Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Trần Nhân Tông, Phật hoàng hay chỉ là gã cùng tử đi lần tìm bóng trăng? (P.2)

Quả thật, người đời sau đã dùng không ít mỹ từ cũng như ra sức vun vén ngõ hầu hợp thức hóa vị vua Trần Nhân Tông trở thành một vị Phật hoàng cho riêng người Việt Nam. Tuy nhiên, việc làm vụng về, nông cạn trên không thể đánh tráo được sự thật. Thêm nữa, việc làm mang tính tự hào nông nổi trên sẽ che mờ sự hiểu biết của con người và ngộ nhận về đạo lý giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Vì lẽ đó tôi sẽ một phen dụng tâm phân biệt không dính mắc niềm tự hào ảo tưởng, tôi sẽ phơi bày sự thật về một vị vua Trần Nhân Tông dấn thân làm gã cùng tử từ bỏ ngai vàng, đi tìm viên ngọc châu ma ni trong chéo áo chính mình.
Dù rằng người xưa đã khắc họa lại cuộc đời của vị vua Trần Nhân Tông có nét tương đồng với xuất thân Phật Thích Ca nhưng chừng đó là chưa đủ để củng cố cho vị trí Phật hoàng nơi Tăng bảo Trần Nhân Tông.
Thông qua lược sử về cuộc đời và những cống hiến của Tăng bảo Trần Nhân Tông cho 2 nẻo đạo đời càng chứng thực được rằng Tăng bảo Trần Nhân Tông không thể là một giác giả, có chăng chỉ thể hiện Người là một vị thiền sư người Việt ở thời Trần. Do vậy người Việt không thể vì lòng tự hào mông muội, vô lối mà tùy tiện dựng lên một vị Phật hoàng, việc làm nông nổi gây rối trí người hậu học.
Tại sao lại không thể tùy tiện gọi một người đáng kính bất kỳ là Phật hoặc Phật hoàng?
Vì Phật là người giác ngộ hoàn toàn, là người có sự hiểu biết không cùng tận về con đường giải thoát hoàn toàn, là một giác giả đã liễu thoát sinh tử, rõ biết 6 đường và đủ khả năng diễn giải giúp chúng sinh nơi 3 cõi rời xa điên đảo, thoát khỏi luân hồi.
Bằng vào lối chiết tự thì Phật hoàng chỉ có thể diễn dịch là vua của các vị Phật hoặc tạm dịch lệch nghĩa gốc là vị vua đã thành Phật. Tuy nhiên, bằng vào lối giải nghĩa nào thì dựa vào hành trạng của Tăng bảo Trần Nhân Tông đều không hội đủ tiêu chuẩn cơ bản. Thế nên gọi Người là Phật hoàng là sự gượng ép, khiêng cưỡng và có phần bôi nhọ danh dự, giá trị của một vị thiền giả chân chính.
Nếu cụm từ Phật hoàng không có hàm nghĩa của một bậc thầy giác ngộ, tỉnh thức thì tôi cạn nghĩ người sử dụng cụm từ trên cần trình bày rõ ràng, rành mạch nhằm tránh những sự hiểu sai đáng tiếc. Nếu việc giải nghĩa về cụm từ Phật hoàng của người viết được diễn giải đúng mực, thể hiện rõ việc tôi đã hiểu sai, đã nông nổi lạm bàn thì tôi sẽ công khai nhận lỗi về mình.
Thông qua việc làm và những bài thi phú, kệ… của Trần Nhân Tông tôi nhận diện được Người chỉ là một thiền sư và chưa phá được vỏ bọc thiền giả.
Còn đối với đạo Phật thì Người thật sự chưa liễu nghĩa Tam Tạng kinh của vị thầy nhân loại - Phật Thích Ca. Điều này được nhận diện thông qua việc Tăng bảo Trần Nhân Tông đã bị trói vào tông phái thiền cũng như việc lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Một trong những bài phú có giá trị của Tăng bảo Trần Nhân Tông được nhiều người biết đến là bài Cư Trần Lạc Đạo. Ngay trong bài phú này đã thể hiện sự hạn chế về mức độ tỏ ngộ cùng giới hạn nhận thức đạo Phật của Tăng bảo Trần Nhân Tông và các Tông phái thiền trong nước (nói riêng) cũng như các Hệ phái thiền tông trên phạm vi thế giới (nói chung).
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khúc tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Trần Nhân Tông
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà, đừng tìm nữa
Thấy cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền
Phạm Đình Nhân dịch
Cũng dính mắc cách hành pháp lấp lững vô ngôn của phần lớn tông phái thiền trên phạm vi thế giới. Là điểm hạn chế thể hiện Tăng bảo Trần Nhân Tông đã “đóng cửa” - không tiếp người khi có người muốn tham vấn Phật pháp.
Nếu chỉ dựa vào bài kệ này mà “chấm điểm” Tăng bảo Trần Nhân Tông thì chỉ e rằng tôi đã là việc làm cảm tính, chủ quan, không đúng mực. Do vậy tôi đã kết hợp với lược sử và nhận diện được Người từng hoằng pháp lợi sinh bằng vào việc khuyên người đời bỏ dùng những dâm từ, sửa chùa độ Tăng… Những việc làm hoằng pháp tựa nơi pháp hữu vi, tu phước,… Gần như không có một giáo lý hay một bài viết nào của Tăng bảo Trần Nhân Tông thể hiện rõ nét tư tưởng giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Nếu Người thật sự là một Giác giả thì với thân phận, địa vị, danh tiếng sẵn có Tăng bảo Trần Nhân Tông đã có thể làm tốt hơn việc thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp nơi đạo lý giác ngộ.
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên.
Một cuộc sống nhàn hạ, cùng một sự tùy duyên mà người học Phật sau thời Phật Thích Ca đã cô phụ từ bi tâm của vị giác giả hoàn toàn và làm chúng sinh đó không thể thấu rõ 3 cõi, 6 đường, làm mờ mịt con đường liễu thoát sinh tử luân hồi.
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Tăng bảo Trần Nhân Tông đã lĩnh hội thiền nghĩa cũng như tư tưởng vô vi của đạo Lão - Trang được du nhập từ Trung Hoa cổ. Phần lớn các thiền sư Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… đều vướng bệnh chấp này. Sống cuộc đời tiêu diêu, tự tại, thoát tục, đặt thân ngoài thế sự và quên mất con người cùng chúng sinh nơi 6 đường cần lắm một con đường thoát khổ cũng như ước muốn xa rời luân hồi sinh tử.
Lẽ ra họ phải quán chiếu lại việc người đời có cần đến họ không?
Nếu người đời cần đến họ thì họ rất nên tận lực nhằm phần nào báo đền ơn trọng của vị thấy đáng kính Phật Thích Ca, người đã dày công “Khai quan, điểm nhãn” mở mắt cho họ. Việc tận lực vì người sẽ giúp họ thâm nhập chân nghĩa Niết bàn, thành tựu viên mãn pháp thân Phật. Khi việc làm đã xong, họ tùy thuận ném luôn quả vị Phật thì việc giải thoát hoàn toàn với họ sẽ rất nhàn hạ, dễ dàng.
Nếu đã gieo duyên và rõ biết việc chẳng hợp thời thì 49 năm ngó vách, không màng thế sự không hẳn là việc đã muộn màng và cũng không mang lại cho họ lắm điều khổ tâm. Thêm nữa, nếu còn có thể tận lực thì hãy ra sức hoàn mãn việc cần làm. Khi lòng đã trải ra muôn dặm, ngàn duyên thì tùy thuận cuốn tấm thân máu thịt, ném vào hư không, mặc tình thế nhân đảo điên móng cầu, tìm dấu. Lúc bấy giờ, tùy duyên cỡi hạc, không chống trái “con nước lớn ròng” nơi 3 cõi, sống buông xả, tự tại, thảnh thơi. Thánh quả A la hán không cầu mà được, liễu nghĩa Tam Tạng kinh, Niết bàn như bóng theo hình, sinh tử luân hồi, nhân quả, nghiệp báo với họ lúc bấy giờ như dấu chim bay, tăm cá lội,…
Của báu trong nhà, đừng tìm nữa.
Hay thật! Mượn điển tích xưa một câu nói của Phật Thích Ca “Chúng sinh giai hữu Phật tính”.
Ai, chúng sinh nào trong 3 cõi, 6 đường cũng đều có Phật tánh nhưng liệu đã có mấy ai nhận diện và sống được với Phật tánh?
Chỉ biết, tin rằng tự thân có của báu nhưng chưa tìm, tìm chưa thấy thì liệu có an tâm, bình thản với cuộc thịnh suy, được mất và sinh tử vô thường?
Nếu chỉ ngộ trên lý mà không thật sống, không nếm trải thì chỉ e rằng dư vị trên lý không đủ để hành nhân, học giả an lạc, tự tại đến cuối đời cũng như bình thản đối diện với thần chết. Dù vậy, nếu ngộ được lý và tập sống với chánh pháp thì học nhân cũng đã có một cuộc đời tốt đẹp, hạnh phúc, yên vui.
Thấy cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Tăng bảo Trần Nhân Tông đã mở am tranh, lều cỏ bày biện thiền môn nhưng lại treo tấm bảng môn qui “Miễn bàn” thì người tham vấn chỉ có thể nhìn mà không thể no bụng được. Thật khiến người tham học có mắt mà như mù, có miệng mà như câm, có tai mà như điếc,…
Lẽ nào, Tăng bảo Trần Nhân Tông đã quên một câu kệ có trong nhà thiền:
Chớ bảo vô tâm là đạo
Vô tâm còn cách một lớp rào.
Tăng bảo Trần Nhân Tông cũng như rất nhiều thiền sư từ sau thời Lục tổ Huệ Năng đều rơi vào bệnh chấp pháp “Tâm truyền tâm”, “vô ngôn”, sống ở hiện tại, chú trọng hình thức vô vi của đạo Lão - Trang, trói đời mình vào đạo,…
Một câu nói “Thấy cảnh vô tâm” liệu người ở đời và trong đạo từ cổ chí kim có mấy ai có thể lĩnh hội rốt ráo và đúng mực tùy thuận làm theo?
Thế nên hiểu, rõ biết và sống thật là những cung bậc rất khác nhau. Nói được, hiểu được không hẳn đã làm được.
Đối với con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn thì hiểu biết, lĩnh hội là chưa đủ hành nhân phải trải nghiệm, phải thật sống thì mới có thể “miễn nhiễm” đau khổ, phiền não, liễu ngộ pháp vô sinh bất sinh, bất diệt.
Vậy nên Tăng bảo Trần Nhân Tông đã vội luận “Thấy cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” thì thật sự chưa liễu nghĩa đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Bởi lẽ người đến tham vấn, học hỏi không phải ai cũng nhận biết có của báu trong nhà và cũng không hẳn là tất cả đều đạt đến cột mốc vô tâm.
Một lời vô ngôn đoạn đạo là sai lầm thường thấy ở rất nhiều vị thiền sư danh tiếng.
Dẫu rằng đây chỉ là một bài thi phú thả lòng của Tăng bảo Trần Nhân Tông nhưng đại ý bài phú đã ít nhiều bộc lộ tư tưởng của một vị thiền sư trói vào pháp vô ngôn.
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét