọng, là lời nói đúng thật.
Có thể trình bày Bát nhã ba la mật đa tâm kinh theo một cách khác, cách nói như sau:
Giải thoát giải thoát, giác ngộ giải thoát, giác ngộ sẽ được giải thoát. Đó là tự tánh bồ đề thường tại trong mỗi chúng sinh.
Cuối cùng, Phật lại thuyết có một cách đơn giản, ngắn gọn  hơn để người học Phật trì bộ kinh chứa trí tuệ bát nhã ba la mật đa. Đó là:
Người học Phật sẽ tự giải thoát bằng sự hiểu biết cùng tột về sự giải thoát hoàn toàn - Sự hiểu biết về không có cái tôi thường tại trong mỗi chúng sinh, khi sống được với sự hiểu biết giải thoát thì sẽ được giải thoát hoàn toàn. Và đó chính là tự tánh bồ đề trong mỗi chúng sinh không bao giờ dứt mất.
Có lẽ phần trình bày về Bát Nhã Tâm Kinh Mộc Giải chỉ được những người tu học quan tâm nhưng thôi bạn hãy kiên nhẫn xem hết vì lẽ việc đọc một đoạn sách sẽ không hại gì. Tôi sẽ tóm gọn toàn bộ quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” qua hàm ý ẩn chứa trong câu chú “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế. Bồ đề tát bà ha”.
Trong Tam tạng kinh, Phật cũng chỉ trình bày một vấn đề duy nhất, đó chính là con đường của sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn mà bất kỳ chúng sinh nào có hiểu biết, biết dừng lại, nhìn nhận và hành trì tùy thuận đều có thể đạt được.
Trong câu chú trên cũng không ngoài mục đích khuyên người tìm về nẻo sáng giác ngộ giải thoát.
Phật thuyết “Người học Phật hãy tự giải thoát bằng sự hiểu biết giải thoát”. Đó cũng là Phật tánh thường còn của mọi chúng sinh.
Nếu bạn hỏi:
- Tại sao phải tự giải thoát? Tôi có bị nhốt đâu? Ai nhốt tôi?
Tôi sẽ trả lời:
- Bạn đã tự nhốt bạn. Bạn nhốt mình trong xác thân giả tạm, luôn luôn tàn hoại. Bạn nhốt mình trong cái tôi điên đảo trôi lăn trong 6 đường.
Vì lẽ gì tôi biết điều đó?
Vì tôi bắt gặp bạn trong những lo toan, phiền muộn, khổ đau. Bạn tham đắm, u mê với tranh giành được mất. Bạn bước qua cuộc đời mình vội vã. Và ở tuổi xế chiều, bạn hụt hẫng, hoang mang. Bạn chỉ là nô lệ của cái xác thân vay mượn. Bạn chỉ thực sự là ông chủ khi hòa cái tôi nhỏ bé vào cái vô ngã viên dung của vũ trụ, của nhân loại. Ngay khi đó, bạn sẽ tự nhận biết những điều tôi nói là những lời chân thật. Bạn sẽ không còn khổ đau, không tham đắm, hoài nghi, si mê,… bạn chỉ giữ lại niềm an lạc, tự tại và sự giải thoát hoàn toàn khỏi thân tâm.
Để làm một ông chủ trong cuộc đời, bạn hãy tùy thuận hành trì sáu phép ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Việc làm thiết thực này sẽ giúp bạn sớm nhận ra con đường của sự hiểu biết giải thoát là thật có và khi đó đạo - đời chỉ là một mà thôi.

Bạn cũng không phải tìm sáu phép ba la mật ở đâu xa. Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ là sẵn có trong con người bạn. Bạn chỉ việc lấy chúng ra và tùy thuận sử dụng.

Bài ca Tỉnh Mộng Vô Thường (25 - 11 - 2012)














Ngày này năm ấy, ta hồn nhiên làm gió bên trời
Phiêu du tháng ngày, lời gió hát ru êm
Ngày này năm ấy, ta lặng im làm cát trên đồi
Mặc dấu chân người cày nát cát hoang sơ
Ngày này năm ấy, ta bình yên làm nắng hanh vàng
Sưởi ấm đường trần, tình nắng cứ mênh mang
Ngày này năm ấy, ta rong chơi làm sóng xô bờ
Xóa dấu chân người rồi sóng lại xa khơi
Tháng năm trôi, ta thong dong bên đời mãi mãi
Không muộn phiền, không giận dỗi yêu đương
Đến một hôm, sóng dại khờ lên bãi
Chiều hạ vàng, ta quên lối ra khơi
Dấu chân ai giữ lại tình con sóng
Ta vụng về yêu, rời biển tự bao giờ?
Gom góp nhớ thương, đong đầy tình khôn lớn
Nuôi hình hài từ cát, nắng, gió, sóng khơi,…

Đến một hôm, ta trở thành người yêu biển
Yêu vết chân trần, người bỏ lại chiều đông
Tình yêu đó vụng về và nông nổi…
Ta hồn nhiên đánh mất nét vô ưu
Rồi từ đó, biển nhấp nhô từng con sóng
Muộn phiền dâng phủ kín kiếp đọa đày
Tháng năm ơi! Ta lần hồi xuôi ngược
Đi mãi ngàn năm, tìm lại nét vô ưu

Đến một hôm, ta thẩn thờ bên biển
Nhặt lá rơi, lòng buồn bã đến vô cùng
Ta nông nổi trầm mình nơi biển vắng
Hồn đê mê nghe câu hát của người say
Lá thu rơi hay vô thường trôi mãi,…
Yêu thương xưa, đau khổ, mộng cuồng si,…
Tỉnh giấc chiêm bao, ta mỉm cười khe khẽ
Nghe gió đông về, ta trả lại đời cả mùa xuân
Thế nhân ơi! Ta trở về vô thủy

Là cát vàng, là nắng gió, sóng khơi,…

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Khủng hoảng nợ công Châu Âu biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết


Chủ nghĩa thực dụng kiểu mẫu Phương Tây.
Liên bang Xô Viết tan rã, nhân loại đã nhận định không thực sự đúng về nguyên nhân của sự tan rã.
Sự tan rã đó không xuất phát từ bên ngoài mà nguyên nhân chính xuất phát từ nội tại của Liên Bang Xô Viết. Sự phát triển cực thịnh, mất cân đối, không bền vững và tư dục của lòng người là nguyên nhân của sự đổ vỡ.
Liên Xô đã định hướng xây dựng đất nước theo đường lối chủ nghĩa cộng sản. Tài sản, của cải được quốc hữu hóa. Người lao động làm việc trong các hợp tác xã, các xí nghiệp, công ty quốc doanh. Phát triển nền kinh tế quốc dân.
Ngay trong những thời điểm khó khăn nhất người dân và giới lãnh đạo Liên Xô có cùng chung tiếng nói, rất đoàn kết để vượt qua khó khăn.
Sau khi vượt qua giai đoạn khó khăn, kinh tế phát triển giàu mạnh, chính trị ổn định, người dân có đời sống no đủ thì lòng tư dục của con người trong các thành phần kinh tế, chính trị, người lao động tăng lên dẫn đến những chia rẽ, toan tính.
Điều này xảy ra cũng là lẽ thường tình - Con người thường thì nghèo khó, hoạn nạn có nhau nhưng đến khi sang giàu thì dễ thay đổi, trở mặt. Thế nên mới có câu “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”.
Ngay khi giới lãnh đạo Liên Xô muốn chuyển thời kì quá độ chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản thì nội tại các thành phần kinh tế, chính trị, người lao động có những phân tranh sau:
- Thành phần lao động làm trong các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã của Nhà nước nhận ra dù mình làm việc tích cực hay tiêu cực thì lượng vật chất mình nhận được cũng không tăng thêm vậy nên không cần cống hiến sức lao động, thong thả mà làm.
- Các thành phần kinh tế cũng như giới chính trị nhận thấy mình không nhận đúng với đồng lương tương ứng công sức mình bỏ ra. Lợi dụng sự vô tư của người lao động họ gom góp lượng tài sản, của cải vào túi riêng dẫn đến thâm hụt ngân sách Nhà nước, làm ngành kinh tế chựng lại rồi tụt dốc vì thiếu hụt nguồn vốn tái đầu tư.
Nhà nước phải gánh vác cả một lượng lớn thành phần lao động biếng lười. Một lực lượng nhà quản lý không tâm huyết, chỉ biết lo cho bản thân thì việc tan rã một Liên Bang Xô Viết hùng mạnh, cường thịnh chỉ là vấn đề thời gian - Sớm hay muộn?
Trong vấn đề phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội,… Nhân loại thường quên một vấn đề mấu chốt đảm bảo cho sự tồn tại, ổn định của mọi việc lại chính là yếu tố con người.
Vậy nên chăng nhân loại cần nhìn nhận mọi vấn đề ở góc nhìn tương đối và đặt vấn đề con người lại làm trung tâm của việc phát triển mọi vấn đề kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo, văn hóa,…?
Tại sao tôi đặt vấn đề khủng hoảng nợ công Châu Âu là biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết?
 Thật vậy điểm khác biệt chỉ là các nước Châu Âu theo thể chế chủ nghĩa tư bản.
Châu Âu sau thời gian phát triển đạt đến mức cực thịnh thì chựng lại rồi ổn định. Nhưng sự ổn định này nhanh chóng bị phá vỡ do tư dục của con người.
Lòng tham của con người thiếu hiểu biết, biết đến bao giờ là đủ?
Giới chính trị, lãnh đạo vì lợi ích thành phần chính trị đã đưa ra những chính sách có lợi cho giới chính trị về lương thưởng.
Nhằm đảm bảo ngân sách quốc gia giới chính trị tạo điều kiện phát triển kinh tế nhưng người lao động đã không mặn mà với việc lao vào sản xuất. Họ cảm thấy việc lao động cần phải có chuẩn mực, cần có mức lương hợp lý để chi tiêu và thư giản.
Thành phần kinh tế chán ngán với lực lượng lao động mà theo họ đánh giá là làm ít mà muốn hưởng nhiều. Giới kinh tế cũng không muốn phải đóng thuế nhà nước - Giới chính trị với những số tiền khổng lồ mà theo giới kinh tế tư bản nhận định là bọn “ăn không, ngồi rồi”.
Thế là giới kinh tế thành lập ra các công ty đa quốc gia, để mang vốn sang những nước nghèo đầu tư nhằm đảm bảo lợi nhuận kinh tế, hạn chế việc nộp ngân sách nhà nước.
Kết quả người dân thất nghiệp, ngân sách nhà nước suy giảm. Giới chính trị phải vay vốn nước ngoài nhằm tái đầu tư kinh tế, công nghiệp,…
Nhưng việc phải chi lương công nhân viên chức, các thành phần trong bộ máy chính quyền, các khoản trợ cấp hưu trí, thất nghiệp,… lãi suất tiền vay đã khiến ngành kinh tế các nước Châu Âu càng thêm rệu rã.
Chủ nghĩa thực dụng Phương Tây thể hiện rõ ở các nước đang lâm vào tình trạng nợ công và cả ở cộng đồng các quốc gia cứu trợ.
Cụ thể là các thành phần kinh tế, chính trị, xã hội, người dân vẫn đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo quyền lợi cho họ. Nếu thỏa mãn được quyền lợi của họ thì đảng phái lãnh đạo đó tồn tại. Nếu không người dân sẽ bầu lại người lãnh đạo mới. Bởi lẽ người dân không thể chấp nhận việc chi tiêu quá mức của giới chính trị. Việc phân chia quyền lợi kinh tế không hợp lý giữa các thành phần xã hội khác nhau.
Giới kinh tế thì không quan tâm đến việc thâm hụt ngân sách nhà nước vì họ đã là những tập đoàn đa quốc gia. Giới kinh tế hoàn toàn có khả năng giúp đất nước họ vượt qua khủng hoảng nhưng vấn đề đặt ra là “Họ sẽ được gì?”.
Các quan chức chính phủ thì lại không thể chấp nhận chính sách “Thắt lưng buộc bụng” bởi vì “Ăn quen, nhịn không quen”.
Thêm vào đó các gói viện trợ, giải cứu nền kinh tế các nước rơi vào khủng hoảng của cộng đồng các quốc gia cứu trợ cũng đòi hỏi “Họ sẽ được gì?”.
Đó là những nguyên nhân góp phần tạo ra hiện tượng khủng hoảng nợ công ở Châu Âu.
Tiếp theo quốc gia nào sẽ đi vào “Vết xe đổ” của các nước trong khối EU?
Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, phải chăng đây là biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết và chủ nghĩa thực dụng đã và đang bóp chết các nền kinh tế phát triển đạt mức bảo hòa và tụt dốc?


Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Lật Tẩy Quân Bài Chủ

Ngày Không Bình Yên

Hôm nay là một ngày không bình yên. Hơn 12 giờ đêm qua tôi nhận được một cuộc điện thoại của người quen nhờ chuyển lời “Bà cụ đang ở phòng cấp cứu, sức khỏe rất kém”. Và tôi đã vì người mà chuyển lời. Ừ thì năm tháng dần trôi, vô thường đi mãi.
Có lẽ đêm nay cụ bà 80 tuổi sẽ dừng hơi thở, dừng nghỉ cả một đời bương bả, lo toan. Bà cụ nghĩ rằng mình sẽ về với Mẹ - Phật Mẫu. Âu cũng là một chữ duyên.
Mới cách đây 4, 5 hôm tôi đã ngủ cùng với cụ bà. Hai cảnh đời xa lạ, con bà cụ một cảnh 2 quê, tôi chỉ là người khách vô tình nghỉ lại qua đêm, tôi là khất sĩ với mái tóc xanh trên dặm đường lưu lạc. Vậy mà khi cụ bà trở bệnh giữa đêm, tôi lại mời bà vào ngủ cùng giường để tiện bề chăm nom, một đêm không ngủ.
Bà vẫn còn sáng suốt để nhận ra “Giờ tui khùng hết sức, chuyện mới nói đã đã quên, uống thuốc ăn cơm rồi mà lại chẳng nhớ, hông biết gì hết, ai nói gì thì nói, tui hổng biết gì hết,…”. Và có những giận dỗi của trẻ con. Một vòng quay lẩn quẩn của kiếp người.
Bà cụ đã ăn chay 20 năm rồi, là người không nhiều hiểu biết. Ông bà của bà cụ theo đạo Cao Đài còn bà cụ thì nghe kinh Phật nhưng lại thờ Phật Mẫu. Bà tin rằng chết sẽ về với mẹ Phật. Ừ thì về với mẹ Phật rồi đến lúc nào đó lại về lại luân hồi.
Lẽ ra người tu theo Cao Đài là ôm mộng tu tiên nhưng vì không nhiều hiểu biết nên bà cụ nghĩ rằng chết mình sẽ về với mẹ Phật.
Cao Đài giáo là tôn giáo hòa trộn nhiều tôn giáo khác nhau Phật, Thánh, Chúa, Thượng đế,… xếp thành hàng, thành lớp. Hương khói mịt mờ, lễ nghi giăng lối, giáo lý họa thành thơ, chỉ giỏi dạy người tự thân không chịu hành đúng mực.
Cao Đài giáo ảnh hưởng theo phép tu tiên của đạo Lão, dẫu thành tựu hình thần du nhập tiên giới cũng chỉ là một dạng chúng sinh chìm trôi trong 6 nẻo.
Viết về vấn đề này những người tin sâu khoa học, duy vật biện chứng lại bảo tôi nói lời hoang đường, huyễn hoặc nhưng biết làm sao khi tôi vẫn nói lời thật.
Dù biết cụ bà đã đi vào đường rẽ nhưng tôi không thể mở lối về chánh pháp vì kiến chấp của người ăn chay trường hơn 20 năm và cho rằng đó là công phu thù thắng thì có nói cũng tạo xung đột, chống trái.
Đành thôi! Xem ra với cụ bà tôi thật kém duyên.
Ừ thì khoa học tiến bộ sinh cũng có giờ sinh, chết cũng có giờ để chết. Không thể tự nhiên chết được. Chọn giờ chết cho bà cụ nhắm mắt để con cháu được nhờ.
Ôi! Đoạn trường thay một kiếp nhân sinh huyễn mộng, đau khổ dật dờ đến phút nhằm mắt xuôi tay. Dẫu sao tôi rõ biết bà sẽ về nơi bà mong đến. Thôi lời giã biệt cháu xin gửi đến bà!
Dường như tôi đã trình bày lạc đề. Không hẳn vậy, tôi có dụng tâm trên bước đường lạc lối.
Chết có hết hay lẩn quẩn luân hồi trong 3 cõi 6 đường?
Bạn cứ hoài nghi những điều tôi trình bày để tự tìm cho mình câu trả lời đúng đắn, điều này sẽ giúp bạn sáng rõ con đường mình đi trong kiếp người xuôi ngược.
Con nước ròng rồi con nước lớn. Đó là điều mà mỗi người cần sáng rõ trong vòng sinh tử luân hồi.
Các nhà lãnh đạo, nhà quản lý,… vì bị trói vào chủ nghĩa duy vật nên buộc theo trường phái vô thần đẩy xã hội chìm sâu vào lòng tham không đáy con người, “Chết là hết” sẽ biến xã hội loài người hôi tanh với hận thù, đau khô và mưa máu trả vay.
Dù vậy các mệnh phụ phu nhân lại tin nhận Trời Phật, thần linh, cầu an, giải hạn,…
Ôi! Trò đùa của thói đời! Nhưng tự tánh nếu mê phước làm sao cứu được.
Tham lam, cuồng vọng, si mê, ăn trên ngồi trước thọ hưởng giàu sang mặc dân đen ngụp lặn trong nỗi lo miếng cơm manh áo. Khi mọi việc vượt mức chính sẽ trở thành tà, ăn trên ngồi trước mà không nuôi đạo, giữ đức rồi sẽ có ngày máu nhuộm thây phơi như nguyên thủ Gadafi, hoặc bị người đời nguyền rủa, con cháu bị xua đuổi, ruồng bỏ.
Nếu khôn khéo một chút thì trước cuộc chính biến sớm mang gia đình, dòng tộc làm cuộc bôn đào, lưu vong ra nước ngoài sống hưởng thụ nhưng dù hưởng thụ thì cũng chỉ là kẻ sống lưu vong bại hoại so với Lê Chiêu thống, Trần Ích Tắc,… nào có khác gì?
Rồi lại chuyển kiếp người (Nếu may mắn) ngay chính trong dòng tộc gánh nhận phần con nước ròng do nhân tiền kiếp đã gieo. Nếu tôi không rõ biết thì hẳn không “lao tâm, nhọc lòng” biện giải.
Dẫu biết là con nước ròng, con nước lớn nhưng tôi không khỏi đắng lòng nhìn con người ngụp lặn trong bi thương, khổ não. Nếu phải chết vì những lời nói trái tai thì cũng không phải thẹn lòng vì sống ích kỷ nhỏ nhen vậy.

Nếu có thể chết cho người thật sống
Ta tiếc gì một giấc mộng phù hoa.

Hôm nay, giải quyết cho xong vấn đề diệt giặc ngoài rồi tiếp theo sẽ tính đến việc thù trong. Nếu mọi người nhận thấy những điều tôi viết có chút ít giá trị thì truyền trao, nhân rộng cho mọi người cùng biết, xã hội sẽ sớm có sự đổi thay và giới lãnh đạo trong nước, ngoài nước cũng như giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ rùng mình kinh sợ khi nhận biết việc làm bất nhân, bất nghĩa, vô đạo, trái đức mà họ đang làm người người đều biết.
Sự phẫn nộ của nhân loại và người dân đã không còn tin nhận sự lãnh đạo của họ. Xuống thang tranh chấp biển Đông, tuân thủ công ước quốc tế luật biển năm 1982  là việc giới lãnh đạo Trung Quốc cần làm nếu muốn người dân Trung Quốc và nhân loại còn giữ họ lại nơi cái ghế quyền lực đương thời.
Tin rằng giới lãnh đạo Trung Quốc chẳng dám vọng động khi biết rằng những việc làm sai trái trên biển Đông cả nhân loại đều rõ biết và Ván Cờ Biển Đông đã Lật Ngửa Các Quân Bài. Chỉ với việc làm này thì biển Đông mới thôi không còn dậy sóng.
Còn việc ngang ngược, ngông cuồng xâm lấn Việt Nam ở giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ dừng lại vì thiên hạ đã theo về Việt Nam và tôi không nghĩ rằng giới lãnh đạo Trung Quốc đã mất hết lòng tự trọng, vô sỉ đến vậy.
Tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về những vấn đề đã trình bày, cả việc Trung Quốc dám xâm lấn Việt Nam với lý do tôi chạm đến lòng kiêu hãnh của giới lãnh đạo Trung Quốc.
Tôi cũng mong rằng những bài viết của tôi sẽ sớm đến tay thành phần lãnh đạo Việt Nam bởi lẽ một khi tôi ra đao thì sẽ có không ít người bị “xử trảm”, tôi muốn giữ lại cho nhau “còn chút gì sĩ diện”.
Tôi rõ biết một điều “Ta không giết bá nhân, bá nhân vì ta mà chết”. Dù vậy tôi vẫn làm việc theo nguyên tắc hợp pháp, hợp với lòng người. Nếu cho rằng quái đao của tôi quá cương mãnh, bá đạo thì hãy liên lạc với tôi tạm “đình chiến” rồi từng bước sửa sai. Tôi sẽ “đao hạ lưu nhân”, “Buông hạ đồ đao”.
Có lẽ 2, 3 ngày đến tôi sẽ post phần nội dung khác chờ đợi cách hành xử của giới lãnh đạo.
Nếu sau 3 ngày tôi vẫn không nhận được bất kỳ liên lạc nào từ giới lãnh đạo đến số máy 0982353038 thì tôi sẽ ra sát chiêu thể hiện lập trường Cầm tặc cầm vương.
Bây giờ tôi xin quay lại vấn đề chính của ngày hôm nay.
Lật Tẩy Quân Bài Chủ
Quân Bài Chủ là nhân loại, là người dân cũng như các thành phần xã hội khác ngoài thành phần chính trị. Vì là Quân Bài Chủ nên sức mạnh của quân bài này là vô đối, thật không có đối thủ xứng tầm.
Đáng tiếc đây lại là quân bài ô hợp gồm rất nhiều thành phần khác nhau nông dân, công nhân, doanh nghiệp, trí thức, giảng viên, bác sĩ, kỹ sư,... gồm nhiều quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo khác nhau.
Về sự hiểu biết, trình độ của thành phần các quân bài là không đồng. Do vậy cách hành xử của các thành phần quân bài này cũng khác nhau.
Dù rằng giữa các thành phần này luôn tồn tại mối liên kết không thể tách rời nhưng vì tâm phân biệt, đố kỵ hoài nghi nên liên kết lỏng lẻo, không có tiếng nói chung thế nên sức mạnh của quân bài này trở nên suy giảm nghiêm trọng.
Dưới sức ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng ích kỷ của bối cảnh xã hội hiện tại, các thành phần quân bài này tự trói vào tư duy “sống chết mặc bây, đừng chạm đến ta là được”, nước sông không phạm nước giếng thì mong rằng nước giếng chẳng động đến nước sông,... mỗi thành phần từ tách ra khỏi khối đồng nhất của Quân Bài Chủ, tự thủ bàng quang.
Vì sự tự ti, bạc nhược, chỉ biết sống cho riêng mình ở các thành phần quân bài nên Quân Bài Chủ bỗng chốc trở thành Quân Bài Tự Ti.
Sự sai lầm mang tính truyền thống của các thành phần xã hội ở khối đồng nhất nhân loại là đã từ lâu các thành phần này đã thoái thác trách nhiệm cùng với thành phần chính trị vạch ra những phương hướng, giải pháp phát triển, xây dựng hoàn thiện xã hội con người.
Vì sự lơi là đó mà các thành phần xã hội khác thành phần chính trị đã mất hẳn tiếng nói trên chính trường bỏ mặc chính trường và việc quản lý cho thành phần chính trị.
Điều đáng tiếc là khi thành phần chính trị phạm sai lầm thì các thành phần xã hội lãnh đủ vì lẽ “môi hở thì răng lạnh”. Quả thật, nếu tranh chấp biển Đông leo thang thành chiến tranh thì ai sẽ ra chiến trường cầm súng chiến đấu để rồi đến chết sẽ được ghi công.
Rõ thật là các thành phần khác ngoài thành phần chính trị sẽ được tổng động viên vào quân đội ra chiến trường để tranh giành một “món đồ” dường như không thuộc về họ.
Tin rằng phần lớn thây chết trên chiến trường cũng như do nơi tên bay, đạn lạc là người dân thường và các thành phần xã hội khác thành phần chính trị.
Nếu chiến loạn xảy ra thì tôi tin rằng “Thật khó có thể tìm được xác của thành phần chính khách thuộc giới lãnh đạo bất nhân, bất nghĩa Trung Quốc.
Còn tìm xác nguyên thủ quốc gia họ trên biển Đông. Thôi bạn đừng có mơ!
Tại sao mạng sống của họ cao quý đến vậy mà mạng sống của các thành phần khác lại nhỏ nhoi, hèn hạ?
Họ tham lam, ngông cuồng làm kẻ cướp đất, cướp biển sao lại đẩy người dân và những thành phần xã hội khác chết thay, còn họ ngồi không hưởng lợi”?
Nếu vậy chỉ có người dân các nước rơi vào cuộc tranh chấp mới là thành phần của Quân Bài Chủ.
Nhân loại hay nói cách khác là người dân các nước ngoài cuộc tranh chấp sẽ đứng ngoài cuộc chơi.
Không hẳn vậy. Chiến loạn đã có chiến tranh tất có loạn lạc Thế chiến I, II cũng chỉ khởi nguồn ở một vài nước và lan rộng ra phạm vi thế giới.
Tranh chấp biển Đông nếu xảy ra sẽ kéo theo nào những Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Mỹ, Đài Loan, Việt Nam, Philipin, Inđnêxia, Cộng đồng quốc tế,... kéo theo một hệ lụy bản đồ ranh giới các nước sẽ bị lòng tham của giới chính trị đòi vẽ lại.
Trung Đông vẫn là một miệng núi lửa sục sôi đang chực chờ trào tung dung nham nóng chảy với đầy xác thân người, máu và nước mắt.
Nợ công châu Âu không thể đòi trên bàn đàm phán đành chơi theo kiểu xã hội đen. Châu Phi đói nghèo, bệnh tật và kéo theo bạo loạn,...
Có nơi nào an toàn cho những người sống ích kỷ, tự tách rời khối đồng nhất nhân loại?
Trong số thành phần của Quân Bài Chủ cũng có những Quân Bài Nói Thẳng, Nói Thật nhưng số lượng quả thật là không nhiều và thiếu liên kết. Vì thế số quân bài này thường bị quân bài thuộc giới chính trị bóp chết từ trong trứng nước.
Đây là sai lầm của quân bài thuộc giới chính trị. Tự mình kém cõi chẳng biết, lẽ ra khi được chỉ rõ điểm sai lầm phải nhận thức sửa sai chứ có đâu bưng bít, ém nhẹm, che giấu cái kém, cái dở. Chặt tay người ngay để rồi tự làm mù mắt mình. Thật đáng thương xót! Vội quên dân là gốc, dân là nước. Nước có thể đẩy thuyền nhưng nước cũng dễ dàng lật thuyền. Dẫu là thánh nhân còn có lỗi lầm, đâu thể chỉ khoác lên vai chiếc áo chính trị là có thể trở thành con người toàn thiện, toàn bích. Có câu nhiều tay vỗ nên kêu nếu không biết dựa vào sức dân thì dù cho học rộng, hiểu nhiều thì cũng chỉ là con hoang giữa chợ.
Trong số đông các thành phần khác ngoài thành phần chính trị cũng không ít người hiểu biết. Nếu biết lắng nghe hẳn giới chính trị cũng tìm ra được kế sách vẹn toàn giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông.
Điều quan trọng nhất của nhân loại ở thời điểm hiện tại là hợp nhất lại thành một khối vững chắc. Gia cố sự tự tin bằng sự hiểu biết khách quan, sáng rõ. Khôi phục sức mạnh vô đối vốn có và trở thành Quân Bài Chủ Với Đầy Đủ Thực Lực.
Quân Bài Đa Biến - Quân Bài Chết là một quân bài nhỏ trong Quân Bài Chủ. Dù vậy đây là Quân Bài Trí Tuệ, là quân bài dùng sự khách quan, sáng rõ trình bày lại mọi việc, về tương quan lực lượng, mưu tính, dã tâm,... của các thế lực tranh chấp trên biển Đông. Bằng vào việc nói thẳng, nói thật về cục diện của Ván Bài Biển Đông, sẳn sàng dùng mạng sống để hợp nhất nhân loại thành một khối đồng nhất, mong mỏi xã hội con người sống trong thương yêu chân thành, sống hài hòa bình yên.
Quả thật, nếu quyển sách Trung Hoa, Còn Mãi Một Tình Yêu được in ấn, dịch thuật truyền đến tay giới lãnh đạo Trung Quốc và rộng khắp nhân loại thì tin rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không dám có thêm hành động nào vọng động trên biển Đông. Đây là đao thứ nhất mà Vô Ưu ra tay với giới lãnh đạo Trung Quốc. Với 1 đao này thì sẽ ngay lập tức tách rời liên kết giữa giới lãnh đạo Trung Quốc và người dân Trung Hoa. Đây là liên kết vốn rất mong manh do sự độc tài bất nhân, bất nghĩa của giới lãnh đạo Trung Quốc.
Các lực lượng đối lập và người dân sẽ quay lưng không ủng hộ việc làm của giới chính trị có tâm địa xấu xa. Dù là người dân hay là bất kỳ ai trong xã hội ở bất kỳ đất nước nào cũng đều mong có cuộc sống bình yên, êm ấm. Chẳng có mấy ai ôm mộng cướp đoạt của người như giới chính trị bất nhân, bất nghĩa tham lam.
Thế nên việc cần làm là phải phân định rạch ròi giới lãnh đạo Trung Quốc hay người dân Trung Hoa. Việc làm sai trái của chính khách Trung Quốc sẽ không thể buộc người Trung Quốc kham lãnh.
Thoạt nhìn, đây có vẻ là đòn phản gián, ly gián nhưng thực ra đó chính là Thật tướng kế. Chỉ bằng một việc rộng truyền sách Trung Hoa, Còn Mãi Một Tình yêu thì Quân Bài Cuồng Tố sẽ gần như đánh mất thực lực.
Đao thứ 2 là truyền trao bộ sách Sự Hiểu Biết Làm Thay Đổi Nhận Thức, Giá Trị Con Người đến với giới lãnh đạo Trung Quốc cùng nhân loại. Dù rằng nhận liên tiếp 2 đao rất đắng lòng nhưng tin rằng người Trung Quốc sẽ phải cảm ơn Vô Ưu vạch ra con đường giúp họ an định xã hội, giải trừ các cuộc đấu tranh đòi ly khai, tự trị ở các vùng. Vì mối ân tình này tin rằng hãy còn lâu người Trung Quốc mới có ý định xâm phạm Việt Nam.
Cũng thông qua bộ sách này thì bộ mặt vênh váo, giả nhân, giả nghĩa của giới lãnh đạo ở các cường quốc nơi Quân Bài Cơ Hội sẽ phơi bày, mong rằng với sự khách quan sáng suốt về sau họ sẽ có lòng tự trọng, cân nhắc với những việc cần làm.
Với đao thứ 2 thì chiến tranh, bạo loạn trên phạm vi thế giới sẽ đẩy lùi, những kho vũ khí, vũ khí hạt nhân sẽ được tháo gỡ hoàn toàn. Điều quan trọng nhất là nhân loại đã có sự hiểu biết sáng rõ, khách quan về sự sai lầm tạo ra vũ khí hủy diệt và họ đồng lòng lên tiếng.
Thế giới tâm linh cũng được nhân loại nhìn nhận đúng mực hơn và sẽ có không ít người tìm về con đường giải thoát hoàn toàn. Nếu bộ sách được ủng hộ trao truyền đúng mực thì xã hội con người tự an định. Đây là kỳ chiêu Bất Chiến Tự Nhiên Thành.
Đao thứ 3 là đao mà Vô Ưu sẽ cân phân nặng nhẹ khi đi đến và bỏ thây nơi Tử Cấm Thành. Sự cân phân nặng nhẹ này không vì Vô Ưu mà là vì người Trung Quốc. Vô Ưu không dễ chết vô nghĩa nơi Tử Cấm Thành. Khi đó giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ bị đánh rơi khỏi vũ đài chính trị và không có gì ngạc nhiên khi đất nước Trung Hoa sẽ bị “chia 5, sẻ 7”.
Việc làm này đối với Vô Ưu mà nói là dễ như việc “úp bàn tay, ngửa bàn tay” nhưng Vô Ưu không đành lòng nhìn máu rơi, thây đổ.
Điều đáng sợ nhất là Vô Ưu là Quân Bài Chết muốn đối phó với Quân Bài Chết thì người chết còn nói là khó thể đối phó huống hồ là người sống. Đối đầu với Quân Bài Chết là cầm chắc thiệt thân. Vậy mới nói dân mà không sợ chết sẽ tạo ra mối nguy uy hiếp ngược lại nhà cầm quyền.
Đáng tiếc là kế hoạch “Mượn trời qua biển” của Vô Ưu bị một thành phần người không hiểu chuyện vô tình gây cản trở đường đến Tử Cấm Thành vào tháng 6 năm 2013.
...
Với những gì tôi đã trình bày tin rằng cũng được mọi người nhìn nhận có ít nhiều sự hiểu biết. Có lẽ tôi cũng chưa điên tới mức tự dưng hủy hoại thân mạng và tôi cũng không cho phép mình chết vô nghĩa dù cho nơi Tử Cấm Thành hay bất kỳ nơi đâu. Vô Ưu đổi mạng vì những quyển sách thì hẳn là bộ sách có điều kỳ đặc.
Thực ra Vô Ưu chẳng tham chết chỉ vì lòng người đa đoan muôn lối nên xem như lần cuối cùng là người tôi sẽ chết cho quê hương.

Cụ bà 80 tuổi mà tôi vừa đề cập vừa mất cách đây 50’. Ngày mai, tôi mới có thể đến thăm bà. Cụ bà đã ngủ một giấc bình yên, lặng lẽ.

Buổi trò chuyện với Binladen

Trong một giấc ngủ chập chờn, tôi đã gặp và trò chuyện cùng Binladen.
Tôi:
- Chào ông Binladen! Sau khi ông chết 2, 3 ngày thì tôi mới được biết. Hôm nay, tôi lại tình cờ gặp ông. Tôi có vài điều muốn hỏi, ông có đồng ý trả lời không?
Binladen:
- Được. Ông đã quan tâm thì ta tiếc gì mà không trả lời.
Tôi:
- Ông được gì sau những năm tháng vẫy vùng khiến muôn người khiếp sợ?
Binladen:
- Ông có sợ ta không?
Tôi:
- Việc gì tôi phải sợ ông.
Binladen:
- Ta biết. Ông đâu có sợ ta và cũng có rất nhiều người không từng sợ ta. Thực ra ta cũng như mọi người - Ta có những người thân yêu cha mẹ, anh em, vợ con và những người thân,… Ta có cả những người ganh ghét, thù hằn. Ta cũng biết có rất nhiều người không cần biết ta là ai. Nhưng ta lại được khoác lên mình chiếc áo trùm khủng bố, cuồng sát khét tiếng và chỉ có những người khoác cho ta chiếc áo đó mới thật sự khiếp sợ Binladen.
Tôi:
- Tại sao ông phải giết rất nhiều người? Xua cả những người bạn, người thân vào chỗ chết, không ít người dân vô tội chết do sự cuồng sát, lạm sát của ông. Ông có thú vui giết người sao?
Binladen:
- Thú vui giết người? Người dân vô tội? Nếu có thể làm một người thường dân vô tội thì ta sẽ làm một người dân như thế.
Binladen dừng lại một lúc sau mới tiếp lời:
- Ta hối tiếc! Cả cuộc đời ta đã bị lợi dụng. Ta đã vô tri ném mạng sống và cả gia đình của ta vào trong thù hận, mất mát và khổ đau.
Tôi buộc miệng hỏi:
- Cả đời ông bị lợi dụng?
Binladen đáp:
- Không sai. Lúc ta chưa là trùm khủng bố khét tiếng thì ta đã bị người khác lợi dụng. Khi ta nổi tiếng với vai trò thủ lĩnh khủng bố, ta vẫn bị lợi dụng. Cho đến khi ta chết, người ta vẫn còn lợi dụng cái chết của ta.
Tôi:
- Ông có thể trình bày rõ hơn không?
Binladen:
- Lúc còn trẻ ta đã được đưa đi huấn luyện với mục đích phục vụ trong quân đội. Nói đúng hơn là phục vụ cho chiến tranh, giết người. Khi nhận ra, ta không muốn bị lợi dụng, bỏ trốn thì không được. Ta chống đối lại thì bị gọi là quân phiến loạn. Nhằm để đảm bảo cho sự tồn tại, ta đã phản kháng và chẳng lâu sau ta được khoác trên mình chiếc áo trùm khủng bố.
Tôi:
- Thế khi ông đã trở thành thủ lĩnh Binladen, ai có thể lợi dụng ông?
Binladen thở dài:
- Ông thật cả nghĩ. Ta buộc phải leo lên lưng hổ thì đâu thể tùy tiện bước xuống. Khi làm trùm khủng bố, quả thật có nhiều việc ta không thể là chủ. Có những việc ta làm chỉ để củng cố vị thế lãnh đạo nhằm bảo toàn mạng sống của ta và người thân. Trong cuộc sống, có ai mà không sợ chết. Con giun, cái kiến còn tham sống nữa là… Nhưng cuối cùng ta vẫn bị chết thảm. Khi ta chết rồi người khác vẫn còn lợi dụng danh tiếng và cái chết của ta.
Tôi:
- Ông đùa à?
Binladen hỏi:
- Ông nghĩ sao? Ai sẽ được hưởng lợi từ cái chết của ta? Nhân loại được gì khi ta chết? Thật nhầm lẫn! Ta chết là chủ nghĩa khủng bố bị tiêu diệt? Hay là cái chết của ta sẽ khiến cho chủ nghĩa khủng bố trở nên đa biến và khó lường. Nhiều kẻ sẽ lợi dụng cái chết của ta để củng cố vai trò lãnh đạo. Trong đó có cả giới chính khách lẫn những tên khủng bố cuồng tín cực đoan. Sẽ có nhiều thủ hạ của ta nhân danh báo thù cho thủ lĩnh Binladen mà dấy lên những cuộc tắm máu loài người. Nhân loại sẽ lại sống lo sợ trong sự mất mát, đau thương, chiến tranh và thù hận.
Cả tôi và Binladen đều im lặng.
Một lúc sau, Binladen lại lên tiếng: Thật ra ta không đáng chết. Lẽ ra phe chống khủng bố và ta nên ngồi lại thỏa hiệp, thương lượng trong hòa bình.
Tôi:
- Thỏa hiệp với tội ác?
Binladen:
- Ông đã sai rồi, ông nói xem. Phải chăng giết người là tội ác? Hay chân lý nằm trong tay kẻ mạnh? Nếu ông thừa nhận chân lý nằm trong tay kẻ mạnh thì tự ông cũng lầm lạc. Ông có thấy những con sư tử chúa, những con khỉ đầu chó thủ lãnh và rất nhiều loài mãnh thú hung tợn khác,… Chúng đã dùng sức mạnh để giành giật vị trí đầu đàn và cố giữ vị trí thống trị đó. Nhưng đến lúc già yếu thì chúng vẫn lầm lũi, trốn chạy khi chạm phải những đồng loại trẻ, khỏe và hung tợn hơn. Chân lý thực sự không nằm trong tay kẻ mạnh, ông nên hiểu rõ điều đó.
Tôi:
- Tôi thật sự bất ngờ! Những điều tôi nghe về Binladen rất khác với những gì tôi được nghe ông nói. Ông cứ như là một con người khác, ông rất sâu sắc. Có phải ông đã về hợp thể với Đấng quyền năng mà ông tôn thờ?
Binladen:
- Ông lại sai rồi. Tôi đang ở Địa ngục. Ngày tôi bị giết, Đức giáo chủ đã đến và hỏi “Con có điều gì hối tiếc?”. Tôi đã trả lời “Con sống vì đạo, chết vì đạo nên không có gì hối tiếc”. Nhưng con không can tâm, con căm hận những người đã giết chết con. Con nguyền rủa họ, con sẽ báo thù. Rồi tôi chợt nhớ ra và hỏi “Giáo chủ! Ngài đến để đưa con về với Thiên đàng, về với Thánh Ala phải không?”. Giáo chủ điềm đạm “Con không thể lên Thiên đàng. Trong lòng con tràn đầy tham dục, hận thù, con không thể về Thiên đàng làm nhiễm ô cõi nước của Thánh Ala”. Tôi đã bàng hoàng gượng hỏi “Nhưng Thánh kinh răn dạy con thánh chiến, tử vì đạo”. Giáo chủ tiếp lời “Con đã ngộ nhận kinh Thánh. Giáo lý, kinh điển răn dạy hạn chế sát sinh loài vật thì có lý nào khuyến khích tín đồ sát hại đồng loại và những người vô tội. Cõi Thiên đàng không được tạo dựng bằng máu và nước mắt của muôn loài. Khi ta nhập thế, loài người còn thiếu hiểu biết, man rợ, nhiều thú tính. Ta kêu gọi thánh chiến, tử vì đạo chỉ nhằm mục đích bảo vệ dân tộc ta trước sự tàn ác của những chủng người khác. Nhưng ngày nay mọi chuyện đã thay đổi con người đã có nhiều hiểu biết, biết sống yêu thương. Chỉ có một số người hiếu chiến, khát máu mới gieo rắc chiến tranh và thù hận. Con lầm lạc, ngộ nhận kinh Thánh, tin lời những kẻ cuồng tín, hiếu sát thì Thánh Ala không thể tiếp dẫn con. Con phải xuống Địa ngục gột rửa lỗi lầm, dứt trừ tham dục, hận thù thì cổng Thiên đàng sẽ rộng mở đón con”.
Tôi nhận ra Binladen đã thay đổi cách xưng danh.
Binladen lại nói:
- Thế đấy! Tôi lầm lạc cả đời, đến lúc nhận rõ mọi việc thì đã muộn. Nếu tôi có thể chọn lựa thì tôi chỉ mong có thể làm một người dân bình thường vô tội. Còn bây giờ tôi phải gột rửa những tối tăm, hận thù và những tội lỗi tôi đã gây ra.


Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Vô thường


Gọi em
Anh gọi
Vô thường
Em là trăng
Bao lần tròn khuyết
Em là sông
Mấy bận đầy vơi
Là thời gian
Cho phai phôi màu tóc
Là tử sinh
Cho anh hoài mệt nhọc
Phút u mê
Lỡ lầm
Anh khẽ gọi
Là ngàn năm
Anh cam chịu đọa đày.

Điều Kì Diệu Ở Mặt Trái Của Cuộc Sống

Hãy Mơ Một Giấc Mơ Đẹp


Chủ nghĩa thực dụng đang xây dựng cho nhân loại một nhận thức đi tìm cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Bạn cứ ngỡ những cái hay, cái đẹp là rất nhiều nhưng cuộc sống không phải vậy. Ẩn chứa bên trong sự hào nhoáng, vinh quang, bóng bẩy,… là những xấu xa, khốn cùng, tranh đua nghiệt ngã,… Bạn có thể đánh mất chính bạn trước tham vọng danh lợi, bạc tiền. Khi đó nhân cách, phẩm giá của con người bạn sẽ thả trôi theo dòng nước chảy, bạn được gì? Danh phận hão huyền, tiền của như mây. Bạn mất gì? Mất đi sự tôn quý của bản thân, người thân rời bỏ. Xung quanh bạn là những toan tính, lọc lừa, tư lợi cá nhân. Quần áo tinh tươm, trang sức lộng lẫy, sự quyến rủ của hương nước hoa,… không che dấu sự băng hoại tâm hồn, những vết bẩn dơ tinh thần không thể gột rửa. Bạn hụt hẫng, gục ngã và cuồng loạn trong sự phồn vinh giả tạm. Tuy nhiên, cuộc sống vẫn có mùa xuân hoa nở, tiếng mẹ hát ru con, những đêm trăng thanh gió mát, tiếng gà gáy trưa,… những điều đó làm cho cuộc sống rộn niềm vui và hạnh phúc.
Những cái đẹp, cái hay khi bạn cố tìm thì sẽ mất. Bạn nên đi tìm những cái hư, cái xấu để chúng mất dần đi. Bạn hãy đi tìm mặt trái của cuộc sống bạn sẽ nhận ra điều kỳ diệu. Khi đó, bạn sẽ nhận ra những cảnh đời bất hạnh những người mù lòa, tật nguyền lân la xin từng cái bánh, miếng ăn. Những thân hình kỳ dị, đầu to, tay chân teo tóp. Những người già lưng còm rao bán những tờ vé số rủi may. Bạn còn nhận thấy nước mắt người mẹ chảy dài khi người con nghiện ma túy, nỗi đau của người cha cũng thầm dậy trong lòng,… Khi cầm lấy chén cơm bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều những mảnh đời đói lạnh,... bạn sẽ quý hạt cơm hơn vì bạn biết rằng bạn còn có cơm ăn. Bạn thương quý gia đình hơn và hiếu thuận quay về. Bạn cứ tiếp tục đi tìm ở những nơi tận cùng cuộc sống, sự sống vẫn tồn tại dù rằng rất khổ đau. Những người bạn nhiễm HIV đang chờ tử thần réo gọi, họ vẫn kiên tâm, gắng gượng nở nụ cười kìm nén nỗi đau, họ vẫn sống, vẫn làm việc. Những trại trẻ mồ côi, những khu nuôi dưỡng người điên loạn, những nạn nhân chất độc màu da cam dường như hôm nay rộn ràng hơn ngày hôm trước bởi lẽ đã có những tấm lòng vàng đang nhen nhóm những niềm vui. Bạn sẽ thấy cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn vì bạn học được sự hiểu biết để thương yêu. Bạn cứ hãy đi tìm những trái ngang của cuộc sống cho đến khi bạn vỡ oà cảm xúc cuộc sống thật ngập tràn sự tươi đẹp lẫn niềm vui.
Bạn nghĩ sao? Hơn 60 năm một cuộc đời? Đời người dài rộng hay dường như ngắn ngủi? Phải chăng cuộc đời chỉ như là một giấc mơ thoáng qua? Nếu bạn nhận ra đời chỉ dường như là một giấc mơ. Bạn hãy mơ một giấc mơ đẹp và giữ lấy điều mầu nhiệm đó. Cuộc đời bạn sẽ đẹp tươi khi bạn biết giữ gìn.