Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Việt Nam, trưởng giả nửa mùa (Phần 1)

Ta có thể thấy Việt Nam qua bóng dáng của Nước Đức trên đỉnh phù vân hay Cộng hòa Síp với Thiên đường bị đánh cắp; có thể bắt gặp Việt Nam ở hình tượng Nhật Bản, bản sắc nhạt nhòa hay Thái Lan, Thiên thần sắc đẹp đã đổi giới tính; có thể chạm đến Việt Nam tựa như nơi chính trường Ý hỗn độn hay chạm đến công thức “Chuyên chính, Chính thống giáo, quốc gia và dân tộc” đã được cách tân theo kiểu mẫu Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đổi mới thêm lần nữa nhưng dẫu sao cũng chỉ là “Bình mới, rượu cũ”; hay hình ảnh một Việt Nam, ngôi sao không tỏa sáng vào buổi sớm; hoặc Việt Nam là tổng hợp sự hòa trộn có nơi nhân loại trong đó có tất cả các hình mẫu bên trên. Đó là Việt Namvới một bản thiết kế góp nhặt rườm rà, lòe loẹt sắc màu, sự không rõ nét đến từng chi tiết - Một vị trưởng giả học đòi sang nhưng nào đâu đã là trưởng giả, nào đâu đã thật giàu…
Việt Nam như một gã bần nông đang cố lột xác để trở nên giàu. Dù vậy, những năm tháng đói nghèo, kham khổ, thất học đã ăn sâu vào tâm thức gã bần nông. Hắn thật sự có tính bủn xỉn do thói quen tằng tiện thời đói nghèo, hắn có tính lượm lặt những món đồ thừa thải vương vãi trên lối đi có lẽ do hắn đã trải qua một thời gian dài còng lưng mót nhặt những hạt lúa rơi trên cánh đồng sau mùa gặt. Sự thiếu hiểu biết xa xưa đã khiến khả năng tư duy, nhận thức của gã bần nông ngày nay bị trói vào không ít thói hư, tật xấu, sự hẹp hòi, ích kỷ, bảo thủ, cố chấp, gia trưởng, chuyên quyền,...
Một sự tự mãn về năng lực, trình độ, khả năng tư duy, nhận thức đã được khắc sâu vào trong tiềm thức. Bởi do với tầm nhìn hẹp kém, giới hạn tri thức hiểu biết hắn chỉ thấy những điều hắn được, hắn hơn,… sau ngần ấy năm vật lộn “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bán mạng sống cho lòng tự hào đầy vơi”. Giờ đây hắn nhận thấy hắn được của ăn, của để, của ném qua cửa sổ,… vậy là hắn nghĩ “Ta đã giàu có. Nhưng giàu có là chưa đủ, giàu thời phải sang, phải sống hưởng thụ sự vinh hoa, phú quý, sành sỏi, lõi đời,…”.
Đáng tiếc, do sự nông nổi, đam mê, thực dụng, hưởng thụ,… gã bần nông chỉ nhận thức được những cái hắn đã được, đang được mà hắn không hề nhận diện những điều mà hắn đã mất, đang mất và sẽ mất. Hắn không hề ý thức được rằng “Để có được của ăn, của để ở ngày hôm nay thì dân tộc hắn, đồng bào hắn đã đổ ra vô số máu xương, công sức, tinh thần,… và tình cảm, sự đoàn kết, niềm tin yêu,…”.
Do không nhận thức rõ và trân quý những gì đã “mất” để “được” gã bần nông đã quyết định làm trưởng giả, hắn quyết tâm học làm sang để chối bỏ hay che giấu một quá khứ nghèo hèn, lam lũ, rách nát, ngu dốt, mông muội,… xa xưa.
Vì quá xem trọng cái được có thể gã bần nông học làm trưởng giả nửa mùa sẽ mất tất cả. Bởi do không nhận thức rõ trong cái được luôn tồn tại cái mất và sự chuyên chính độc tài, tầm nhìn cạn cợt việc học làm sang đã hao tồn rất nhiều tiền của dân tộc.
Đã có một sự chủ quan nơi tư duy, nhận thức nên gã bần nông bỏ ngoài tai những lời cảnh tỉnh của mọi người. Thậm chí hắn sẽ trừng phạt những người cố ý nói ra những điều mà hắn không muốn nghe, những lời góp ý chân thành, khẩn thiết, vì biết yêu người…
Và… nếu gã bần nông muốn ra dáng trưởng giả vẫn giữ nguyên cách hành xử chuyên quyền, bảo thủ, độc tài,… thì e rằng người dân, đồng bào hắn sẽ không ủng hộ hắn nữa. Bởi vì dân tộc hắn đang cảm thấy sự mất mát không dễ gì bù đắp ở tương lai. Công sức, tinh thần, tình cảm,… của con người không phải là “món đáng bỏ đi” để mua về hai tiếng “Trưởng giả” cùng sự đổ nát, hoang phế,...
Cái mất mát không dễ bù đắp khi gã bần nông lầm lạc định hướng xây dựng tương lai chính là sự mất đoàn kết dân tộc, sự thiếu vắng tình người trong cộng đồng xã hội,…
Tại sao dân tộc, người dân, bè bạn của gã bần nông nhận thức ra mối nguy đổ nát xã hội còn gã bần nông thì không hề hay biết?
Có thể hắn không hề nhận thức được mối nguy tiềm tàng đó. Hoặc có thể hắn có hay, có biết nhưng sự ích kỷ, thực dụng, lòng tham,… khiến hắn lờ đi hoặc che đậy, khỏa lấp,… Vì hắn nghĩ đó là chuyện của thiên hạ, của người đời. Nhiệm kỳ quyền lực của hắn có giới hạn và đây chính là thời điểm chính muồi để hắn sống cho hắn, cho gia đình, dòng tộc. Đây là thời khắc hắn được, thời điểm hắn thụ hưởng vinh hoa, phú quý, giàu sang, danh vọng, quyền lực,…
Việc học cùng “Chết là hết” giúp hắn có được cách tư duy, nhận thức ngắn nhất để giàu có, quyền quý, hắn đắm chìm trong lòng tham, sự thực dụng, tính ích kỷ,…
Còn việc mất. Hắn dường như chưa bao giờ mất. Đó là nhận thức của hắn ở thời điểm hiện tại.
Máu xương, công sức, tâm huyết,… để tạo dựng ra Việt Namngày nay. Đó là gia tài để lại của ông cha. Có một ít máu thịt ông cha,… hắn nhưng lại có rất nhiều xương máu, tâm huyết của đồng bào. Dường như hắn đã không còn nhớ rõ, trân quý sự hy sinh của dân tộc. Hắn vẫn thường khơi gợi những giá trị thiêng liêng. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề giúp hắn trân quý giá trị của hiện tại. Đó chỉ là những bài học dạy đời dùng cho người, còn hắn là trường hợp ngoại lệ. Với hắn có lẽ điều đó đã là sự thừa thải, không còn giá trị. Gã bần nông rõ biết đó đã là quá khứ. Hắn đã đủ hiểu biết để lấy giá trị của quá khứ, tô hồng, sơn phết quá khứ nhằm vào việc nuôi sống, gìn giữ địa vị, quyền lực ở hiện tại.
Sự thực dụng và giá trị của việc học giúp hắn tường tận “Giá trị của quá khứ chỉ đến thế”.
Còn công sức, tâm huyết, mồ hôi,… ngày nay bỏ ra xây dựng hiện tại và tương lai của dân tộc, người dân. Đó là những thứ đồng bào hắn bỏ ra, họ mất chứ hắn dường như không mất nhiều tâm huyết. Chỉ cần một vài lời nói suông, một vài đường lối, định hướng chung chung,… Nếu làm được thì tốt, không làm được cũng chẳng sao vì những lời nói, những gợi ý chung chung thường có giá trị vô thưởng, vô phạt. Nếu có lỡ lời, hoặc đặt ra mục tiêu định hướng không phù hợp, sai lầm thì thời gian chóng qua, sẽ không còn ai nhớ đến. Nếu tạo ra sai lầm nghiêm trọng thì hắn đã hạ cánh an toàn. Việc sửa sai là vấn đề của người ở lại - Người dân và những kẻ ngồi kế nhiệm; hắn đã ra ngoài cuộc chơi.
Thật không công bằng!
Thế nào là công bằng?
Xã hội vật chất này đã bao giờ thật có công bằng? Đã từng chăng?
Công bằng vốn mang giá trị cục bộ và mang bản chất ấu trĩ đã từ lâu xa.
Có bao giờ nhân loại đã có chung cùng sự hiểu biết khách quan, tổng thể, đúng mực chưa?
Chưa bao giờ. Vì lẽ đó sự công bằng có trong tư duy, nhận thức ở mỗi người, mỗi loài. Loài khỉ vượn khác, loài người khác,… Trong bạn khác, trong tôi khác, trong chúng ta cũng sai khác,…
Một con khỉ già hái được quả ngô mà con người đã vun trồng bên triền núi ăn ngon lành. Con khỉ cảm nhận sự công bằng của tự nhiên. Bất chợt con khỉ đầu đàn chồm đến giành lấy quả ngô ăn ngấu nghiến và tự mãn “Đây mới thật sự là công bằng của tự nhiên”. Con khỉ già nua dường như cảm nhận được điều đó và an phận. Rồi “đoàng” một cái con khỉ đầu đàn bị bắn chết mà trên tay vẫn còn cầm quả ngô đang ăn dang dở. Loài người tiến đến nhặt xác con khỉ đầu đàn về làm thịt và bảo rằng “Đây là cái giá phải trả cho thằng ăn trộm. Đây là sản phẩm của sự công bằng”. Có lẽ do quen lối hành xử “Chân lý nằm trong tay kẻ mạnh” nên loài người quên bẵng việc chính loài người là một kẻ ăn cắp gian xảo nhất của tự nhiên. Và … loài người đã lờ đi hay không biết rằng đàn khỉ ngoài kia bị mất khỉ đầu đàn đang kêu la chí chóe “Triền núi này là đất tự nhiên, của núi rừng nào phải của riêng loài người hay của một giống loài nào đó được thừa kế lại. Tại sao loài người tự dưng đến cướp lấy, ngang nhiên thừa nhận của con người rồi giết hại khỉ chúa, tàn sát muôn loài? Trời ơi! Công bằng ở nơi đâu?”.
Thế đấy! Công bằng chưa bao giờ thật sự khách quan, đúng mực cho tất cả.
Và … ngày nay những người lao động ra sức chuyên cần. Họ mất công sức, trí lực, mồ hôi,… để chuyển đổi thành giá trị thặng dư của cải, tiền bạc, hàng hóa,… nuôi sống gia đình. Sự vất vả của người dân chỉ có người lao động mới rõ biết. Các thành phần, tầng lớp xã hội khác ít khi hay gần như không thể cảm nhận được sự cơ cực, lao nhọc của người công nhân, nông dân. Do không rõ biết nên đâu dễ cảm thông, chia sẻ.
Sự ích kỷ, thực dụng, lòng tham và sự chuyên biệt đang trói con người vào những bức tường, những giới hạn để yêu thương, san sẻ cùng nhau. Dẫu cùng một khoảng trời, chung thở bầu không khí nhưng mỗi mỗi đều kiến tạo cho riêng mình một góc trời riêng ích kỷ và bạc bẽo,…
Sự học giúp con người khôn ngoan, cơ giảo ra sức giành phần hơn, phần lợi về mình, nỗ lực tước đoạt giá trị thặng dư mà người lao động lao nhọc tạo ra. Và sự hiểu biết nửa vời khiến cho những kẻ được số đông con người coi trọng gọi là giới trí thức, học giả, chuyên gia, nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà xã hội,… không còn nhận ra đó là sự bóc lột tinh vi, thiện xảo, trắng trợn… của con người ở những người có phần hơn sự hiểu biết nửa vời.
Và… có lẽ những nhà quản lý xã hội cũng không ngờ rằng chính họ đã bóc lột đồng bào chung nguồn cội một cách trắng trợn, dã man, trơ tráo,… bằng sự hợp thức hóa tài tình, một việc làm “Danh chính, ngôn thuận” mà không thuận đạo, hợp lòng người, bằng sự hiểu biết chủ quan, năng lực tư duy kém cỏi,…
Đến bao giờ họ mới giật mình bừng tỉnh và tự nhủ rằng “Ta đã hành xử tệ bạc với dân tộc ta qua ngần ấy tháng năm dài, Ta đã lừa dối yêu thương, niềm tin và hy vọng của đồng bào, Ta thật đã đánh mất lòng tự trọng, giá trị con người,…”?
Do đâu mà những nhà quản lý xã hội học rộng, biết nhiều đã không còn nhận thức rõ cả thái độ, việc làm và cách hành xử đúng mực với người dân, dân tộc?
Do sự xa rời thực tế, do sự xáo rỗng của mớ kiến thức góp nhặt chủ quan, do định kiến sai lầm tích lũy lâu đời, do tính thực dụng, lòng ích kỷ đã xâm thực con người, do con người đã quên đi việc biết yêu người mà sống, do sự tách rời, chia rẽ, chuyên biệt, phân hóa bộ, lớp, ngành, của tôi, của anh, của em, của chúng ta, của dân, của đất nước,…
Giá trị thặng dư của đất nước, của dân tộc phần nhiều do người lao động tạo ra. Họ mất công sức, trí lực tạo ra sản phẩm vật chất nhưng dường như chưa bao giờ làm chủ giá trị vật chất nên họ vẫn nghèo hoàn nghèo. Còn các nhà quản lý xã hội rất ít khi trực tiếp lao động sản xuất lại gần như làm chủ hoàn toàn, làm chủ hợp pháp toàn bộ sản phẩm hàng hóa của đất nước nên khó thể cảm nhận giá trị sức lao động, sự “mất mát đánh đổi” của người lao động.
Có thể nói giá trị thặng dư nơi sản phẩm hàng hóa mà giới quản lý xã hội thu về tựa như là của “Trời cho” và họ đã điều tiết, sử dụng chúng như là một “Trò chơi”. Vì họ nghĩ rằng họ luôn là kẻ được, việc mất là chuyện của thiên hạ. Họ nhận biết họ đang giàu có và họ đã học đòi làm sang với sự xa hoa, lãng phí, tham nhũng, suy đồi, bại hoại nhân cách, phẩm giá con người,…
Cũng do sự tách rời, chia chẽ, chuyên biệt,… bộ, lớp, ngành, thành phần, tầng lớp,… mà con người ngày càng xa rời nhau, tính đoàn kết nơi xã hội con người gần như không còn nữa. Mỗi mỗi đều chỉ biết đến tích góp, bòn rút, thu gom vào túi riêng phục vụ cho lòng tham, tính thực dụng, sự ích kỷ, và an toàn cá nhân, gia đình, dòng tộc là tối thượng, trên cả.
Còn dân tộc, lòng tự trọng, tình người,… là một phạm trù triết học, một khái niệm lý tưởng, một chân lý cao xa,…
Phải chăng việc xây dựng, phát triển đất nước, tiến bộ xã hội, văn minh, thịnh vượng,… đã bị con người bỏ quên hay đánh mất bởi lòng tham, sự ích kỷ, thực dụng và toan tính thấp hèn?
Và… nhân loại nói chung hay Việt Nam nói riêng đã, đang xây dựng xã hội loài người bằng vào sự gắn kết gần như không tồn tại, chỉ là sự cố sống sót, sự sống còn để thụ hưởng, đam mê và “Chết là hết”.
Một tiến trình đổ nát hoàn toàn xã hội loài người ở một đất nước và nơi nhân loại đang thành hình, dần lộ rõ mà không có một chuyên gia, một đại biểu tri thức nhân loại,… nào lên tiếng “đánh thức” sự mê lầm của tri thức định hướng, phát triển, xây dựng xã hội con người ngày nay cùng ngày mai.
Vì sao?
Vì tri thức nhân loại không thể tường tận gốc sai, vì tầm nhìn hẹp kém, góc tư duy chủ quan, phiến diện, dính mắc, vì sự ích kỷ, thực dụng, vì mặc cảm thân phận nhỏ bé, mỏng manh, dễ vỡ, “Thấp cổ, bé miệng”,… vì “Chuyện của thiên hạ”, vì sự sống còn và chờ… đợi “Chết là hết”,… Rồi thì cũng qua.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét