Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

“Khai quan, điểm nhãn” (P.3)

Phật giảng Tứ Diệu Đế

Do rõ biết 5 người bạn vì muốn lìa khổ, tìm về sự giải thoát hoàn toàn, mong cầu niết bàn nên Phật giảng giải Tứ Diệu Đế. Vậy nên Tứ diệu đế cũng được Phật thuyết nhằm giúp người xuất gia muốn lìa khổ trực nhận khổ, rõ biết khổ, phương cách thoát khổ và việc thành tựu sự thoát khổ, không còn bị khổ não bức ngặt.
Tôi sẽ tái hiện lại diễn biến cuộc hỏi đáp Pháp yếu của hơn 2500 năm về trước giữa Phật và 5 người bạn. Phật nói:
- Này các bạn! Các bạn hãy thành thật, khách quan trả lời những câu hỏi của tôi. Khi đó, các bạn sẽ tiến gần với sự thật. Các bạn hãy thật sự kiên nhẫn để chính các bạn tìm ra vấn đề không ổn mà các bạn đang mắc phải. Chỉ khi nhận diện được vấn đề thì các bạn mới có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề. Con đường giải thoát hoàn toàn ở mỗi người phải chính do mỗi người tự nhận diện và chọn lựa cách thức hành trì… Các bạn đã dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, xa lìa mọi ràng buộc thế gian, sống đời khổ hạnh và mong cầu tu học đạt được sự giải thoát hoàn toàn là vì lẽ gì?
Năm người bạn lần lượt trả lời với đại ý:
- Bạch Thế Tôn! Vì muốn rời xa sinh tử luân hồi, vì muốn thoát khỏi mọi khổ não trần thế, vì muốn tìm về niết bàn - Thường lạc ngã tịnh, vì không muốn còn bị một pháp khổ nào bức ngặt đời sống và thân tâm,… mà chúng tôi đã xuất gia sống đời phạm hạnh.
Phật nói tiếp:
- Vậy ra các bạn muốn thoát ly sinh tử mà mong cầu chứng đắc sự giải thoát hoàn toàn. Và sở dĩ các bạn muốn thoát ly sinh tử là vì muốn lìa xa mọi khổ não. Có đúng như vậy không?
Năm người bạn trả lời:
- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy. Do muốn thoát khổ, thoát luân hồi mà chúng tôi mới quyết chí tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Cả 5 người chúng tôi đều tin rằng có sự luân hồi trói chặt kiếp người và muôn loài nên chúng tôi muốn xa lìa hoàn toàn luân hồi.
Phật lại nói:
- Có phải chính vì khổ mà các bạn muốn thoát ly luân hồi sinh tử? Nếu không có khổ thì các bạn đã không lập chí thoát ly sinh tử? Tôi muốn các bạn xác nhận lại vì điều này sẽ là điểm mấu chốt giúp các bạn tìm được sự giải thoát hoàn toàn. Chỉ khi các bạn nhận diện được nguyên nhân của vấn đề và xác định đích đến rõ ràng, không lay chuyển thì các bạn mới có thể giải quyết triệt để vấn đề.
Năm người bạn đồng thời xác nhận:
- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Chúng tôi vì biết đời là khổ nên rất mong thoát khỏi luân hồi, ra sức nỗ lực hành trì để đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Phật nói:
- Các bạn vì muốn thoát khổ mà mong muốn thoát ly sinh tử. Các bạn dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, thoát ly mọi ràng buộc, dính mắc ở đời, các bạn sống đời khổ hạnh và ra sức hành trì tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Trải qua quá trình dài hành trì tu học các bạn đã có sự an lạc, tự tại,… các bạn đã thoát khổ hoàn toàn chưa, các bạn đã nếm trải trạng thái niết bàn chưa?
Năm người bạn trình bày:
- Bạch Thế Tôn! Chúng tôi đã thoát ly khỏi những khổ não, muộn phiền của cuộc đời thế tục. Chúng tôi cũng có được niềm an lạc, thảnh thơi nhưng chúng tôi vẫn chưa thoát khỏi nỗi khổ của bệnh, của già - chết. Và chúng tôi còn có cả những âu lo vì chưa chứng ngộ được sự giải thoát hoàn toàn. Lòng chúng tôi thật sự chưa an vì chưa biết cách chế ngự sinh tử, chúng tôi không có niềm tin về việc đã thoát khỏi luân hồi.
Phật nói:
- Vì muốn xa lìa khổ não thế gian các bạn từ bỏ mọi ràng buộc nơi đời thường, hạn chế cả việc tiếp nhận vật thực do e dè dính mắc nhân quả. Các bạn có được chút thanh thản nhưng rồi các bạn lại bị khổ não nơi đời sống xuất gia bức ngặt, tâm mong cầu chứng quả giải thoát đã âm thầm bức hại các bạn. Các bạn xa lìa khổ não ở đời rồi lại bị khổ não ở đời sống xuất thế bức hại. Chính điểm đến - quả giải thoát hoàn toàn mà các bạn đang mong cầu lại trở thành chướng ngại, thành phiền não cột trói sự tự tại, an lạc ở các bạn. Tại sao lại như vậy?  Đây chính là vấn đề mà các bạn phải nhận diện và tìm cách giải quyết dứt điểm vấn đề gút mắc đó.
Năm người bạn mơ hồ nhận ra vấn đề nhưng họ không thể nhận diện được rõ vấn đề và cả việc “Tại sao họ bị khổ não bức hại dù rằng đã dũng mãnh xuất gia nhằm thoát khổ?”. Họ không tìm thấy trong sự hiểu biết của họ cũng như trong kho giáo lý kinh điển ở các tôn giáo mà họ đã từng tham cứu được câu trả lời cho vấn đề mà Phật đã đặt ra. Sau cùng, 5 người bạn lên tiếng:
- Bạch Thế Tôn! Chúng tôi rất mong Thế Tôn chỉ rõ vấn đề mà chúng tôi bị dính mắc và giúp chúng tôi cách thoát ra khỏi vấn đề đã gây khổ não, âu lo,… nơi chúng tôi. Thế Tôn hãy hướng dẫn chúng tôi cách thoát khỏi luân hồi, rời xa sinh tử, đạt sự giải thoát hoàn toàn.
Phật nói:
- Có phải chính tâm nhàm chán nỗi khổ nơi đời khiến các bạn xuất ly thế gian? Có phải chính tâm mong cầu đắc quả giải thoát hoàn toàn khiến lòng các bạn bất an? Có phải chính tâm phân biệt, tâm dính mắc,… đã khiến các bạn muộn phiền, khổ não?... Chính tất cả những điều đó đã khiến các bạn đánh mất sự an lạc, thảnh thơi và dẫn đến việc các bạn phải trôi lăn trong sinh tử luân hồi.
Dừng lại một lúc, Phật tiếp tục trình bày:
- Điều gì đã tạo ra tâm phân biệt, tâm mong cầu, tâm nhàm chán, tâm đau khổ,…? Điều gì đã tạo ra sự khổ não và luân hồi?...
- Đó chính là do bản ngã của các bạn, là cái tôi đầy chấp trước mà các bạn cả nghĩ là thường tại, là còn mãi. Chính cái tôi đó đã khiến các bạn rơi vào kiến chấp Tham sân si mạn nghi và từ đó mọi khổ não cả 2 nẻo đạo đời vây kín tâm trí các bạn. Cũng chính cái tôi dính mắc sai lầm đó đã khiến các bạn mãi chìm nổi trong luân hồi sinh tử, tử rồi sinh với mạng lưới nhân duyên nghiệp quả vay trả, trả vay chằng chịt, muôn trùng.
- Muốn thoát ra mọi khổ não, sự luân hồi đạt được sự giải thoát hoàn toàn các bạn phải hành trì buông bỏ định kiến sai lầm về cái tôi thường tại đó. Đó là vấn đề mà người xuất gia muốn chứng ngộ niết bàn tịch diệt, không còn trôi lăn trong sinh tử phải hành trì chạm đến.
- Một vấn đề khác không kém phần quan trọng mà các bạn nhất thời chưa thể nhận diện đó là “Tại sao lại có cái tôi trong mỗi người nơi các bạn?”. Tôi sẽ giúp các bạn mau chóng nhận diện vấn đề nguyên nhân có sự hiện diện của một cái tôi trong mỗi con người. Đó là do vô minh, do sự hiểu biết không đúng thật về Thật tướng và thể tánh của cái tôi mà các bạn cả nghĩ về sự tồn tại thường còn của cái tôi nơi các bạn. Nhưng cái tôi đó vốn không thường còn. Thật tướng và thể tánh cái tôi vốn là như huyễn, không thật có, chẳng thật không. Cái tôi vốn vô thường, vô ngã nhưng do vọng chấp sai lầm mà các bạn cho rằng cái tôi thường tại rồi dính mắc và từ đó có khổ não, có luân hồi, có sinh tử,…
- Và … vấn đề của các bạn bây giờ là sẽ phải tự nhìn nhận, đánh giá lại vấn đề về sự tồn tại của cái tôi mê lầm, không thật đúng. Cái tôi dẫn đến mọi khổ não, luân hồi nơi các bạn. Nếu các bạn nhận thấy đó thật sự là vấn đề mà các bạn đang dính mắc thì các bạn hãy quán chiếu lại vạn pháp, cái tôi bằng Bát chánh đạo. Các bạn cần rõ biết sự thật để hành trì phá bỏ cái tôi mê lầm trở về vô ngã nhằm đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Chỉ khi gỡ bỏ vô minh và có sự hiểu biết đúng thật thì các bạn mới có thể thoát khỏi sự ràng buộc về cái tôi thường tại, rời xa điên đảo, khổ não, luân hồi. Do vậy con đường mà Như Lai đã vượt qua khổ não, luân hồi sinh tử được tôi gọi là con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
- Tóm lại, hôm nay tôi đã nói với các bạn 4 sự thật về con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Tôi gọi đó là Tứ diệu đế. Tứ diệu đế là bài pháp chứa đựng sự thật về con đường giải thoát hoàn toàn. Tứ diệu đế sẽ trình bày rõ về sự khổ, nguyên nhân gây ra sự khổ, cách thức diệt khổ và sau cùng là sự giải thoát hoàn toàn. Đây là bài pháp thậm thâm, vi diệu, khó thể nhận biết, khó thấu hiểu vượt qua mọi lý luận, tư duy chủ quan hiện tại, là bài pháp chưa từng có trước đây. Nếu các bạn cũng như một ai đó đọc hiểu, lĩnh hội, hành trì thì tự mỗi người sẽ đạt sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Đây là lời xác tín của Như Lai. Như Lai không nói lời hư dối.
Thế đấy! Qua một buổi trò chuyện thân mật và cởi mở Phật đã thuyết giảng cho những người bạn về 4 sự thật nhằm đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Và hiển nhiên là trong một buổi pháp thoại sẽ không thể nói rõ hết toàn phần Tứ diệu đế mà phải trải qua nhiều buổi hỏi đáp khách quan, cởi mở thì 5 anh em Kiều Trần Như mới có thể lĩnh hội và thấm nhuần Bát chánh đạo, Tứ diệu đế và tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn.
Sau ít hôm được Phật tận tình chỉ dẫn và cả việc hành trì kiểm chứng thì hành giả Kiều Trần Như đã là người đạt sự tỏ ngộ sự giải thoát hoàn toàn, những người bạn còn lại sau đó cũng chứng thành đạo quả. Sơ khởi họ đạt 1 trong 4 quả vị Thánh, hoàn toàn thoát khổ,… về sau họ liễu ngộ niết bàn, thật sự thoát khỏi luân hồi.
Tứ diệu đế được Phật cùng môn đệ đem ra giảng giải rất nhiều lần cho những người xuất gia và được hoàn chỉnh thành một hệ thống giáo lý thậm thâm, tinh tế, vi diệu, đúng thật.
Tuy nhiên, những người học Phật về sau do không thấu triệt Tâm Phật và chân nghĩa Tam Tạng kinh đã diễn giải Tứ diệu đế một cách máy móc, cứng nhắc, không bám sát đối tượng tham học dẫn đến giáo nghĩa Tứ diệu đế trở nên xa vời, viễn vông,… khiến người hậu học không dễ nhận biết và lĩnh hội,...
Vì chút duyên nên tôi đã trình bày lại Tứ diệu đế mà Phật Thích Ca từng thuyết giảng. Tôi sẽ diễn giải theo lối y kinh, bám sát đối tượng là người xuất gia chân chính, người tin nhận luân hồi và một lòng muốn tìm về sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Chung quy lại Tứ diệu đế đã trình bày 4 vấn đề: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
- Một là Khổ đế. Khổ đế là sự thật chỉ bày rành rõ, mạch lạc về sự khổ, là lý thuyết đúng thật về mọi khổ não, phiền muộn đã trói chặt kiếp người trong luân hồi sinh tử, quy luật nhân duyên nghiệp quả. Khổ đế gồm có bát khổ - Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, Tử khổ, Cầu bất đắc khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ. Nội dung Khổ đế là sự tổng hợp lại giáo lý, kinh điển các tôn giáo quanh lưu vực sông Hằng và cả nơi ý thức, nhận thức, tư duy có ở người xuất gia, tại gia thời Phật tại thế về sự khổ.
- Hai là Tập đế. Tập đế chứa đựng sự thật về những nguyên nhân gây ra sự khổ ở con người và chúng sinh nơi 3 cõi. Ở nội dung Tập đế Phật đã phác họa ra chuỗi thập nhị nhân duyên - Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử - những mắc xích dính mắc, ràng buộc tạo ra sự luân hồi tương tục không có điểm kết thúc nơi mỗi tâm ý sự sống. Vô minh là sự hiểu biết sai lầm, không thật đúng về Thật tướng vạn pháp, thể tánh niết bàn, sự khổ và bản ngã,… Vô minh là cội rễ dẫn đến việc chúng sinh nơi 6 đường không ý thức được điểm dừng lại, do không có ý thức dừng lại nên tâm ý sự sống không thể thoát ra chuỗi sinh tử luân hồi, không đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Chính do hiểu biết sai lầm về cái tôi thường tại - bản ngã mà chúng sinh nơi 3 cõi có sự tham ái, chấp trước, tham đắm mong cầu tái sinh, hiện hữu và vô sinh - sự giải thoát hoàn toàn. Chính do dính mắc cái tôi thường tại cùng việc mong cầu không được mà người xuất gia bị khổ não và vẫn bị việc sinh tử luân hồi trói cột. Nội dung Tập đế là kết quả sự chứng ngộ vạn pháp của Phật Thích Ca.
Ba là Diệt đế. Diệt đế là sự thật về cách thức rời xa và chấm dứt mọi khổ não cũng như vòng sinh tử luân hồi. Nội dung căn bản của Diệt đế là do rõ biết sự khổ, nguyên nhân gây ra sự khổ ở con người là bởi yếu tố dính mắc cái tôi thường tại và sự hiểu biết sai lầm. Vì vậy người xuất gia chân chính, một lòng cầu giải thoát hoàn toàn sẽ hành trì buông bỏ cái tôi thường tại mê lầm, dứt tâm phân biệt, mong cầu cũng như việc rời xa những ràng buộc tham ái, ham muốn dục vọng, chấp trước,… Muốn chứng ngộ Diệt đế người hành giả phải “đánh đổ” vô minh để có cái biết đúng thật về vạn pháp, chân tánh niết bàn. Trợ duyên cho Diệt đế đó chính là lục độ ba la mật - Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn và thiền định. Diệt đế cũng là kết quả chứng ngộ của Giác giả Thích Ca Mâu Ni.
Bốn là Đạo đế. Đạo đế là sự thật về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Người hành giả sau khi liễu ngộ Tứ diệu đế sẽ chứng ngộ Đạo đế. Trải qua quá trình hành trì sống thật với Diệt đế thì sự hiểu biết của người hành giả sẽ đạt đến sự thông suốt, sáng rõ,… tâm ý phân biệt, dính mắc,… cái tôi thường tại mê lầm đã đoạn trừ, sự vô minh không còn, dứt vọng về chân. Từ đó người hành giả không còn tâm tham luyến sinh tử, niết bàn, sự chứng ngộ pháp vô sinh,… Vị hành giả đạt được giải thoát hoàn toàn ngay nơi hiện kiếp. Về sau, vị hành giả sống an lạc, tùy thuận, không còn ràng buộc bởi quy luật luân hồi sinh tử, khổ não và cả việc chứng đắc.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét