Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Đạo Phật Đương Đại – Lộng Chân Thành Giả


Phật giáo đương đại cũng tồn tại và phát triển trong sự tuỳ thuận nhưng với những bước đi lệch lạc. Vì lẽ con người ngày nay đã có nhiều hiểu biết, người tu học thông qua giáo lý kinh điển rồi sinh hiểu và chấp lấy cái hiểu đó và cho rằng – Đó là chân lý. Người học vướng vào sở tri chướng, bị cái thấy nghe hay biết của bản thân làm chướng ngại đường tu. Nhưng thật tế, kinh Phật không phải là chân lý; Kinh Phật chỉ là phương tiện. Kinh Phật là ngón tay chỉ mặt trăng. Do vướng vào kiến chấp, người tu học đã ngộ nhận ngón tay là mặt trăng từ đó không nhìn thấy mặt trăng và mê lầm không nhận ra ngón tay chính là phương tiện mà Đức Phật đã dùng nhằm giúp chúng sinh trong 3 cõi nhận rõ mặt trăng – là sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Nói cách khác, kinh Phật chỉ là chiếc bè giúp mọi chúng sinh sang bờ giải thoát nhưng con người đã nhầm lẫn khi mơ hồ nhìn thấy chiếc bè thì vội khởi nghĩ đã sang đến bờ bên kia. Số khác lại ôm ảo tưởng ngồi giữ chặt lấy chiếc bè. Như Lai gọi những chúng sinh mê mờ kia là “Thật đáng thương xót! Điên đảo thêm điên đảo”. Như Lai sớm nhận ra nhân loại sẽ rơi vào việc chấp pháp; Trước khi nhập diệt, Người đã khẳng định lại một vấn đề “Bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một lời” nhằm dứt trừ bệnh chấp pháp của chúng sinh nẻo Người.
Hiện nay, Phật giáo đã phát triển rộng khắp trên phạm vi thế giới nhưng lại đánh mất đi giá trị thực tiễn. Khi Phật tại thế, mọi người tìm đến tu học nhằm mục đích thoát ra khỏi bể khổ luân hồi. Ngày nay, có lẽ do thiếu chân sư chỉ dẫn; Con người đến với Phật giáo qua việc cúng bái, cầu nguyện, lễ lạy,… Con người chỉ chú tâm làm việc phước đức, gieo nhân tốt ở cõi Trời, cõi Người. Chí hướng xuất trần, cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi chỉ là những lời nói “đầu môi chót lưỡi”. Ngay cả những người xuất gia cũng không còn tin vào con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Một số lượng không ít những người xuất gia đã không còn nhận ra giá trị của Tam tạng kinh của Đức Thế Tôn. Số người học Phật khác thì nhận biết rằng – Chỉ cần học thuộc vài quyển kinh Phật thì lo gì không có “Cái ăn cái mặc”. Họ đã đúng – Việc gìn giữ truyền trao Pháp bảo đã tạo cho ngôi thứ  ba trong Tam bảo có được phước báo vô cùng lớn. Vì phước báo rất lớn khiến cho số đông Tăng bảo đã không còn nhớ được mục đích việc học Phật của bản thân, rơi vào lợi dưỡng. Thật đáng tiếc!
Trải qua thời gian lâu xa, sự tuỳ thuận của đạo Phật và sự không thực chứng của những người học Phật đã khiến nhân loại không nhận ra được sự chân thật của con đường giải thoát hoàn toàn và tính ứng dụng thực tiễn của đạo Phật. Thêm vào đó, việc phạm giới và cả việc rơi vào lợi dưỡng, lợi danh,… của không ít vị Tăng bảo đã khiến nhân loại đang hoài nghi giáo lý, kinh điển của đạo Phật. Từ sự hoài nghi giáo lý nhà Phật nhân loại đã hoài nghi cả chánh pháp dẫn đến việc bài bác đạo Phật.
Chủ nghĩa duy vật đã từng cố xoá bỏ chủ nghĩa duy tâm. Việc này đã góp phần làm mai một sự hiểu biết của tri thức nhân loại về thế giới tâm linh. Chánh pháp ẩn tàng trong kinh Phật vì thế cũng bị diễn giải sai lạc. Đạo Phật từ lâu đã trở thành một cái bình cổ được trang trí hoa văn trang nhã, bóng bẩy,… bên ngoài với nắp đậy kín và dường như trống rỗng ở bên trong. Tri thức nhân loại cũng đã cố công dùng nhận thức, tư duy,… nhằm nhận biết bên trong chiếc bình cổ chứa đựng “vật gì” hay không? Nhưng do dựa trên góc nhìn sai lệch và chủ quan,… nên đã không thể nhận rõ được bên trong đạo Phật có hay không có “vật gì”? Ngày nay, sự bùng nổ dân số toàn cầu; lối sống thực dụng, ích kỷ; sự  không hiểu biết về sự tồn tại của thế giới tâm linh một cách khoa học,… Nhân loại đang lầm lạc não hại nhau trong sự đau khổ, thù hận và chiến tranh; khiến trái đất đứng trước nguy cơ hoại diệt. Chỉ có chánh pháp mới có thể bảo đảm sự tồn vong của nhân loại và trái đất. Tôi rõ biết trong chiếc bình cổ có chứa đựng chánh pháp. Cách duy nhất để giúp nhân loại nhận ra chánh pháp là tôi sẽ đập tan chiếc bình cổ quý giá nhằm giúp nhân loại nhìn rõ “vật” được chứa đựng ở bên trong – Chánh pháp.
Khi người học Phật tìm hiểu, tham cứu kinh điển Phật. Nhất là kinh Đại thừa. Nếu người tu học thiếu sự khách quan và sự hiểu biết thì sẽ hiểu sai ý kinh. Điều này sẽ khiến người học Phật sẽ tin nhận thần thông của Phật là cùng tột, khôn lường,… Phần lớn người học Phật tin rằng – Mỗi khi Phật thuyết pháp là có hằng hà sa Bồ tát, A la hán, chư thiên, long thần hộ pháp,… - Đại diện cho chúng sinh trong 3 cõi 6 đường hội tụ về. Tôi không nói chúng sinh nẻo không thân là không có. Thậm chí tôi đang chứng thực những chúng sinh đó thật sự có tồn tại. Nhưng trong trường hợp này, người học Phật đã dùng góc nhìn lệch lạc để nhìn nhận vấn đề. Trong khi những vị Tổ kết tập kinh điển dùng đại diện của chúng sinh trong 6 nẻo và cả những vị Bồ tát, A la hán nhằm chứng thực như là một phương tiện để khẳng định những điều trong kinh là lời nói đúng thật do Phật thuyết nhằm giúp người học Phật sơ cơ, ít hiểu biết thời xa xưa tin sâu, hành trì theo chánh pháp. Ngày nay, sự hiểu biết nâng cao, những người theo chủ nghĩa duy vật và khoa học đã hoài nghi tính chân thật của thần thông, cõi giới vô hình nên không thể tin nhận kinh Phật. Ngược lại, phần lớn người học Phật lầm lạc lại ngộ nhận thần thông, thiên nhãn, bùa chú,… là chánh pháp, dẫn đến lạc lối đường tu.
Hình ảnh Phật hạ sinh ở bên hông mẹ, vừa sinh ra đã bước bảy bước hiện ra bảy đoá sen cũng là do người đời sau thêu dệt. Đây là sự tuỳ thuận truyền đạo của những người học Phật chưa đạt được sự tỏ ngộ cao tột. Riêng câu nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” chính thật là lời Phật nói sau ngày thành đạo.
Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng chỉ là do người đời sau dùng tâm phân biệt thần tượng hoá, thần thánh hoá Đức Phật. Trong kinh Kim Cang, Phật đã dùng một câu nói cảnh tỉnh người học Phật. Câu nói “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” được diễn dịch với hàm nghĩa “Bất kỳ vật gì có hình tướng đều không thật vì chúng sẽ hư hoại, chuyển dịch do tự tánh vô thường của vạn pháp”.
Về sau Phật giáo được truyền sang Trung Quốc, nhằm hoằng dương Phật pháp một số người học Phật đã chuyển nơi tu tập, hoá thân của những người đệ tử Phật từ Ấn Độ sang Trung Quốc. Cụ thể, Phổ Hiền Bồ tát dời về Nga Mi Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hoá thân tại Ngũ Đài Sơn thuộc tỉnh Sơn Tây, Quan Thế Âm Bồ tát thị hiện ở Phổ Đà Sơn, nằm trên một đảo nhỏ gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Triết Giang, Địa Tạng Vương Bồ tát hoá thân ở Cửu Hoa Sơn thuộc tỉnh An Huy,…
Người học Phật ngày nay ngộ nhận tâm Phật dẫn đến việc tham học kinh điển sai lạc. Lẽ ra người học Phật tham cứu, hành trì chuyển kinh Thủ lăng nghiêm về tự tâm. Vì lẽ người học Phật mà lại không rõ biết – Tâm là gì? Tâm ở đâu? – thì làm sao mà hành trì, tu học thành bậc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Việc trì tụng kinh ở các chùa, các tự viện,… theo khuynh hướng “Lấy ngọn bỏ gốc” khiến người học Phật càng thêm mê mờ, lầm lạc,… không thể nhận biết chân nguỵ.
Tịnh độ tông chú trọng đọc tụng Kinh A Di Đà, kinh Vu Lan, kinh Địa Tạng,… đã dẫn đến việc ngộ nhận cho người học Phật. Người học Phật tin rằng người đã khuất có thể vãng sinh tịnh độ khi được người sống cầu siêu, cầu vãng sinh,... Vậy thì người học Phật chỉ cần siêng năng cầu vãng sinh cho người chết và việc làm đó sẽ giúp cõi Tây Phương mở cánh cửa đón họ khi họ không còn. Ngoài ra, nhằm để gieo duyên tốt người tu học sẽ không ngừng cầu nguyện, lễ lạy, cúng bái,… với rất nhiều nghi thức, đồ cúng lễ: Quần áo, nhà cửa, tiền bạc, ti vi, xe máy,… gởi cho người đã khuất sử dụng. Khi khách quan nhận xét, tri thức nhân loại sẽ nhận thấy Phật giáo đã tuỳ thuận tiêm nhiễm lễ nghi của Nho giáo và tục lệ thờ cúng ông bà, tổ tiên của truyền thống văn hoá phương Đông. Thực ra, Phật tuỳ thuận thuyết kinh Địa Tạng nhằm chỉ bày cho người học Phật biết sự tồn tại của nẻo Địa Ngục và những khổ não, hành hạ mà chúng sinh nẻo tối này phải thọ lãnh. Người học Phật sẽ kinh sợ muốn thoát ra khỏi những nẻo tối sẽ tinh tấn hành trì theo chánh pháp mà tỏ ngộ, đạt sự giải thoát hoàn toàn. Lúc bấy giờ, ngài Mục Kiền Liên là người có đạo tâm, đã đạt ít nhiều sự tỏ ngộ. Vì sự khổ tâm của những người học Phật có người thân đã khuất từng sống với những hành vi xấu ác, bất thiện,… ngài Mục Kiền Liên đã cầu Phật chỉ bày cách giúp cho những người đã khuất tiêu giảm nghiệp xấu ác, sớm được siêu sinh. Phật đã thuyết kinh Vu Lan nhằm trấn an những người sống, đồng thời hướng con người tìm về chánh pháp. Phật thuyết pháp chủ yếu là nhằm giúp chúng sinh nẻo Người thoát khổ, giải thoát hoàn toàn chứ không chỉ vì giúp chúng sinh nẻo không thân được siêu sinh. Tuy nhiên, việc cầu siêu cho người đã khuất cũng có những hiệu quả nhất định. Điều quan trọng nhất giúp chúng sinh nẻo không thân sớm siêu sinh là phụ thuộc vào sự tín tâm, đạo hạnh của người trì tụng chứ không phải là ở mâm cao, cỗ đầy cũng như đồ tế lễ. Do việc “Lấy ngọn bỏ gốc” và tiêm nhiễm những hủ tục, nghi lễ rườm rà,… Phật Giáo đương đại đã khiến cho nhân loại ngộ nhận Phật giáo đã gieo rắc sự mê tín, dị đoan vào xã hội loài người.
Thiền tông tách pháp môn tâm truyền tâm, rời ngôn ngữ, lời nói, tạo tông giáo riêng. Chú trọng thiền toạ, thiền hành. Mặt khác, do ảnh hưởng qua lại với đạo Lão khiến người học Phật thiếu hiểu biết đời sau ngộ nhận. Người học Phật là phải tạo “thánh thai” trong thân huyễn – huyễn thân, rồi xuất huyễn thân ra khỏi thân,… Một số người học Phật khác lại xa rời giáo lý, chuyên tâm thiền định đạt được chút ít tỏ ngộ, đã vội nghĩ tưởng thông hiểu pháp Phật. Do chưa buông bỏ được cái tôi người học Phật đã vội nhập thế, tự lập tông giáo, khinh sư diệt Phật, gây thêm nhiều lầm lạc, ngộ nhận cho người đời sau.
Mật tông thì rơi vào bùa chú, ấn quyết,… Việc tiếp xúc với thế giới tâm linh, khiến người học Phật sơ cơ rơi vào đường rẽ thần thông, độ vong, thiên nhãn,… Việc này góp phần làm người học Phật đời sau xa rời chánh pháp; Việc cầu nguyện, cúng bái, lễ lạy,… bị lạm dụng thái quá khiến nhân loại không còn nhận ra chân giá trị Tam Tạng Kinh và chánh pháp.
Ở góc nhìn tổng thể, nhân loại hiện nay có rất nhiều truyền thống tín ngưỡng tâm linh, cũng có không ít người theo chủ nghĩa vô thần. Nếu việc cầu nguyện, cúng bái,… của người sống giúp những người đã khuất có tín ngưỡng tâm linh siêu sinh thì những người đã mất không có tín ngưỡng tâm linh sẽ không được luân hồi trở lại. Việc này đồng nghĩa với sự tịch diệt. Phải chăng những người đã khuất đó được thể nhập Niết bàn tịch diệt? Thêm nữa, đạo Thiên Chúa, Tin Lành,… không nhang đèn, không có tục lệ thờ cúng ông bà, tổ tiên và người thân thì những người thân đã mất của họ sẽ vĩnh viễn ở trên thiên đàng hoặc mãi mãi chịu hành hạ ở địa ngục hoặc chịu cảnh đói khát, không cơm ăn, áo mặc,... Thật không có lý lẽ đó. Bất kỳ chúng sinh nào trong 6 đường đều phải siêu sinh, luân hồi chỉ có những người hành trì hoà cái tôi vào không đại thì mới đạt được sự thoát khỏi luân hồi.
Việc chia chẻ đạo Phật ra thành nhiều tông giáo, sự không thực chứng của những người học Phật đã khiến kinh Phật trở nên mập mờ, thật giả khó phân định. Trong khi Phật và các vị Tổ dùng các phương tiện giả lập nhằm hiển bày chánh pháp chân thật – Lộng giả thành chân – thì người học Phật ngày nay lại nhận lấy những phương tiện giả lập làm thật và xa rời, quên bỏ chánh pháp – Lộng chân thành giả.
Việc không ít Tăng bảo rơi vào lợi dưỡng, lợi danh, tài vật,… và việc phạm những giới cấm của các vị Tăng bảo; Sự không rõ tâm Phật của người học Phật, đệ tử Phật đã gom góp tiền của, đất đai, … nhằm xây dựng chùa to, Phật lớn. Là nguyên nhân gây ra sự tranh giành địa vị, quyền lợi,… của các vị Tăng bảo ở các ngôi chùa. Những việc “Trái tai, gai mắt” trên làm chướng ngại cho những người học Phật sơ cơ và cả những người tu học chân chính. Cụ thể, giả như tôi chưa từng có sự hiểu biết về đạo Phật. Chẳng may tôi gặp một biến cố rất khổ đau. Những thiện tri thức đoái thương chỉ bày cho tôi biết về đạo Phật và khuyên tôi muốn thoát khổ thì hãy quy y Tam bảo. Tôi thật lòng muốn thoát khổ, vượt khỏi 6 đường. Tôi sẽ xin về chùa phụng sự Tam bảo nhưng khi tôi tận mắt chứng kiến sự tranh danh, đoạt lợi và việc phạm giới của các vị Tăng bảo thì tôi sẽ có tâm trạng ra sao? Mặc dù mới là người học Phật sơ cơ thì tôi vẫn phải nhận biết – Đó không phải là chánh pháp. Niềm tin về đạo lý giải thoát của tôi lúc đó còn không? Tôi trốn chạy khổ não ở đời, lánh vào đạo tìm con đường giải thoát mà lại bị cướp mất niềm tin. Sự hụt hẩng sẽ khiến tôi chơi vơi không thể sống ở đời và cả trong đạo. Có lẽ khi đó tôi thật sự rất đáng thương và tuyệt vọng.
Việc cầu nguyện, cúng bái, bùa chú,… sẽ khiến những người có sự hiểu biết nhất định về khoa học, chủ nghĩa duy vật hoài nghi giá trị của chánh pháp. Ngược lại, số người theo chủ thuyết duy tâm nhưng có sự hiểu biết sai lạc lại tin nhận thần thông, pháp thuật huyễn hoặc,… là chánh pháp, sống nhờ việc độ vong, cầu siêu, cầu vãng sanh,… hoặc là  tạo duyên chờ trông Phật Di Lặc hiện thân thọ ký Phật quả,...
Tại sao Phật Thích Ca và các vị Tổ lại thuyết pháp và truyền trao kinh Phật chứa đựng rất nhiều điều huyễn hoặc, thần thông biến hoá khôn lường,…?
Sự khác biệt bối cảnh xã hội giữa quá khứ và hiện tại: Tri thức của phần lớn người xưa là không sâu rộng. Người xưa tin nhận chú thuật, pháp lực,… của giáo chủ các tôn giáo khác, tin nhận thần thông của các Đấng quyền năng,… Nhưng thần thông chân chính và cao tột nhất lại là chánh định và sự hiểu biết. Vì vậy Phật đã nhiếp phục những chủ thuyết, kiến chấp,… sai lầm của các tôn giáo khác nhằm chỉ bày chánh pháp. Bùa chú, huyễn thuật,… của các tôn giáo khác không thể làm tổn hại Phật vì Phật có chánh định vững vàng. Thật tế, bùa chú và thế giới vô hình không thể làm hại những người có định tâm vững vàng và đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên, Phật đã dùng sự thật đó giả lập làm phương tiện giúp người xưa tin nhận, hành trì chánh pháp. Hiện tại, tri thức của nhân loại đã được nâng cao. Bùa chú, thần thông, thế giới người đã khuất là những thứ huyễn hoá, không dễ nhìn thấy, nhận biết khi không có sự nghiên cứu, tìm hiểu chuyên sâu. Thêm vào là sự sai lầm cơ bản và ngớ ngẩn của chủ nghĩa duy vật – Bị ngôn ngữ đánh lừa và trói buộc , tri thức nhân loại đã hoài nghi bùa chú, huyễn thuật, kinh Phật, hoài nghi chánh pháp dẫn đến lầm lạc chất chồng, trói con người vào trong khổ đau, trong vòng luân hồi sinh tử .
Tất cả sự lầm lạc trên sẽ huỷ hoại chánh pháp, vùi chôn đạo Phật. Tôi sẽ vì nhân loại đập tan những sự ngộ nhận, sai lầm,… đang tồn tại trong đạo Phật và tri thức nhân loại. Hy vọng nhân loại sẽ sớm nhận rõ chánh pháp và tin nhận con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Tôi đã đập tan cái bình cổ quý giá với mục đích gì?
Chánh pháp không thuộc về đạo Phật. Từ lâu, tri thức nhân loại đã “cất giấu” chánh pháp vào đạo Phật. Về sau tri thức nhân loại lại ngộ nhận đạo Phật là chiếc bình cổ, chánh pháp được cất trong chiếc bình cổ. Ngày nay nhân loại đã không sống với chánh pháp gây não hại, đau khổ cho nhau. Người biết thời không nói, người nói thời không biết khiến cho tri thức nhân loại ngộ nhận, mê lầm. Sống với tri thức, nhận thức sai lầm, nhân loại sẽ bị huỷ diệt trong khổ đau, thù hận. Trái đất nổ tung, con người sẽ không còn nhưng chết không phải là hết. Sự sống luôn tồn tại cho dù nhân loại không nhìn thấy và nhận biết. Tôi đã cất công đập vỡ cái bình cổ hiển bày chánh pháp. Việc cần làm của nhân loại bây giờ là chọn lựa sống với chánh pháp, giải thoát hoàn toàn hay chọn lựa sống với khổ đau, thù hận và luân hồi trong 3 cõi 6 đường?


2 nhận xét:

  1. cam on Latuan bai viet nay , ........cu theo ngon tay chi nhung ...tim mai chang thay mat trang ........hoa ra minh mu roi ......hi hi . chuc la tuan an lac .

    Trả lờiXóa
  2. cam on latuan nhe . bai viet rat ro va hay . chuc ban suc khoe

    Trả lờiXóa