Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Đạo, đời và tôn giáo - Điểm kết thúc từ nơi khởi đầu P.3)

Ở phần II, ngoài việc trình bày những vấn đề liên quan đến Phật giáo và các tôn giáo thuộc về Thần giáo, tôi sẽ trình bày thêm Lão giáo - Là tôn giáo đã đóng góp nhiều tri thức giá trị cho sự hiểu biết của nhân loại. Tuy nhiên, do tư tưởng bất tranh của đạo và sự hiểu biết hạn chế của người đời sau nên nguồn tri thức quý giá trên bị quên lãng, đánh mất giá trị thực tiễn.

Tôn giáo cũng gồm phần vật chất hữu hình và phần tâm linh vô hình.
Khác biệt của đạo và tôn giáo là đạo mang tính tự nhiên, tôn giáo lại chịu nhiều sự chi phối của con người nên có phần chủ quan, áp đặt.
Tuy nhiên, thật không dễ phân định tôn giáo và đạo. Do tôn giáo là sự chuyển thể của đạo khi sự hiểu biết và tâm phân biệt của con người nâng lên.
Thực ra hiểu biết con người không dừng lại ở nhận định con người và vạn vật do trời tạo ra. Họ đưa ra thêm nhiều giả thuyết về nguồn gốc của sự sống là nước, không khí, lửa,… Từ những giả thuyết đó con người đã tạo ra nhiều tôn giáo thờ những Đấng quyền năng khác nhau Thượng Đế, Thánh Ala, Đức Chúa Trời, Thần Lửa, Thần Nước,… 
Quay thời gian ngược lại hàng ngàn năm trước, khi sự hiểu biết con người còn hạn chế, lòng tham đã khiến con người tranh giành đất đai, tài sản lẫn nhau. Các nước lớn đã xâm lấn, cướp bóc các nước khác bằng sức mạnh của phần thuộc tính con trong con người. Sự tàn bạo dã man trong việc cai trị của các nước lớn khiến người dân ở các nước bị chiếm đóng khốn cùng, rất nhiều cuộc đấu tranh, phản kháng nhỏ lẻ diễn ra và nhanh chóng bị đè bẹp.
Nguyên do sự thất bại của các cuộc đấu tranh là mang tính tự phát, thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết. Nhằm củng cố vai trò thống trị, giới cai trị đã tiến hành những cuộc trừng phạt đẫm máu khiến người dân các nước thuộc địa thêm căm hận, uất ức, tinh thần tự tôn dân tộc được nuôi lớn dần.
Lúc bấy giờ, con người đã có niềm tin, con người được một Đấng quyền năng nào đó tạo ra. Trong số những người tổ chức các cuộc đấu tranh phản kháng, có người đã nhận ra nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh và họ cũng có những hiểu biết nhất định về thế giới tâm linh. Họ sắp đặt, chuẩn bị một kế hoạch hoàn hảo. Họ tạm dừng các cuộc đấu tranh, bỏ vào những hang động, chuyên tâm thiền định nhằm tìm hiểu thêm về cõi vô hình và vạch ra những kế hoạch mới nhằm giúp dân tộc thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước xâm chiếm.
Khi thời cơ đến, họ xuất hiện với vai trò là hóa thân của Đấng quyền năng mà dân tộc họ tôn thờ. Việc làm này được tiến hành từng bước với sự xuất hiện của nhà tiên tri và những lời sấm truyền.
Kết quả họ đã thành công vì những người dân với niềm tin được sự hỗ trợ của thần linh đã đoàn kết lại, vùng lên mạnh mẽ, bất chấp mạng sống.
Tinh thần quật khởi đó đã đánh bại quân đội lớn mạnh của các nước xâm chiếm. Giành lại được chính quyền, những người lãnh đạo nhận thấy giá trị của phần tâm linh trong tinh thần của con người, họ tiếp tục duy trì đức tin trong lòng người dân để dễ bề cai trị và thuận lợi cho việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Giáo lý, kinh điển, lời răn, điều luật, lời tiên tri,… được xây dựng và dần hoàn chỉnh. Điều này tùy thuộc vào tính khách quan, tư dục, sự hiểu biết về tâm linh của những nhà lãnh đạo tinh thần và bối cảnh xã hội khi tôn giáo đó ra đời.
Tuy nhiên, càng về sau tính chủ quan và tư dục đã bộc lộ trong các điều luật vì lẽ chúng tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho giới cầm quyền, cho các thành phần lãnh đạo tôn giáo,…
Tiêu biểu cho dạng tôn giáo xây dựng theo kiểu mẫu trên chính là Kitô giáo và Hồi giáo.
Kito Giáo:
Khi đất nước bị xâm lược, người dân Israel đã không có sự đoàn kết nên không đủ sức giành độc lập, tự do dân tộc. Một nhóm người có hiểu biết về Thần giáo đã nhận ra muốn khôi phục chủ quyền đất nước cần phải dựa vào yếu tố tâm linh. Họ tạo dựng ra vị giáo chủ mới - Chúa Jesu ra đời là con của đức Chúa Cha.
Kito giáo đã thành công trong việc giành lại độc lập, chủ quyền quốc gia. Để duy trì sự phát triển và tồn tại chủ quyền quốc gia, các nhà truyền giáo đã xây dựng hệ thống giáo lý, kinh điển mới có nhiều khác biệt so với nguyên bản cho phù hợp với tình hình xã hội, tương quan với sự hiểu biết tiến bộ của con người.
Việc làm thiện, tích lũy phước đức, tu bồi đạo đức, phẩm hạnh - Là nền tảng cho sự ổn định, phát triển xã hội vẫn được duy trì. Xóa bỏ chế độ đa thê. Nghiêm ngặt trong chế độ gia đình, xây dựng cuộc sống gia đình một vợ một chồng, tổ chức cuộc sống có phần khoa học hơn.
Kito giáo chú trọng vấn đề vật chất hơn, không đào sâu, tìm hiểu vấn đề tâm linh. Các nhà lãnh đạo Thiên Chúa, Tin Lành giữ đạo bằng việc trói buộc tín đồ vào niềm tin. Niềm tin kiên định không đặt ra những câu hỏi hóc búa, gai góc truy nguyên nguồn gốc của Chúa Jesu và Đức Mẹ Maria,...
Tinh ý, bạn sẽ nhận ra Kito giáo là tôn giáo đã được tư tưởng phương Tây đồng hóa. Tuy nhiên, Kito giáo vẫn phó thác số phận cho Đấng quyền năng, xin tội và cầu nguyện. Con người là do Thượng đế, do Chúa Cha tạo ra.
Về sau tư dục của những người lãnh đạo tinh thần đã chia Kito giáo ra làm Công giáo La Mã, Chính Thống Giáo Đông Phương, Anh Giáo, Tin lành, các nhóm Kito giáo độc lập,...
Hồi Giáo:
Cũng như Kito giáo, dựa vào yếu tố tâm linh các vị thủ lãnh tinh thần đã giành lại được vai trò lãnh đạo đất nước. Sau khi giành lấy chủ quyền, vị giáo chủ cùng các chức sắc, các thành phần trong tôn giáo đã xây dựng hệ thống kinh điển, điều luật và các lời răn,… khuyên dạy con người làm nhiều điều thiện, điều tốt, hạn chế sát sinh hại mạng,…
Bối cảnh lịch sử và điều kiện xã hội ở khu vực Trung Đông thời đó là chế độ chiếm hữu nô lệ, là chế độ quân chủ. Thân phận người phụ nữ thật sự hèn kém. Lòng tham dục của giới thống trị và sự hiểu biết hạn chế của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ đa thê được thừa nhận.
Nhằm đảm bảo vị trí thống trị, giới chính trị và các nhà truyền giáo gieo vào lòng người dân về đức tin tuyệt đối với Thánh Ala. Còn họ được chỉ định là đại diện của Đấng quyền năng và là những người có khả năng giao tiếp được với Thánh Ala. Nếu con người tin theo và đáp ứng tốt những yêu cầu của họ, sẵn sàng chết vì những nhiệm vụ được họ thay mặt Đấng quyền năng giao phó thì khi chết sẽ về Thiên đàng cộng trú với Thánh Ala.
Càng về sau, các giai cấp thống trị và các thủ lãnh tinh thần lợi dụng việc tử vì đạo, thánh chiến để bảo vệ đất nước và củng cố địa vị giai cấp thống trị. Kinh Coran lại là cổ ngữ đã khiến cho người đời sau thêm lầm lạc mơ hồ.
Trên thực tế khi chuyên tâm trì kinh Coran thì người trì tụng sẽ có thể tiếp xúc với cõi vô hình nhưng muốn nhận biết rõ thế giới tâm linh thì đòi hỏi người trì kinh phải có định tâm thật vững vàng và có sự hiểu biết rộng về cõi vô hình.
Chính vì việc được tiếp xúc, nhận biết mơ hồ về cõi vô hình nên các tín đồ Hồi giáo có đức tin mãnh liệt và tin những nhà truyền giáo chính thật là đại diện của Thánh Ala.
Không dừng lại đó, giai cấp lãnh đạo đã hạn chế sự hiểu biết của người dân.
Đặc biệt là người phụ nữ bằng cách hạn chế họ đến trường. Vì giai cấp lãnh tụ tinh thần tôn giáo nhận biết rằng “Khi người dân có hiểu biết thì người dân sẽ có những hoài nghi, không còn tin vào những điều luật vô lý và giai cấp thống trị sẽ mất lá bùa hộ mạng quan trọng”.
Người dân ngay từ nhỏ đã được nhồi nhét vào đầu niềm tin tôn giáo sâu sắc.
Tử vì đạo, thánh chiến được giới lãnh đạo dùng như một lá bùa bảo hộ cho sự tồn vong của quốc gia, dân tộc và họ sẽ đảm bảo được vai trò thống trị.
Tôi cũng đã nhận ra sự quay lưng lại với những điều luật không đúng, không còn hợp thời của các tín đồ Hồi giáo có hiểu biết. Mai này, những tín đồ Hồi giáo thuần thành sẽ không còn giữ đức tin mù quáng như trước. Không lâu nữa, những người phụ nữ Hồi giáo sẽ được đến trường, họ cần sự hiểu biết.
Tôi cũng nhận ra những thanh niên, những người đàn ông Hồi giáo tiến bộ đã nhận biết những điều không hợp lý của chế độ đa thê. Tuy nhiên, họ cần thêm thời gian để bước qua lòng tham dục.
Những quốc gia Hồi giáo rồi đây sẽ có phong trào bình đẳng giới phát triển mạnh mẽ nhất so với các quốc gia khác trên thế giới, người phụ nữ Hồi giáo sẽ tìm được chỗ đứng thực sự của họ trong xã hội văn minh.
Giai cấp lãnh đạo các quốc gia Hồi giáo nên sớm nhận biết rõ điều này, tùy thuận thay đổi cho hợp với lòng tin của các tín đồ, cho phù hợp với tình hình phát triển của nhân loại. Đừng cố giữ lấy lá bùa hộ mạng đã mất hết quyền năng. Điều này sẽ sớm  ra.
Hơn nữa, những người bạn Hồi giáo hãy nhìn nhận lại vấn đề. Thánh Ala, giáo chủ, nhà tiên tri Mohamet có chia Hồi giáo ra làm hai dòng Sunni và Shitte không?
Họ có kêu gọi tín đồ dòng Sunni giết hại dòng Shitte và ngược lại không?
Nếu câu trả lời là có thì thật vô lý. Sunni và Shitte có cùng cha chung - Thánh Ala và nhà tiên tri Mohamet.
Có người cha nào khiến các con mình giết hại lẫn nhau không?
Vậy câu trả lời đúng sẽ là không. Thế nên Hồi giáo phân cành rẽ nhánh là do tư dục của các thủ lãnh tinh thần Hồi giáo. Họ chia rẽ tín đồ nhằm nhận lấy nhiều lợi dưỡng hơn và tranh giành quyền lợi cá nhân.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét