Đập vỡ gương xưa tìm lấy bóng
Xếp lại tàn y để dành hơi.
Lẽ nào tôi sẽ “Xếp lại tàn y để dành hơi” hay nên chăng “Đập vỡ gương xưa tìm lấy bóng”?
Quả thật là một chọn lựa đáng lưu tâm. Đạo Phật đã mất dần giá trị gốc, từ bi tâm của Phật Thích Ca đang bị mai một, ngọn lửa chánh pháp đang tàn lụi, hắt hiu,…
Bằng vào cách lý giải của những vị học giả, những nhà nghiên cứu về đạo Phật, quan niệm của người đời và cả những thiền giả chưa thấu rõ bản tâm, việc lạm dụng giả pháp vô ngôn cùng với việc tranh hơn, luận thắng, việc rơi vào siêu hình, huyễn hoặc của những người học Phật,… đã khiến đạo Phật xa rời cuộc sống, đánh mất sự chân thật, giá trị ứng dụng thực tiễn.
Bên cạnh đó, việc tự hào vô lối, tùy tiện ở con người (nói chung) cũng đã góp phần làm nhòa nhạt giáo lý, kinh điển Phật giáo.
…
Những vấn đề trên góp phần làm lạc lối sự hiểu biết khách quan, tổng thể, đúng mực ở con người, thế giới tâm linh bị lợi dụng,…gây ra sự mất cân bằng nội tại trong mỗi con người cũng như số đông nhân loại. Xã hội trở nên rối ren, hỗn loạn,…
Tôi nên làm bờ sông, đặt thân tâm ra ngoài thế sự nhằm thảnh thơi, tự tại, an nhiên chăng? Mặc “con nước lớn, nước ròng” ngày càng chảy siết cuốn trôi loài người và muôn vật “chìm nổi” trong luân hồi tương tục chăng?
Vậy tôi giữ cái biết cho riêng mình để làm gì?
Thôi thì tôi sẽ thả cái biết xuôi dòng. Xóa bỏ niềm tự hào vô lối thường tồn tại ở con người nhằm đưa sự hiểu biết của con người đến gần hơn với sự thật.
Trần Nhân Tông là một vị Phật hoàng hay chỉ đơn giản là gã cùng tử lang thang lần tìm viên ngọc châu ma ni vô giá nơi chéo áo?
Cũng như lối tư duy ở đời thường con người vẫn luôn chất chứa những niềm tự hào ảo tưởng cho dòng tộc, đất nước ở cả lĩnh vực đạo. Thật đáng tiếc thay! Bởi lẽ điều này đã khiến sự hiểu biết con người bị mê mờ sự chân giả, hỗn độn lẽ đúng sai, được mất,…
Con người thường sống với niềm tự hào đôi khi vượt mức. Niềm tự hào vượt mức lại tạo ra hàng loạt những sai lầm gây “rối trí” những người tạo ra nó và cả nhân loại. Cụ thể là sự tự hào nơi đời đã tạo ra chủ nghĩa Mác. Rồi thì chủ nghĩa Mác “lịm tắt” ngay nơi khai sinh ra học thuyết được coi là tiến bộ của loài người. Lê nin đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa Mác và người Liên Xô tự hào khoác thêm một giả danh mới cho học thuyết Mác là chủ nghĩa Mác - Lê nin. Về sau, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã được các nước học theo đường lối xã hội chủ nghĩa (XHCN)vận dụng. Dù lòng tự tôn, tự hào dân tộc ở các nước luôn có nhưng ý thức hệ ở các nước không thể phủ định sạch trơn giá trị cội nguồn nơi học thuyết Mác - Lê nin. Vậy nên con người đã khoác thêm “bộ cánh mới” cho tư tưởng nhằm thể hiện sự cải cách, tính tự chủ dân tộc. Cụ thể là Việt Nam xây dựng đất nước theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Bắc Triều Tiên theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và thuyết chủ thể Juche của gia tộc Kim, Cu Ba theo chủ nghĩa Mác - Lê nin cùng tư tưởng anh em nhà Castro, Trung Quốc với chủ nghĩa Mác - Lê nin kết hợp với tư tưởng các nhà chính khách lãnh đạo hàng đầu nơi đất nước Trung Hoa,… Thế đấy, chủ nghĩa Mác đã tồn tại đến ngày nay bằng vào những biến thể có phần dị biệt với bản gốc. Đó là niềm tự hào, tự tôn dân tộc và đôi khi tạo ra không ít những sai lầm tệ hại, đáng tiếc, đáng xấu hổ,…
Người Việt Nam vốn có lòng tự tôn dân tộc cao tột. Vì thế nên không thể cứ nương tựa mãi vị Phật người Ấn Độ - Phật Thích Ca. Do vậy một vị Phật hoàng được dựng lên trong niềm tự hào của người Việt. Đáng tiếc thay! Đây là một niềm tự hào lạc lối kéo theo một hệ lụy làm che mờ sự hiểu biết của con người.
…
Dù có biện giải thế nào đi chăng nữa thì việc làm nông cạn này đã phạm phải một sai lầm không dễ nghĩ bàn. Tin rằng việc làm nông nổi này là do người đời mông muội cùng với những vị học giả, nhà nghiên cứu đạo Phật và cả những người học Phật không thâm nhập rốt ráo chân thật nghĩa nơi Tam Tạng kinh mà lập ra một vị Phật hoàng cho dân tộc Việt Nam .
Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa đời và đạo về vai trò của người lãnh đạo tư tưởng. Cụ thể là vai trò của người lãnh đạo tinh thần ở lĩnh vực đạo dường như tồn tại xuyên suốt, lâu dài trong tâm thức của nhân loại, lan tỏa trên diện rộng và có tính chất bền vững.
Ngược lại vai trò của vị lãnh tụ bên lĩnh vực đời thường mang tính cục bộ, nhiều đổi thay. Hơn nữa, sức ảnh hưởng của vị lãnh tụ bên đời thường chỉ ảnh hưởng đến một vài quốc gia, vài ba dân tộc,…
Tuổi thọ tư tưởng cũng như danh tiếng, tên tuổi của các vị lãnh tụ chính trị hàng đầu thế giới, ở mỗi quốc gia thường tồn tại trong thời gian rất ngắn ngủi, kém vững bền. Bởi lẽ ở lĩnh vực đời thế hệ sau sẽ kế thừa, phát huy và nhằm thể hiện sự hơn người đi trước về mặt tư tưởng thế hệ sau sẽ cố phô diễn sự ưu việt, tiến bộ vượt trội. Đây là việc làm chủ quan, nông cạn gián tiếp triệt tiêu, làm nhạt nhòa tư tưởng của thế hệ đi trước. Những học thuyết, chủ nghĩa, tư tưởng, tên tuổi của thế hệ đi trước được thế hệ sau tuyên đọc chỉ nhằm vào việc gia cố vị thế cũng như là việc giúp những kẻ kém cỏi có nơi ẩn thân vào vỏ bọc an toàn. Đó thực sự chỉ là âm vang của một thời quá khứ và chỉ có những người tự kỷ mới cảm nhận được thành quả lịch sử xa xưa. Còn với số đông con người thì đó đã là những vần thơ lạc điệu.
Những bài diễn văn hay đến lạ. Nhưng những người đọc diễn văn đọc diễn cảm như một con robot được lập trình sẵn, đọc không cần cảm nhận; Người nghe thờ ơ chẳng cần hiểu giá trị của quá khứ hào hùng của dân tộc… Rồi một tràng pháo tay, một loạt kèn trống inh tai để “dập vùi” lịch sử…
Phải chăng việc gọi tên các vị lãnh tụ Lê - nin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành,… chỉ còn là những thanh âm đè nén, gượng gạo,... nhằm vào việc lừa mị, bịp đời?
Liệu còn có mấy ai gọi tên các vị lãnh tụ trên bằng sự tôn kính, chân thành thật tâm và không vụ lợi?
Lời thật ngây ngô, cạn cợt nhưng cũng thật đắng lòng.
Có lẽ đã từ lâu rồi con người (nói chung) đã tự giới hạn tầm nhìn mà không dễ nhận diện được sự sai khác về sự trường tồn giữa những vị lãnh tụ tinh thần ở hai nẻo đạo đời.
Nếu số đông loài người nhận diện được sự thật này thì có lẽ một vài câu hỏi “Tại sao?” đã được đặt ra và vấn đề sai khác trên đã được phơi bày, lý giải… Nếu điều đó xảy ra thì có lẽ con người đã có thể tiến gần hơn sự thật về việc tồn tại của thế giới tâm linh xuyên suốt lịch sử phát triển loài người và muôn vật.
Nếu cách nghĩ, lối sống, sự hiểu biết con người có sự tổng thể, khách quan,… thì con người đã sớm nhận diện được sự tồn tại không thể tách rời giữa thế giới hiện thực và thế giới tâm linh. Nếu tri thức con người sớm nhận diện được sự thật đó thì xã hội loài người đã phát triển bền vững, ổn định, cân bằng và tốt đẹp hơn rất nhiều lần so với bối cảnh xã hội loài người ở thời điểm hiện tại.
…
- Phải chăng tư tưởng và danh tiếng các vị lãnh tụ tinh thần ở các tôn giáo có sự trường tồn hơn hẳn tên tuổi của các vị lãnh tụ chính trị trên phạm vi thế giới?
Nếu điều đó là đúng thì:
- Tại sao tư tưởng và danh tiếng các vị lãnh tụ tinh thần ở các tôn giáo lại có sức ảnh hưởng sâu rộng, bền vững hơn vai trò, giá trị của các chính khách hàng đầu thế giới cũng như ở mỗi nước?
Điều gì đã xảy ra?
- Phải chăng số đông nhân loại đều si mê, cuồng loạn về tư duy, nhận thức và cả sự hiểu biết?
- Hiện tại, với sự hiểu biết chủ quan, tầm nhận thức hạn hẹp người đời thường ca ngợi, biểu dương các vị lãnh tụ bên đời về những đóng góp to lớn cho xã hội loài người. Ngược lại, giới lãnh đạo tôn giáo đã có lúc được đại diện cho tri thức nhân loại cũng như số đông loài người cả tin mặc định là thành phần ăn bám xã hội, những kẻ vô tích sự hèn kém, bạc nhược, yếu đuối, hoang tưởng, tự kỷ,…?
- Các vị học giả, các nhà nghiên cứu tôn giáo và cả số đông loài người thường rất tự phụ sự hiểu biết, nhận thức, tư duy vượt trội hơn người. Một khi họ bị trói vào kiến chấp duy vật, khoa học thực thể cũng như việc tựa vào tầm nhìn chủ quan, hẹp kém gần như họ đã không còn nhận ra lẽ thật về sự trường tồn tư tưởng, giáo lý của các vị lãnh tụ tôn giáo cùng giá trị vô giá mà hệ thống tôn giáo mang lại cho xã hội loài người.
- Tại sao với những cống hiến hữu hình được ngợi ca vĩ đại, cao cả ở những vị lãnh tụ tư tưởng ở nẻo đời không giúp học thuyết, danh tiếng, tên tuổi họ có tính trường cửu, khả dụng hơn so với những giáo lý có tính chất sống mãi ở những vị lãnh tụ tinh thần chân chính ở nẻo đạo?
- Có thể nói giá trị hệ thống tôn giáo là cứu cánh tinh thần, là bình ổn nội tâm cho xã hội loài người, giá trị của hệ thống tôn giáo đối với nhân loại mang tính trường cửu và ngôi nhà tâm linh cho muôn loài là thật có.
Do giá trị tư tưởng ở các vị lãnh tụ nẻo đời luôn chứa đựng sự dính mắc vật chất, lòng tham, tính phục vụ bản ngã, sự cục bộ mà việc làm của giới chính khách, các nhà quản lý xã hội,… có tính hữu hạn, có tính xung đột, chống trái cùng với chu kỳ tồn tại và tàn hoại ngắn ngủi, rõ rệt. Trong khi đó giá trị tư tưởng của các vị lãnh tụ nẻo đạo thường chi phối yếu tố tinh thần nên gắn kết chặt chẽ với nội tâm, niềm mong mỏi trong lòng của nhân loại hết đời này sang đời khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Và tùy thuộc tính đúng đắn, sự chuẩn mực cùng với giá trị ứng dụng thực tiễn của giáo lý, kinh điển cũng như khả năng tổ chức, sự sáng suốt, khách quan ở lực lượng kế thừa mà việc tồn tại của mỗi hệ thống tôn giáo là trường cửu, bền vững hay hào nhoáng và suy vong…
- Phải chăng giá trị đóng góp cho nhân loại ở các vị lãnh tụ tinh thần ở nẻo đạo cho nhân loại là không hạn lượng, vượt trội hơn hẳn so với đóng góp của các nhà tư tưởng hàng đầu ở lĩnh vực đời?
Đây là câu hỏi mà mỗi người tự khách quan, đúng mực nhìn nhận, đánh giá và trả lời.
…
Vì lòng tự hào thô vụng một số người Việt Nam đã dựng lên một vị Phật hoàng và ra sức tô vẽ về vị Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nhưng vị vua Trần Nhân Tông thật chưa đủ tầm vóc của một bậc thầy giác ngộ, nguồn tư tưởng Người trình bày chưa đủ tầm vượt ra phạm vi thế giới. Ngay cả ở Việt Nam khi còn tại thế Người còn không đủ sức hợp nhất đạo Phật về thành nhất thể mà lại chia rẽ tông giáo, dựng lập thiền phái Trúc Lâm. Việc chia tông, rẽ giáo trong đạo Phật sẽ không bao giờ là việc làm của một vị giác giả hoàn toàn.
Có chăng vị Tăng bảo Trần Nhân Tông chỉ có chút ít tỏ ngộ để an lạc, thảnh thơi,… và do được người đời trọng vọng nên đã tạm gánh giữ vai trò của một vị Tổ Thiền chưa thực sự tỉnh thức ở thời mạt pháp.
Mãi về sau, nhằm “danh chính, ngôn thuận” tạo dựng lại dòng thiền mang yếu tố bản địa cùng niềm tự hào dân tộc Tăng bảo Trần Nhân Tông được người đời sau gia công cho một cái áo rực rỡ, chói lọi cùng với dòng chữ sơn son, thếp vàng “Phật hoàng”.
Một vài lý giải vụng về cụm từ Phật hoàng trên chiếc áo khoác sặc sỡ trên người Tăng bảo Trần Nhân Tông đó là:
- Nói về tài lãnh đạo, ông là người lãnh đạo tài ba.
- Nói về chính trị, ông là nhà chính trị kiệt xuất.
- Nói về nhà văn hóa, ông là nhà văn hóa lớn.
- Nói về tôn giáo, ông là nhà tôn giáo tuyệt vời.
- Ông là Tổ thứ nhất của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
…
Về sau Tăng bảo Trần Nhân Tông được gọi là Phật hoàng là nhờ vào những việc này.
(Còn tiếp)

mời La Tuấn tiếp tục làm sáng tỏ hơn
Trả lờiXóa