Những hành vi hoằng đạo, truyền pháp như trên sao có thể lấp liếm che đậy bằng danh nghĩa đại thừa?
Phật giáo Đại thừa là người học Phật phải sống vì người, mang lợi ích cho loài người và muôn vật. Hành vi bỏn xẻn, ti tiện, tham lam ở không ít người học Phật có trong chùa chiềng, tự viện nơi Trung Hoa ngày nay phần nhiều chỉ vì mình. Đó là cách hành xử Tiểu thừa theo lối lập luận và quy ước của Vô Ưu.
Phật giáo Trung Hoa ngày nay đang truyền thừa hệ thống, quy củ của Phật giáo Trung Hoa cổ nên tạm nói đạo Phật Trung Hoa đã “bị lỗi” từ cội gốc.
Chịu ảnh hưởng nhiều việc đồng hóa văn hóa Trung Hoa đạo Phật Việt Nam, nhất là Phật giáo miền Bắc đã sớm bộc lộ bản sắc danh nghĩa Đại thừa mà hành vi Tiểu thừa.
Và… ngày nay lối sống thực dụng, lòng tham, si mê Phật giáo Bắc Trung Nam đang đắm chìm trong bể khổ của sắc dục, tham đắm, ganh đua, đố kỵ, tỵ hiềm,… và vô nghĩa.
Thêm vào đó, do không hiểu rõ giá trị đạo Phật cùng tính sáng tạo người Trung Hoa cổ đã suy diễn, vẽ vời ra vô số cõi Phật với chập chùng chủng loại Như Lai, Bồ tát cùng quyền thuộc vô hình chung giăng bẫy mê cuồng cho tri thức người học Phật cũng như nhân loại về sau.
Tuy nhiên, không hẳn người xưa Trung Hoa chỉ gây ra những điều tác tệ cho đạo Phật bởi lẽ cũng đã từng xuất hiện những vị Tổ tạm gọi sáng mắt góp phần làm sáng rõ phần nào Tam Tạng kinh.
Cũng do việc du nhập đạo Phật vào Trung Hoa mà Phật giáo còn tồn tại đến ngày nay, đó là sự thật không thể phủ nhận. Dù rằng Phật giáo Trung Hoa đã có những bước ngoặt sai lầm nhưng cũng nhờ vào điểm trung chuyển Trung Hoa mà nhân loại, người Việt Nam và cá nhân tôi tiến gần với đạo Phật.
Bởi do sự không chuẩn mực, mất gốc nên tôi đã không dùng sự hỗn độn, đảo điên, hư vọng nơi đạo Phật Trung Hoa (nói riêng) cũng như tri thức Trung Hoa cổ (nói chung) khi trình bày sự hiểu biết tổng thể khách quan.
…
Tôi đã loại phương Tây, bỏ Trung Hoa nhằm giảm thiểu sự dính mắc, rối rắm trong tư duy, nhận thức, sự hiểu biết của nhân loại. Chỉ còn lại Ấn Độ là nơi chứa đựng chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết tổng thể, khách quan, sáng rõ và đúng mực của loài người.
Sự thật là ngày trước khi lần dò tìm học Phật tôi không hề có khái niệm phân biệt rành rõ từng nguồn tri thức, tôn giáo,… phương Tây hay phương Đông. Một chút duyên thừa đã giúp tôi chạm đến sự thật - Sự hiểu biết khách quan, đúng mực.
Và ngày hôm nay tôi đã tổng hợp lại những điều tôi rõ biết về tôn giáo, tri thức nhân loại, yếu tố đông tây kim cổ… những mong nhân loại và bạn gần hơn với sự thật. Hy vọng bạn cùng mọi người dễ dàng tường tận lối đi, tránh đi đường vòng, lối rẽ mà mệt nhoài thân tâm, trí não,…
Thực tế là với những bài viết này cơ hồ đã không còn ý nghĩa với cá nhân tôi nhưng tôi cạn nghĩ những vấn đề tôi trình bày trong bày viết này rất có ý nghĩa với tri thức, nhận thức, tư duy và sự hiểu biết của nhân loại. Nếu bạn cảm nhận được chút ít ý nghĩa nơi bài viết thì bạn hãy vì người mà rộng truyền. Tôi và mọi người cám ơn bạn rất nhiều và trân trọng ân tình của bạn.
…
Quay lại với Ấn Độ.
Yếu tố thù thắng quyết định của hệ thống tôn giáo Ấn Độ là có sự đề cập đến sự giải thoát cho con người nơi thế giới tâm linh.
Đây là yếu tố mở và đúng mực. Bởi lẽ chỉ khi có sự giải thoát thì con người mới cần đến tôn giáo và sự tồn tại của thế giới tâm linh mới thật sự có ý nghĩa.
Tôi đã lấy yếu tố sự giải thoát cho việc chọn lựa tìm chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết của loài người. Những tôn giáo chứa đựng lý thuyết về sự giải thoát sẽ được tôi khoanh vùng và kết hợp phương pháp loại suy khách quan cùng những yếu tố đúng mực khác nhằm tìm cho ra chiếc chìa khóa giải quyết những vấn đề hỗn độn, đảo điên nơi xã hội con người ngày nay.
Tôn giáo Bà la môn (tiền thân của Ấn Độ giáo), Phật giáo, đạo Sikh, Kỳ Na giáo là 4 tôn giáo lớn của Ấn Độ chứa đựng yếu tố sự giải thoát.
Về giáo lý, kinh điển thì có thể nói 4 hệ thống tôn giáo trên đều chứa đựng tri thức sâu rộng, vi diệu về thế giới tâm linh, nghiệp, nhân quả, luân hồi, thiền định, yoga, pháp,…
Đạo Sikh ra đời muộn hơn so với 3 hệ thống tôn giáo. Đạo Sikh cùng với Ấn Độ giáo (có thể xem đây là tôn giáo cổ xưa nhất Ấn Độ) là hệ thống tôn giáo có chứa đựng yếu tố giải thoát. Nhưng điểm hạn chế của cả 2 hệ thống tôn giáo này là việc tin nhận Thượng đế là Đấng Sáng Tạo ra con người và tất cả vạn vật. Sự giải thoát mà con người chạm đến chính là sự cộng hợp - sự hợp thể với Thượng đế.
Ở một mức độ nhất định thì đã có sự tương đồng với Hồi giáo, Công giáo về sự hợp thể với Đấng quyền năng.
Do đâu mà kinh Thánh của Do Thái giáo (hay nói cách khác là kinh điển gốc của Công giáo, Hồi giáo) và kinh Vệ Đà của Ấn Độ giáo đã có sự tương đồng về sự tồn tại của Đấng quyền năng - Đấng Sáng Thế?
Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng này là người cổ xưa do giới hạn tri thức cùng việc cảm nhận sự nhỏ bé của tự thân trước sự hùng vĩ, bao la không cùng của thiên nhiên, vũ trụ nên đã cả tin về sự tồn tại một Đấng có khả năng sáng tạo ra tất cả. Từ đó tiến đến sự quy thuận, trói buộc cùng lệ thuộc.
Về sau những khổ não, phiền muộn, khốn khó nơi cuộc sống khiến con người mong mỏi được sự hợp thể cùng với Đấng quyền năng dẫn đến phát sinh việc cầu nguyện, lễ lạy, cúng bái bằng cả niềm tin và hy vọng.
Từ lâu con người đã chất chứa mong cầu sự giải thoát ra khỏi kiếp người. Giáo lý kinh điển của Do Thái giáo đã lệ thuộc hoàn toàn Đấng quyền năng với mong cầu duy nhất về sự hợp thể, họ không tiếp tục đào sâu, tư duy về thế giới tâm linh, các cõi giới,… Đây là yếu tố đóng cửa của tôn giáo Do Thái và là sự chấm hết.
Ấn Độ giáo có phần khách quan nên luôn mở rộng cửa tư duy, nhận thức. Việc hợp thể được tiến bộ hơn bằng cụm từ sự giải thoát và các cõi giới vô hình được phân định phong phú hơn bằng vào việc thiền định dẫn đến sự chạm đến các cõi giới tâm linh.
Tuy nhiên, đó là tất cả những gì mà Ấn Độ giáo có thể làm được. Dù có yếu tố giải thoát nhưng vẫn còn đó sự lệ thuộc vào Đấng Thượng đế thì con người, tín đồ Ấn Độ giáo vẫn mãi còn đó sự lệ thuộc, phục tùng và quy thuận.
Một điều dễ nhận thấy là khi con người còn dính mắc nơi sự lệ thuộc, phục tùng, quy thuận thì sự tự chủ đã không còn. Vì lẽ đó với việc tin nhận sự tồn tại thường còn của Thượng đế thì Ấn Độ giáo, đạo Sikh đã bị tôi loại khỏi sự chọn lựa trong việc hoạch định tìm đến chiếc chìa khóa khai mở tri thức khách quan của nhân loại.
Kỳ Na giáo là tôn giáo tin nhận sự tồn tại của yếu tố giải thoát hoàn toàn. Do khiếp sợ luân hồi, nhân quả tín đồ Kỳ Na giáo có phần cực đoan trong đời sống thường nhật, hạn chế tối đa những việc làm chạm đến nhân quả. Việc ăn mặc hạn chế tối thiểu đã tạo ra một tôn giáo lõa thể trong xã hội loài người, chủ yếu hiện diện ở Ấn Độ.
Và … khi con người không hiểu điều gì đã xảy ra nơi những tín đồ Kỳ Na giáo và giới trí thức ngạo mạn đã gọi đó là một nét văn hóa của người Ấn Độ.
Khi người hiện đại không thể nhận thức được một điều gì đó được thừa nhận bởi không ít người thói thường họ đã che đậy sự u tối tri thức chính họ bằng cụm từ văn hóa hào hoa, bóng bẫy.
Tuy nhiên, tin rằng nếu xét chiều sâu tri thức cũng như nội tâm thì giới trí thức, học giả ngày nay sẽ thật sự bối rối trước sức hiểu cùng tri thức ẩn tàng nơi những con người trần trụi đó. Nếu có sự khách quan, đúng mực thì giới tri thức thức thời ngày nay rất nên học hỏi ở sự uyên bác của những tín đồ Kỳ Na giáo lão thành.
Do có sự kế thừa nguồn giáo lý uyên thâm, vượt trội cùng yếu tố điểm đến sự giải thoát hoàn toàn cũng như tính tự chủ và quá trình thiền định, quán chiếu vạn pháp sự hiểu biết của những tín đồ Kỳ Na giáo thật sự khôn cùng.
Tuy nhiên, do hình thức lõa thể, khổ hạnh đã khiến giáo lý, kinh điển Kỳ Na giáo không dễ phổ truyền và ngày càng mai một.
Thực sự đã có không ít tín đồ Kỳ Na giáo đạt được sự giác ngộ khá hoàn chỉnh nhưng vẫn chưa có Bậc hành giả nào đủ thông tuệ để tháo gỡ sự cực đoan lõa thể, khổ hạnh truyền thống. Chính do có những vị hành giả tỏ ngộ chân chính nơi Kỳ Na giáo mà tôn giáo này còn được truyền thừa và tồn tại cho đến ngày nay.
Song với tính cục bộ, sự không thức thời cùng sự không khế hợp với điều kiện, bối cảnh sống hiện nay, việc không tích lũy thêm kiến thức hiện tại,… ở tín đồ Kỳ Na giáo những vị hành giả Kỳ Na giáo đã bị tụt hậu tri thức giác ngộ và dấu vết chấm hết của Kỳ Na giáo đang dần thành hình. Kỳ Na giáo mai sau còn lại chăng chỉ là một nét văn hóa đặc sắc, rất riêng của đất nước Ấn Độ (nếu hệ thống Kỳ Na giáo không có sự chuyển mình để thích nghi thì đích đến sẽ là sự tuyệt chủng).
…
Chỉ còn lại Phật giáo.
Liệu có không chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết hoàn toàn khách quan cho nhân loại nơi đạo Phật.
Phật giáo có chứa đựng yếu tố giải thoát con người phát triển lên một bước thành sự giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi sinh tử.
Vị Giác giả hoàn toàn đầu tiên Phật Thích Ca đã kế thừa kinh điển Vệ Đà cũng như phần lớn các tôn giáo quanh hệ thống lưu vực sông Hằng đã định hình nên một giáo lý giác ngộ, giải thoát hoàn toàn hoàn chỉnh. Đây không phải là việc làm tổng hợp, góp nhặt, chấp vá mà là thành quả của một công trình học hỏi tri thức không ngừng cũng như sự trải nghiệm của chính bản thân. Và trên cả là kết quả thực chứng của quá trình thiền định cùng quán chiếu không dính mắc yếu tố chủ quan hẹp kém của bản ngã. Việc chạm đến những cõi giới vô hình đã giúp Phật Thích Ca sáng rõ luân hồi, nhân quả cùng sự giải thoát hoàn toàn và Tam Tạng kinh đã ra đời.
Tam Tạng kinh ra đời không nhằm vào việc tạo dựng một vị Phật Thích Ca trong lòng nhân loại. Tam Tạng kinh ra đời vì sự khổ não, phiền muộn của chúng sinh nơi 3 cõi, 6 đường mà nhất là chúng sinh nẻo người nhiều vọng chấp, phân biệt, hoài nghi, tham đắm,… Vì lẽ đó đừng hiểu lầm và cô phụ từ bi tâm của Phật Thích Ca.
Đã có không ít người - chuyên gia, học giả, nhà nghiên cứu Phật học dựa vào cái hiểu hạn hẹp cá nhân mà nhận định đạo Phật thuộc thành phần tôn giáo vô thần và điều này được thể hiện cả trong trang vi.wikipadie.org/, wikipadie.org/. Đáng tiếc thay! Đúng thật là những người trong mơ thường hay nói lời mộng mị.
Dựa vào yếu tố giải thoát hoàn toàn cho con người ra khỏi vòng luân hồi nghiệp quả cùng với sự rành rõ đúng mực của nguồn tri thức có nơi Bát chánh đạo, Tứ diệu đế cũng như Tam Tạng kinh tôi nhận diện và khẳng định rằng “Chiếc chìa khóa khai mở sự hiểu biết khách quan, sáng rõ, đúng mực của nhân loại chính thật ẩn tàng nơi giáo lý của Phật Thích Ca. Đạo Phật là con đường chánh pháp giúp con người vượt qua biển khổ sinh tử luân hồi, là cứu cánh giúp cho nhân loại thoát ra khỏi mọi sự hỗn độn, rối ren nơi xã hội loài người ở thời điểm hiện tại cũng như tương lai”.
Phần lớn nội dung của Tam Tạng giáo điển là nhằm bộc lộ sự minh bạch, rõ ràng, đúng mực của Bát chánh đạo, Tứ diệu đế. Tam Tạng giáo điển ra đời nhằm mục đích giúp con người gần gũi hơn với sự sáng rõ của chánh pháp - Việc thoát khổ, thoát khỏi luân hồi nơi 3 cõi 6 đường.
…
Khi tôi trình bày bài viết Tử huyệt của đạo Phật thì Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đã hiện thân chất vấn “Thật không đúng! Nếu kinh Phật thậm thâm, vi diệu, thù thắng đến thế thì tại sao đạo Phật bị mai một ngay tại nơi Phật Thích Ca ra đời? Sự thật là ngay nơi đất nước Ấn Độ đạo Phật đã không còn đứng vững với số tín đồ hạn chế, ít ỏi”.
Sao lại có cả Văn Thù Sư Lợi hiện thân chất vấn Vô Ưu?
Đó là yếu tố huyền vẫn thường tồn tại nơi Tam Tạng kinh của Phật Thích Ca. Lẽ nào tôi lại sử dụng yếu tố huyền để điểm tô, làm gia tăng giá trị nội dung bài viết.
(Còn tiếp)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét