Để xoa dịu sự phẫn nộ trong lòng dân giới quản lý xã hội đã tuyên truyền, điểm tô những cái được mà giới lãnh đạo xây dựng được cho đất nước, cho người dân như việc xây dựng bộ mặt đất nước đẹp giàu, cùng khẩu hiệu đẹp đẽ “xóa đói, giảm nghèo”.
Nhưng giới quản lý, các phương tiện truyền thông đã che giấu những cái mất mà dưới sự điều tiết vụng về của giới quản lý đất nước đã gây ra cho người dân. Cụ thể là một cuộc sống bình dị, thanh thản, ít lo toan, một hạnh phúc giản đơn, mọi người bình đẳng, hài hòa có cuộc sống “cơm no, áo ấm”. Một mất mát không dễ bù đắp ở hiện tại và tương lai là bản sắc, khí tiết dân tộc, giá trị con người, sự đoàn kết của người Việt Nam .
Đừng phản biện là không thể có một xã hội mà người dân “no cơm, ấm áo” khi người dân biếng lười lao động.
Ai, thành phần, tầng lớp xã hội nào hiện đang biếng lười lao động?
Người dân, người lao động chẳng phải đang mệt nhoài, vất vả, bương bả mưu sinh với tăng ca, làm thêm giờ mà chỉ có thể gắng gượng sống sót.
Hãy chung tay vượt qua khó khăn hiện tại để mở cánh cửa “Dân giàu, nước mạnh”, xã hội công bằng, văn minh cùng sự “no cơm, ấm áo”!
Đến bao giờ? Điều đó có thể không? Khi đó người Việt sẽ là con ong chăm chỉ hay con kiến chuyên cần?
Sẽ có một cuộc sống bình dị, ít lo toan, thảnh thơi, hạnh phúc ở “Dân giàu, nước mạnh” chăng?
Khi nào người Việt mới trả hết nợ nước ngoài?
Số nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát, trong khả năng trả nợ của nhà nước.
Số nợ còn nằm trong khả năng trả nợ của nhà nước hay của người dân? Tại sao không trả dứt để người Việt Nam không mang tiếng là con nợ và phải làm nô lệ cho nước ngoài hết đời này sang đời khác? Một đứa bé vừa mới sinh ra, chưa kịp bú sữa mẹ vì cớ gì phải nợ nước ngoài gần 20 triệu đồng? Và dường như cha mẹ chúng cũng chưa từng vay mượn số tiền tương tự và phải đóng lãi mẹ, lãi con suốt cả cuộc đời.
À, thì là số nợ mà người dân Việt phải gánh trả. Tuy nhiên, những khoản nợ đó vẫn nằm trong khả năng chi trả của người Việt. Việc vay nợ nước ngoài là cần thiết. Số tiền đó giúp các nhà quản lý tái thiết và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng việc phát triển đất nước. Và một khoản trong số tiền vay nước ngoài sẽ góp phần xây dựng hình tượng Việt Nam một đất nước đẹp giàu, một bộ cánh trang hoàng, đẹp đẽ trước cái nhìn của bè bạn 5 Châu.
Dường như, tôi, người dân không cần đến bộ cánh sặc sỡ, lòe loẹt, của nợ đó. Tôi chỉ cần một cuộc sống yên bình, no đủ, hạnh phúc. Tôi không thích học làm sang vì rõ biết mình chưa thật giàu có, lắm tiền. Tôi không thích vay mượn để làm một con nợ và tự biến mình thành kẻ làm thuê nhiều đời trên chính mảnh đất của ông cha. Và tôi cũng biết rằng đã có rất nhiều khoản chi tiêu xa hoa, lãng phí, việc tham nhũng, hối lộ, những khoản chi không thật cần thiết… ở những nhà quản lý xã hội từ cao đến thấp.
Tôi đã biết “Xóa đói, giảm nghèo”, “Dân giàu, nước mạnh” chỉ là những mệnh đề lý tưởng không thật. Nhất là khi tôi, người dân, người lao động phải gánh vác những khoản vay nước ngoài khổng lồ không ngừng gia tăng hàng năm. Tôi rõ biết tôi không thể giàu ở thân phận kẻ nô lệ, con nợ nhiều đời.
Tôi đang uất ức, căm phẫn vì sự dối lừa, giả trá. Niềm tin, sự hy vọng về khả năng điều tiết, quản lý xã hội ở giới chính trị trong tôi dường như đã mất.
Không chỉ những khoản vay nước ngoài không ngừng tăng lên qua từng năm mà các khoản thuế, phí cũng tăng nhanh vượt mức. Bên cạnh đó, đồng tiền đang mất giá nghiêm trọng, lạm phát kinh tế, trượt giá sản phẩm hàng hóa, trượt giá lao động,… Tôi không nhận thấy một giải pháp điều tiết nào có ở giới quản lý xã hội thể hiện tính hiệu quả, khả thi.
Phải chăng kiếp nghèo, kẻ làm thuê, nô lệ khó mong có được sự no đủ, thảnh thơi, hạnh phúc,…?
Đây là thời điểm khó khăn mà chúng ta cần phải vượt qua. Đây là tình hình chung của thế giới. Rồi thì mọi việc sẽ tốt hơn. Vì đất nước ta có sự ổn định về chính trị, ngành kinh tế rồi sẽ chuyển mình giúp cho đất nước đẹp giàu. Hãy yên lòng vì nước ta là một nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân!
Là một nước dân chủ ư?
Đúng vậy! Việc bầu cử quốc hội, các nguyên thủ quốc gia, những nhà lãnh đạo, nhà quản lý xã hội từ trung ương đến địa phương đều do người dân tín nhiệm bầu chọn. Và có những cuộc bỏ phiếu tín nhiệm thường kỳ để người dân có thể “gạch tên” những nhà quản lý thiếu chuyên môn, kém cỏi,…
Nếu là dân chủ thật sự thì tại sao khi người Việt chưa bỏ phiếu bầu cử thì bạn bè 5 Châu đã tường tận ai sẽ được ngồi vào những chiếc ghế quản lý lãnh đạo đất nước.
Phải chăng đài BBC đã rất tài tình giúp người Việt sắp xếp, chọn lựa người lãnh đạo đất nước, quản lý xã hội?
Có không sự chuyên chính ở các nhà quản lý đất nước khi can thiệp vào quá trình bầu cử được tuyên truyền khách quan, hợp lòng dân?
Tại sao việc bầu cử cứ như thể là việc mua xổ số kiến thiết sau khi người dân, người trúng cử đã có vé dò?
Còn việc bỏ phiếu tín nhiệm những nhà quản lý đất nước, xã hội.
Phải chăng các vị quản lý xã hội đều đạt điểm chuẩn mà không cần thi lại vòng 2?
Ai cũng tốt? Ai cũng được việc? Vậy thì việc bỏ phiếu tín nhiệm làm gì gây hao tốn kinh phí tổ chức, mất thời gian của nhau?
Nếu các vị quản lý đều chuẩn, tốt cả sao lòng người dân lại phẫn nộ, oán trời, trách đất?
Phải chăng việc bỏ phiếu tín nhiệm cũng chỉ là hình thức nhằm an định lòng dân và không có giá trị thật?
Những cuộc bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm có phải được toàn dân ý thức, nô nức tham gia với sự khách quan cùng niềm tin yêu lựa chọn?
Dường như không hẳn vậy. Báo cáo thành tích thì luôn chuẩn, đạt nhưng phần đông người dân không mặn mà với những việc làm thành lệ, không có giá trị thật. Cực chẳng đã nên đi cho không mang tiếng chống đối, việc gạch xóa đã có người hướng dẫn, chỉ tay. Việc bỏ phiếu trắng thật không ít.
Ai là người kiểm phiếu?
Cũng chỉ là chuyện nội bộ của giới quản lý xã hội. Ai thiếu phiếu mà được cơ cấu, đặc cách thì những chiếc phiếu trắng được gạch gạch, xóa xóa và hợp thức hóa. Phiếu tín nhiệm thấp dưới chỉ tiêu thì bổ sung thêm bằng lượng phiếu trắng dồi dào. Những việc làm ngỡ “Thần không biết, quỷ không hay” nhưng chỉ cần người hiểu chuyện, biết việc thì tường tận. Việc “Dùng tay che trời” ở những nhà quản lý đất nước không phải là có ít người nhận biết mà chỉ là việc biết không dám hé môi, chỉ thậm thà, thậm thụt truyền tai nhau cùng sự bất mãn, u uất. Lối sống thực dụng, sự sống còn, giá trị, khí tiết con người “tan biến” thế nên việc im lặng giữ mình sẽ không xấu mặt nhau.
…
Yếu tố chính thống giáo ở Việt Nam không rõ rệt vì sự chuyên chính ban đầu của giới lãnh đạo đã kiềm chế sự phát triển các loại hình tôn giáo do việc “lượm lặt” chủ nghĩa vô thần ở học thuyết duy vật biện chứng và triết học Mác - Lê Nin. Tuy nhiên, về sau chịu sự tác động của trào lưu tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trên thế giới nên Việt Nam đã chấp nhận các loại hình tôn giáo sinh sôi, nảy nở theo sự điều tiết của các nhà quản lý xã hội. Với cách sử dụng tôn giáo như một công cụ quản lý xã hội thì tôn giáo đã “nhuốm màu” chính thống giáo với “Tốt đời, đẹp đạo”. Và người người ở Việt Nam đang tìm đến các tôn giáo với sự mê tín nhiều hơn chánh tín.
Có lẽ Việt Nam sau một thời gian rối ren chuyện đời sẽ tiếp bước hỗn độn, đảo điên chuyện đạo. Thế giới tâm linh xáo trộn, “âm thịnh, dương suy” sẽ nhấn chìm xã hội con người Việt Nam thêm lần nữa.
Tình cờ viết bài “Việt Nam, trưởng giả nửa mùa” lại trùng dịp VTV2 trình chiếu phim “Trò đời” là bản sao của phim “Số đỏ” hồi mấy mươi năm về trước. Cảnh phim được dựng lại bối cảnh xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, với những mệnh phụ me Tây, kiểu áo Ngây Thơ, Ưỡm ờ, sự dối trá, trơ tráo, đạo đức giả,… của những Ông Lớn, của bọn bán nước cầu vinh. Rồi lại tình cờ được nghe chương trình giới thiệu, quảng bá phim Trò đời tôi tự biết rằng mình không nên xem phim Trò đời vì sự giả trá, trơ trẽn của bộ phim. Do biết rằng việc xem phim sẽ tủi, nhục, uất ức cảnh thật, đời thật nên tôi đã chọn lựa thà đừng xem phim thì hơn.
Nghĩ lại thời nay việc gì cũng được quảng bá, PR khiến lòng chán ngán. Không hiểu mai này xã hội sẽ về đâu khi con người cứ thích sống trong sự dối lừa, bịp bợm, trơ tráo vì chính người trong cuộc cũng không nhận thức rõ điều đó. Đúng là ngành dịch vụ rồi sẽ “nuốt chững”, “dìm chết” xã hội con người.
Một điều dễ nhận thấy trong bối cảnh hiện tại là người làm được chút ít mà muốn được có tiếng tăm lừng lẫy thì cần có sự PR, đánh bóng thành tích, công trạng, tên tuổi hoặc việc tạo scandan.
Kết quả là người muốn danh tiếng sẽ có danh tiếng, được khen ngợi, ngưỡng mộ còn các bộ phận dịch vụ cũng thu được những khoản tiền làm PR, dịch vụ,… những chương trình quảng cáo, những nhà tài trợ cùng đua tranh tạo thương hiệu ăn theo,… Những việc góp phần cộng dồn giá trị thặng dư ảo vào sản phẩm hàng hóa, vật chất. Và … người tiêu dùng, người lao động nghèo sẽ “gánh” lấy những “gánh nặng” kèm theo có nơi sản phẩm hàng hóa.
Ngẫm lại Trò đời cách tân từ Số đỏ đang tái hiện lại thời Pháp thuộc hay đang khắc họa xã hội hiện tại. Sẽ có người xem Trò đời để miệt thị, khinh bỉ cách sống của con người thời quá khứ với những trơ tráo, sa đọa, trụy lạc, đạo đức giả, một xã hội nhầy nhụa, dơ bẩn, đáng xấu hổ, đáng lên án,... Nào những me Tây mê tiền, đắm nhục dục, nào những vị quý ông học điều sang cả che giấu sự dốt nát, tối tăm trí não, bẩn nhơ nhân cách; nào những bất công, bóc lột con người một cách đê hèn, vô sỉ…
Nhưng nếu chỉ cần mở lòng ra để nhìn vào đời thật ngày nay thì e rằng sự đáng lên án, đáng tủi hổ ở người Việt hiện tại đang vượt mức bối cảnh xã hội thời Pháp thuộc rất nhiều lần.
Vì sao?
Vì một xã hội người Việt đang bị lòng tham, lối sống thực dụng, sự ích kỷ,… chi phối. Sự học biến chất, giá trị con người không còn, sự cam chịu “Thấp cổ, bé miệng”,… đang nhấn chìm xã hội người Việt. Tệ quan liêu, tham nhũng, hối lộ, mua danh, bán tước tinh vi, bằng giả, học giả,… ở mọi thành phần, tầng lớp xã hội. Những me Tây ngày xưa đã lột xác trở thành ước mơ cô dâu xứ Đài, xứ Hàn, ngoại quốc, việc xuất khẩu lao động được hợp thức hóa vì mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Những việc như lấy chồng ngoại một thời bị khinh bỉ, lên án gắt gao, việc vượt biên sống lưu vong nước ngoài một thời bị nghiêm cấm, ngăn chặn,… giờ đã được cho phép với sự danh chánh, ngôn thuận,… và trở thành “mốt”, thành sành điệu, thành phong cách,… vì điều này mang tiền của về ngân sách quốc gia.
Thời nào đúng? Thời nào sai? Ai đạo đức giả? Ai trân tráo, trơ trẽn, đê hèn?
Ngày trước đáng khinh hay ngày nay nên hổ thẹn, gắng sửa mình?...
Áo Ưỡm Ờ, Ngây Thơ,… một thuở nào sao bì được với sự sành điệu trong phong cách thời trang ngày nay. Áo 2 dây mỏng mảnh, quần ngắn củn cởn,… và đó được gọi là cá tính, là sành điệu.
Đã một thời người Việt bài xích “Xướng ca vô loại” và con nước ròng, con nước lớn. Ngày nay giới ca sĩ từ con vịt xấu xí nơi quan niệm người xưa đã hóa thành chim thiên nga lộng lẫy với danh vị thần tượng, ngôi sao được nhiều người mến mộ cùng với số tiền thu nhập khủng, mặc sức hưởng thụ, khoe mẽ hơn người,…
Những vận động viên thể thao một thuở là kẻ ăn bám xã hội cũng tìm được chỗ đứng cao quý, được mọi người ngưỡng mộ, kính trọng, được vinh danh. Tiền tài theo về và trên đỉnh vinh quang không ít hình tượng người Việt đã thể hiện nhân cách nghèo nàn, giá trị con người tệ hại,…
Những nhà quản lý xã hội đầy quyền lực, nắm trong tay quyền sinh sát của mọi thành phần, tầng lớp xã hội cùng người dân. Họ đã dùng tay che trời, sống theo chân lý nằm trong tay kẻ mạnh, họ theo về phe giàu và dùng rất nhiều thủ đoạn tinh vi, thiện xảo ra sức bóc lột sức dân,… bằng phí quản lý, bằng thuế, bằng dịch vụ, bằng các khoản vay nước ngoài,… và dân tộc là con nợ.
Những lời khích lệ, động viên, những cái bánh vẽ được chìa ra, ước mơ người Việt vươn tới những tầm cao được tuyên truyền sâu rộng. Sự tiến bộ, phát triển, hiện đại, thịnh vượng được tô vẽ, ngụy tạo nhằm che đậy một xã hội người Việt hoang mang, bấn loạn, không có tương lai tươi sáng, yên bình.
Hạnh phúc, dân chủ, tự do, bình đẳng, hài hòa, bác ái, thảnh thơi,… đang từ bỏ người Việt. Người Việt đã trở thành nô lệ, là kẻ làm thuê trên chính mảnh đất của mình ở một đất nước độc lập, tự do và dân chủ.
Người Việt mông muội, ngây ngô, ích kỷ, tham đắm,… bỗng chốc trở thành nô lệ cho nhân loại, nô lệ cho đất nước, nô lệ cho cuộc đời tự do hơn 60 năm, họ gần như cam chịu số kiếp làm thuê, làm kẻ nô lệ cho người, cho đời tự nguyện và hoan hỷ.
Hạnh phúc giản đơn, dung dị bỗng trở nên xa vời với mọi người Việt. Đó chỉ là giấc mơ của con người khi con người không còn nhận biết giá trị cuộc sống, giá trị con người.
Và có những người con người rời xa cuộc sống bon chen, xô đẩy, những tranh cạnh không đáng có. Họ lần tìm chút hạnh phúc giản đơn, một sự bình an, tĩnh lặng của tâm hồn bỗng trở thành những kẻ hành khất bơ vơ, lạc lõng, nhu nhược, bi quan và tiêu cực.
Ai đúng? Ai sai? Ai được? Ai mất? Ai hơn? Ai thua?... E rằng con người “sống chết” cùng quan niệm “Chết là hết” sẽ ít có người rõ biết.
Bất chợt tôi lại nhớ 2 câu thơ cuối của bài thơ Hội Tây của cụ Nguyễn Khuyến.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu?
Phải chăng tôi đang bỡn cợt bạn, bỡn cợt người Việt Nam ?
Nếu những việc tôi đang trình bày là sự bỡn cợt thì tôi đang bỡn cợt sự hiểu biết của con người và cả nhân loại.
Nhưng tôi rõ biết rằng việc tôi đang làm không là sự bỡn cợt mà là việc chỉ ra sai lầm của tri thức nhân loại khi trói tư duy, nhận thức con người vào “Chết là hết”. Chết là hết là một tư duy nông nổi, một nhận định sai lầm, chủ quan.
Chính việc trói tư duy vào Chết là hết mà con người đang đánh mất giá trị con người, đánh mất một cuộc đời hạnh phúc, sự bình yên, tiến bộ, hài hòa, thịnh vượng ở mỗi quốc gia và cả nhân loại.
Có thể sẽ không ít người nhận diện sự ngạo mạn, ngông cuồng qua cách viết của tôi. Lẽ ra tôi nên dùng thủ pháp uyển chuyển, mềm mại, khéo léo hơn, tránh gây ra những va chạm, xung đột không cần thiết.
Thiết nghĩ, trong bối cảnh “Dầu sôi, lửa bỏng” nơi xã hội con người như hiện nay mà tôi lạm dụng sự hòa hoãn, nhân nhượng,… để che đậy việc “Tham sống, sợ chết” e rằng việc “đánh tiếng” sẽ không hiệu quả, kém khả thi. Lòng tham, lối sống thực dụng, tính ích kỷ,… đang xâm thực hoàn toàn giá trị con người thì việc chần chờ, thận trọng vì nhu cầu sống cá nhân dễ khiến xã hội con người chìm sâu trong khủng hoảng toàn diện với đầy đủ sự đau khổ, hận thù, tan vỡ, mất mát.
Xã hội loài người đang trượt dài vào tiến trình đổ nát nhân loại vì những định kiến sai lầm lâu đời mà những người đại diện tri thức nhân loại không thể nhận diện. Vì không thể nhận diện được sai lầm nên đã không có một giải pháp sửa sai mang tính tổng thể, đúng mực nào được nhân loại đưa ra nhằm vào việc giúp xã hội loài người dần thoát ra tâm bão lòng tham, sự thực dụng, tính ích kỷ,… cũng như việc vượt qua Kỷ nguyên đổ nát nhân loại.
Tư duy “Chết là hết” cần phải tháo gỡ ra khỏi nhận thức, ý thức con người. Mỗi một tâm ý sự sống đều có thể “Chết là hết” để xa rời bể khổ với vòng quay luân hồi, nghiệp quả, nhân duyên cùng với việc sửa sai sai lầm nội tại.
Việc quẩn quanh nơi luân hồi sinh tử không hẳn sai, việc tìm về chân như tịch diệt, rời xa đau khổ, mê đắm, hận thù,… không hẳn đúng. Dù vậy một xã hội ít đau buồn, hỗn độn, rối ren,… đáng tồn tại hơn một nhân loại đầy hận thù, đau khổ, khủng hoảng, giết chóc, chiến tranh.
Và … nếu “đắm chìm” trong lòng tham, sân hận, si mê, hoài nghi, kiêu mạn và khi vượt mức thì sự sống nơi trái đất sẽ bị hủy diệt thì việc tìm về chân như tịch diệt ở mỗi tâm ý sống càng thêm lao nhọc, khốn đốn.
Thật sự là con người không dễ dàng “Chết là hết” dù rằng tư duy hàng ngàn năm đã trói cột con người vào điều đó và ngày nay quan niệm “Chết là hết” đang “hủy hoại” xã hội con người.
Muốn xã hội con người thoát khỏi tiến trình đổ nát nhân loại thì tư duy “Chết không dễ dàng hết” sẽ sửa sai quan niệm “Chết là hết”. Hiển nhiên là tôi không cần phải dùng đến thủ đoạn “Dối người thêm lần nữa” bằng việc dựng lên “Chết không là hết” nhằm “cứu vãn” con người thoát khỏi lòng tham, lối sống thực dụng, tính ích kỷ,… Việc “Lừa người, dối mình” với tôi không cần thiết.
Bằng vào khoa học khách quan, cùng tư duy logic kết hợp với lý luận biện chứng,… tôi sẽ chứng thực sự tồn tại của thế giới tâm linh, sự gắn kết luân chuyển giữa cõi giới hữu hình và vô hình,… những việc làm nhằm giúp nhân loại dễ dàng “nắm bắt” sự tồn tại tâm ý sự sống, cội nguồn con người,… một cách đúng mực, sáng rõ.
Tin rằng những lập luận tôi trình bày sẽ có sự khách quan, đúng mực, hợp lý hơn những luận thuyết về sự sống, vũ trụ có ở ngành khoa học chủ quan, khép kín cũng như ở thuyết duy vật biện chứng hiện tại còn nhiều giới hạn. Hạn chế của thuyết duy vật biện chứng cùng khoa học hiện là thiếu sự khách quan, tổng thể và đúng mực, chỉ là tri thức nhân loại nửa vời, thiếu trước, hụt sau, không rõ đầu cuối.
Chỉ khi nào nhân loại thừa nhận và gắng sức sửa sai sai lầm ở tư duy “Chết là hết” thì những cuộc khủng hoảng liên hoàn, triền miên ở nhân loại mới có lối thoát. Vượt qua hàng loạt những cuộc khủng hoảng xã hội loài người mới có thể nghĩ đến sự yên bình, hài hòa, tiến bộ, văn minh,… cho nhân loại.
Vì lẽ đó nếu mọi người nhận thấy rằng những vấn đề tôi trình bày có tính hợp lý, khách quan, đúng mực thì hãy truyền tay nhau vì một xã hội tốt đẹp, bình đẳng, tiến bộ,… thật sự.
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét