Kinh Chuyển Pháp Luân
(Kinh Chuyển bánh xe pháp)
Mặc dù Phật đã khôi phục lại niềm tin ở những người bạn cũ nhưng Phật rõ biết mầm mống sự hoài nghi vẫn còn dính mắc trong suy nghĩ của 5 người bạn. Thế nên khi bắt đầu thuyết giảng về con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn Phật đã nói về 2 trạng thái cực đoan sai lầm mà những người xuất gia, những người có chí hướng tìm về sự giải thoát hoàn toàn thường mắc phải. Đây là bài pháp đối trị nhằm đập tan những hoài nghi mê lầm và định kiến sai lạc tiềm tàng ở tâm trí những người bạn, Phật thuyết:
- Này các bạn! Có hai cực đoan mà người xuất gia phải tránh. Cực đoan thứ nhất là xu hướng tham đắm ngũ dục, lợi dưỡng, lợi danh, vui thú thỏa mãn bản ngã,… vì như thế là uế trược, thấp hèn, tai hại, không đúng với đời sống phạm hạnh của một người tu sĩ. Cực đoan thứ hai là sự cứng nhắc, khắc khe trong lối tu khổ hạnh, từ bỏ mọi thọ dụng, mọi nhu cầu thiết yếu của cơ thể, của đời sống thường nhật vì như thế là tạo ra sai lầm gây đau đớn, mệt mỏi xác thân, ngưng trệ sự minh mẫn, sáng suốt ở mỗi người. Điều đó cũng không đúng mực với đời sống phạm hạnh, chặn đứng con đường giải thoát hoàn toàn ở người xuất gia. Hai trạng thái cực đoan trên thật tai hại, không đúng và vô ích đối với việc tìm về sự giải thoát hoàn toàn.
Dừng lại một lúc để những người bạn chiêm nghiệm, lĩnh hội,… Phật lại nói:
- Tôi đã từ bỏ cả hai trạng thái cực đoan và dấn thân vào con đường trung đạo nhằm tìm ra sự giải thoát hoàn toàn. Sự thật về con đường trung đạo là việc tôi đã trải qua quá trình học hỏi tận tụy ở cuộc sống, ở kinh sách, tôi đã tìm đến cầu pháp ở các vị đạo sư danh tiếng, tôi đã nỗ lực hành trì tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Tôi đã từng tiếp xúc với cuộc sống, nhận biết mọi thứ, học hỏi sự hiểu biết ở tất cả các pháp thế gian cũng như áp dụng lối tu ở các pháp tu xuất thế gian khác nhau. Kết quả vẫn là sự bế tắc trong tâm thức, thật không có lối ra nơi vạn pháp ở các pháp tu xuất thế gian, tôi đã không tìm thấy được sự giải thoát hoàn toàn để thỏa mãn điểm đến rời xa khổ đau, sinh tử luân hồi, thoát ly mọi ràng buộc, dính mắc. Về sau, tôi nhận ra sự sai lầm ở cách thức tìm về sự giải thoát hoàn toàn nơi pháp tu khổ hạnh, tôi đã từ bỏ trạng thái cực đoan vô ích đó và tiến đến việc dừng lặng mọi ý thức, nhận thức, tư duy nhằm đạt đến sự an tịnh của thiền định. Tôi muốn có được sự khách quan, sáng suốt nhất để chiêm nghiệm lại lại con đường tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Kết quả là chính ngay sự rỗng lặng của tâm thức thì trí tuệ vô thượng, thậm thâm, vi diệu, không dính mắc cái tôi đã được khai mở. Với cái biết khách quan, tổng thể, xuyên suốt, toàn diện,… đó tôi đã thấu rõ tự thể cũng như bản chất vạn pháp vốn vô sinh, vô ngã, vô hữu, vô vô,… Sau đó, tôi đã quán chiếu lại tất cả vạn pháp, rõ biết chân nghĩa giác ngộ, niết bàn, trí tuệ vô thượng, sự giải thoát hoàn toàn,… Thế nên, tôi rõ biết và khẳng định lại một điều rằng “Hai trạng thái cực đoan sai lầm mà những người xuất gia thường dính mắc sẽ không mang lại sự giải thoát hoàn toàn có chăng là sự đau khổ, âu lo, bất an và ràng buộc. Muốn đạt sự giải thoát hoàn toàn thì trí tuệ, sự giác ngộ - sự hiểu biết, sự lắng lòng - thiền định và sự khách quan nhìn nhận - quán chiếu lại cái biết là những chiếc chìa khóa để khai mở. Đó là con đường Trung đạo.
Nghe đến đây Kiều Trần Như và 4 người bạn nhận biết “Đây chính là vị đạo sư sẽ dẫn đường, chỉ lối họ đạt đến sự giải thoát hoàn toàn, là con đường mà cả 5 người đã không ngừng ra sức, nỗ lực hành trì mà hoàn toàn chưa tìm thấy lối ra”. Họ rất vui mừng đồng thời quỳ xuống lạy tạ và thỉnh cầu được làm những người học trò của Phật. Phật đã tùy thuận nhận lời.
Sau khi được Phật tiếp nhận làm học trò, Kiều Trần Như thỉnh cầu Phật chỉ dẫn rõ con đường Trung đạo mà Phật đã hành trì và cách tìm ra sự giải thoát hoàn toàn. Phật đã nói:
- Này các bạn! Con đường Trung đạo là những phương pháp mà tôi đã hành trì và nhờ những phương pháp đó tôi đã đạt cái thấy, cái biết khách quan, sáng rõ và thông qua sự dừng lặng tâm tôi đã khai mở trí tuệ, đạt đến sự giác ngộ và chứng ngộ niết bàn. Con đường trung đạo bao gồm có 8 phương pháp chân chính có công dụng giúp người tu sĩ đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Những phương pháp đó tôi gọi là Bát chánh đạo. Tôi sẽ lần lượt trình bày các phương pháp đó cho các bạn rõ. Các bạn hãy an tịnh và lắng nghe.
Chú ý: Bài pháp thoại đầu tiên Phật thuyết cho 5 anh em đồng tu Kiều Trần Như nên cách diễn giải sẽ có sự sai biệt. Nguyên nhân dẫn đến sự sai khác đó chính là do các bài giảng của Phật là những bài pháp đối trị, tùy bệnh mà cho thuốc. Thế nên những lời giảng sẽ bám sát đối tượng mà trình bày, lời giảng phụ thuộc nhiều vào căn cơ, sức hiểu và mục đích mà người đối diện đang theo đuổi.
Điểm sai khác rõ nét nhất ở 5 anh em Kiều Trần Như với người đời đó là họ là những người xuất gia chân chính, họ có chí hướng “cắt ái, ly gia”, thoát ly mọi dính mắc thế gian, theo đuổi mục tiêu giải thoát hoàn toàn, rời xa sinh tử cũng như mọi khổ não nơi cuộc nhân loại.
Một vấn đề cần nói rõ thêm ở những người xuất gia chân chính thời hơn 2500 năm về trước.
Người xuất gia xưa tin nhận và một lòng tìm về sự giải thoát hoàn toàn, rời xa những ràng buộc, dính mắc nơi cuộc sống. Họ tin nhận có niết bàn, nơi chỉ tồn tại Thường Lạc Ngã Tịnh mà không có khổ não, muộn phiền, bất công, áp bức và sinh tử bức ngặt đời sống con người. Người xưa đã hệ thống rạch ròi về sự hiện diện của bát khổ - Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, Tử khổ, Cầu bất đắc khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ. Những người có chí hướng xuất trần xa xưa do trực nhận 8 sự khổ thường cột trói kiếp người và mơ hồ nhận biết sự luân hồi nên sinh tâm nhàm chán khổ não, những muốn lìa xa sinh tử họ dũng mãnh xuất gia nhằm tìm về sự giải thoát hoàn toàn.
Đây là điểm mấu chốt gắn kết chặt chẽ với lời Phật thuyết giảng nơi bộ Kinh Chuyển Pháp Luân. Lời Phật thuyết gắn liền với mục đích giải thoát hoàn toàn tối hậu ở chí hướng xuất gia nơi 5 người bạn.
Quay lại vấn đề con đường trung đạo.
Do vậy tôi sẽ diễn nghĩa Bát chánh đạo và Tứ diệu đế dựa trên đối tượng người xuất gia mà cụ thể là 5 anh em Kiều Trần Như.
Phật đã thuyết về Bát chánh đạo như sau:
- Một là chánh kiến. Chánh kiến ở người xuất gia, người tìm về sự giải thoát hoàn toàn là cái thấy khách quan, sáng rõ, đúng mực về con đường giải thoát hoàn toàn mà các bạn đang theo đuổi. Muốn có chánh kiến thì các bạn phải mở lòng ra trực nhận cũng như nhìn xuyên suốt vào vạn pháp mà không có một sự ngăn ngại hay kiến chấp, phân biệt chủ quan, cục bộ nào. Vô thường, khổ, không, vô ngã là tự tánh chân thật của vạn pháp mà người hành giả phải lĩnh hội, trực nhận và nắm bắt rõ. Chánh kiến chính là cái thấy biết sự vật, hiện tượng đúng theo thật tướng vô thường, thật thể vô ngã, thật tánh không của chúng, không chấp Thường, chấp Đoạn, không lầm theo biên kiến, tà kiến của ngoại đạo và người đời. Khi người tu sĩ có chánh kiến thì người tu sĩ sẽ dần thông hiểu Tứ Diệu Ðế, rõ biết vô ngã, vô thường, biết khổ, biết không như huyễn,… nên không tham luyến, dính mắc nhờ vậy mà không còn bị chìm đắm trong khổ não, sinh tử luân hồi,…
- Hai là chánh tư duy. Chánh tư duy ở người xuất gia chính là ý thức, nhận thức, tư duy đúng thật về sự giải thoát hoàn toàn, cách thoát ra mọi khổ não, luân hồi sinh tử. Người tu sĩ có chánh tư duy là người biết dùng trí tuệ khách quan, cái biết chân chính để tư duy, nhận biết vạn pháp, niết bàn,… và sống thật với sự giải thoát hoàn toàn. Khi người hành giả có được chánh tư duy thì vị tu sĩ đó sẽ có suy nghĩ, hành động, việc làm đúng theo chánh pháp nhằm đem đến sự an vui, hạnh phúc cho tất cả mọi người và bản thân, rời xa tham đắm lợi dưỡng, lợi danh, ngũ dục.
- Ba là chánh ngữ. Chánh ngữ ở người xuất gia là những lời nói hòa nhã, chân chính, hợp thời, lợi lạc, hữu ích cho mọi người. Người xuất gia học hỏi chánh pháp không rơi vào lạm bàn, hý luận, không tránh tụng theo thiên kiến, phiến diện, cục bộ, chủ quan… Chánh ngữ ở người xuất gia còn thể hiện ở sự hỏi đáp cởi mở nhằm vào mục đích giúp người biết đến chánh pháp cũng như việc làm sáng rõ con đường giải thoát hoàn toàn mà một người xuất gia chân chính cần thành tựu.
- Bốn là chánh nghiệp. Chánh nghiệp ở người xuất gia là những hành động, việc làm đúng mực với đời sống phạm hạnh của một người tu sĩ chân chính, đúng nghĩa. Người xuất gia có chánh nghiệp sống tùy thuận theo chánh pháp, thường trụ nơi giải thoát hoàn toàn, làm việc ích mình, lợi người, giúp người hết khổ được vui, giữ thân khẩu ý thanh tịnh. Chánh nghiệp ở người xuất gia đó chính là sự giải thoát hoàn toàn, thoát ly mọi dính mắc, ràng buộc khổ não, sinh tử.
- Năm là chánh mạng. Chánh mạng ở người xuất gia là người tu sĩ có đời sống phạm hạnh, chân chính, không tham đắm ngũ dục, không vui thú buông lung bản ngã, tánh ý. Việc giữ gìn thân mạng là cần thiết cho con đường tu học giải thoát nhưng tránh rơi vào hai trạng thái cực đoan tham đắm vượt mức và đoạn tuyệt thọ dụng vật thực một cách khắc khe, cứng nhắc sai lầm. Người xuất gia có chánh mạng là người biết nương nhờ thân xác để hành trì khai mở sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn và dùng thân mạng để phổ truyền chánh pháp,…
- Sáu là chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn ở người xuất gia là người tu sĩ cần siêng năng trao dồi, học hỏi giáo lý về con đường dẫn đến sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Khi đã thông hiểu lý thuyết thì người tu sĩ cần tiếp tục hành trì tùy thuận bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định để đạt đến sự chứng ngộ. Việc mở lòng ra vì người cũng như tiếp xúc cuộc sống, vạn pháp sẽ giúp người hành giả dễ dàng khai mở trí tuệ nhằm đạt đến sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
- Bảy là chánh niệm. Chánh niệm ở người tu sĩ là luôn giữ niệm giác ngộ giải thoát hoàn. Suy nghĩ, hành động, việc làm đều thuận theo niệm giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Người xuất gia dễ thường được người đời trọng vọng, cả nể, được cúng dường y bát, vật dùng hậu hĩnh, thừa mứa. Người tu sĩ có chánh niệm phải là người tỉnh thức, là người biết cách tránh rơi vào lợi dưỡng, lợi danh, tham đắm hão huyền,… những việc dẫn đến “đánh mất” niệm giải thoát hoàn toàn, thoái thất bồ đề tâm. Người tu sĩ có chánh niệm sẽ rõ biết kết quả của việc đánh mất chánh niệm sẽ là việc luân hồi nơi 6 nẻo ở kiếp sau. Vì lẽ đó chánh niệm được người có chí hướng tìm về sự giải thoát hoàn toàn giữ gìn miên mật, nghiêm cẩn.
- Tám là chánh định. Chánh định ở người xuất gia là luôn giữ tâm thanh tịnh, sáng suốt, dừng lặng. Từ nơi an tịnh của thiền định người hành giả quán chiếu lại những gút mắc của tư duy, nhận thức,… dựa trên cái biết khách quan, tổng thể không dính mắc cái tôi. Hành giả quán chiếu về vạn pháp, sinh tử, quy luật luân hồi, nhân quả, thập nhị nhân duyên, niết bàn,… Hành giả sẽ quán chiếu cho đến khi thông suốt thật tướng niết bàn cũng như tự tánh vạn pháp và đạt được sự giải thoát hoàn toàn ngay nơi hiện kiếp. Vậy nên chánh định xuyên suốt của người xuất gia là đích đến giải thoát hoàn toàn, người xuất gia có chánh định tinh thuần và hành trì bát chánh đạo mọi lúc, mọi nơi từ trước cho đến khi đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Khi đã chứng ngộ hoàn toàn người xuất gia sẽ thường sống nơi chánh định mà không còn sự thoái thất bồ đề tâm, việc làm tùy thuận.
Ở trên là Bát chánh đạo mà Phật đã thuyết cho những người xuất gia nhằm giúp họ có được những phương pháp thù thắng, từ bỏ những ràng buộc, dính mắc không thật đúng đã từ lâu trói chặt định kiến, tu duy của những người tu sĩ thời Phật tại thế.
Có một điều cần phải nói rõ thêm là sơ khởi bài thoại về Bát chánh đạo sẽ vắn tắt, ngắn gọn và không lột tả hết được toàn bộ lý thuyết về nội dung Bát chánh đạo. Hơn nữa, đây không phải là lời thoại 1 chiều mà là một buổi vấn đáp qua lại giữa vị thầy - Phật Thích Ca và 5 người học trò hay nói đúng hơn là cuộc trò chuyện giữa những bạn nói về cách thức để tìm về sự giải thoát hoàn toàn.
Về sau, qua nhiều lần trùng tuyên và thêm nhiều câu hỏi phát sinh nơi những người hậu học thì Bát chánh đạo dần hoàn thiện thành một hệ thống giáo lý hoàn chỉnh. Và cũng tùy đối tượng tìm đến đạo Phật mà Phật và những người học trò đạt pháp vô sinh đã diễn giải nội dung bài thoại khác nhau. Sự sai khác biểu hiện rõ nét khi thuyết riêng cho người xuất gia và tại gia.
Kết thúc bài pháp thoại Bát chánh đạo Phật đã dừng lặng một thời gian đủ lâu để 5 người bạn thọ nhận, chiêm nghiệm và lĩnh hội. Sau đó, Phật nói về Tứ diệu đế.
(Còn tiếp)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét