Cần nói rõ thêm về sai lầm nơi pháp vô ngôn thường thấy ở những vị thiền sư trong và ngoài nước.
Đó là việc người học Phật tìm đến tham vấn không hẳn chỉ vì vấn thiền mà đến. Người học Phật lần tìm đến những vị thầy danh tiếng những mong học hỏi pháp yếu, đường lối tu học,… nhưng lại gặp phải bức tường rào kiên cố “vô ngôn” mà các vị thiền sư dựng lên thì…
Phải chăng chướng ngại “vô ngôn” sẽ phí hoài tâm huyết tham cứu, học hỏi pháp Phật nơi vị học nhân?
Người học Phật tìm đến thiền sư tham vấn hoàn toàn có thể vì muốn rõ nghĩa “Phật là gì? Tại sao phải học theo Phật? Tại sao phải bỏ tham sân si mạn nghi? Tại sao có tham sân si mạn nghi? Giác ngộ là sao? Giải thoát hoàn toàn là gì? Thế nào là luân hồi? Nghĩa và quy luật của nhân quả? Có các cõi giới vô hình không? Làm sao để hết vô minh?....”...
Những câu hỏi xác tín cũng như những điều chưa rõ về đạo lý của Phật pháp. Đáng tiếc là các thiền sư đã “đóng cửa” thì còn gì để tham học.
Pháp vô ngôn cũng chính là 1 trong rất nhiều lý do khiến số đông học giả, nhà nghiên cứu Phật học và người đời vô trí bí lối, rơi vào kiến chấp “Thiền sư, hành giả, người xuất gia,… là những kẻ ăn bám xã hội, kẻ vô tích sự, những người ăn không, ngồi rồi,…”.
Tại sao?
Tại vì họ phản kháng pháp vô ngôn mà các thiền sư thường ưa dùng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, học giả trên đã phạm một sai lầm cục bộ, chủ quan, phiến diện. Vì lẽ nếu các thiền sư, hành giả thật sự vô ngôn thì làm sao xã hội loài người có thể biết đến cụm từ “Thiền sư”, “hành giả” và thiền ngữ của họ sao có thể được truyền thừa, lưu giữ nơi chốn tòng lâm và đời thường. Khi rơi vào kiến chấp con người dễ thường xa rời, không tiếp xúc được sự thật.
…
Thật ra các vị học giả, những nhà nghiên cứu Phật học, người đời muốn thiền sư, hành giả nói rõ hơn về pháp hành, về việc xúc chạm thế giới vô hình, về cõi giới tâm linh nhằm giúp họ có thể xúc chạm, sờ nắn, cầm nắm được…
Nhưng lòng họ đầy tràn những kiến chấp khoa học thực thể, duy vật biện chứng chủ quan thì làm sao họ có thể khách quan lắng nghe, nắm bắt và lĩnh hội?
Hơn nữa, với các thiền sư, hành giả trói vào pháp thiền thì họ cũng không hoàn toàn rõ biết về sự vận hành của quy luật luân hồi sinh tử, các cõi giới vô hình cũng như không liễu nghĩa rốt ráo pháp vô sinh,…
Tại sao?
Tại vì họ - những thiền sư, hành giả, học nhận - tất cả cũng chỉ là những người học Phật, họ chưa hoàn toàn giác ngộ nên ít nhiều cũng dính mắc bệnh chấp Pháp môn Thiền thù thắng, vô thượng vi diệu. Họ có một giả pháp hữu hiệu vô ngôn nhằm đoạn dứt tâm tưởng của người tham học. Đồng thời, đây cũng là giải pháp tuyệt diệu có tác dụng che giấu sự vô minh, gốc khuất nơi sự hiểu biết về vạn pháp và con đường giải thoát hoàn toàn ở các vị thiền sinh, hành giả.
Pháp vô ngôn vốn dĩ là một pháp đối trị tâm tưởng thù thắng nhưng do việc lạm dùng ở các hành nhân mà pháp vô ngôn bị đánh mất giá trị.
Lẽ ra, các thiền sư và hành giả đời sau phải lĩnh hội pháp vô ngôn rồi mới tùy thuận vận dụng thì thiền tông đã không đến nỗi “nồi da, xáo thịt”, “rồng rắn khó phân”…
Lẽ ra, các vị thiền sư phải nói rõ dụng tâm dùng pháp cũng như việc tùy căn cơ người cầu pháp mà tận lực tiếp người. Do không “lăn xả” hoằng pháp, không viên mãn Pháp quả mà Thiền tông mấy phen nghiêng ngã, suy vong cùng với hệ lụy chia Tông, rẽ giáo.
Người học Phật đời sau, sa di, tỳ kheo,… cũng như Tăng bảo Trần Nhân Tông biết đến “Đói ăn, khát uống, mệt thì đi nghỉ”, “Tâm bình thường là đạo”, cách mời trà của Thiền sư Triệu Châu, ngón tay của Thiền sư Câu Chi,… nhưng đâu thể lĩnh hội huyền nghĩa ẩn sau những pháp phương tiện mà các vị chân sư xưa từng tùy thuận.
Thử hỏi “Tâm bình thường là đạo”, vậy tâm nào là tâm không bình thường? Liệu những giả pháp hiển bày tâm có nơi giáo lý, kinh điển đã được mấy người học Phật đời sau sáng rõ?
“Đói ăn, khát uống, mệt thì đi nghỉ” - Nếu con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn nhằm thoát khổ, vượt khỏi sinh tử luân hồi chỉ có đến thế thì việc học Phật, tu thân, hành thiền, học hỏi pháp yếu,… cần gì phải tham vấn, hành trì?
…
Thế nên, nếu không thật hiểu Tam Tạng kinh cùng một lời vô ngôn thì giáo lý Phật Thích Ca có lẽ đã thất truyền từ vài ngàn năm về trước.
Có một điều rất thật là những nhà nghiên cứu, học giả Phật học, người học Phật và cả những hành nhân, thiền sư ngày nay thường vướng vào rất nhiều kiến chấp nông cạn, non kém, cả tin,…
Một khi có dịp chạm đến đạo Phật thì họ chỉ dùng một bàn tay chạm đến còn mắt của họ thì đang rong ruổi chạy theo cảnh hoặc nhắm nghiền mắt lại. Đây là những việc làm thô thiển, nông nổi,… Việc làm kém khách quan đó cơ hồ… tựa như là việc làm của những gã mù sờ voi. Do vậy khi thực hiện thao tác một chạm đến đạo Phật họ sẽ ra sức tưởng tượng, suy diễn bằng trí não với nhiều định kiến, chấp trước. Người chạm phải thân voi thì cả nghĩ và hô vang “To lớn quá, vĩ đại quá, thật không thể hạn lượng, thật không dễ nghĩ bàn”. Và người nắm được đuôi voi nghe vậy thì tranh cãi “Ông nằm mơ nói mộng. Cũng bình thường thôi mà”...
Người “nắm” đạo Phật ở chóp đuôi thì cứ ngỡ là biết cả nên lời họ nói không hẳn đã sai. Kẻ “chạm” đạo Phật ở đoạn giữa cảm nhận sự kỳ vĩ mà tán thán thì đâu hẳn đã không đúng.
Tuy nhiên, nếu họ mở mắt ra nhìn vào con voi thì có lẽ hình ảnh con voi đã rõ ràng, dễ nhận biết hơn. Lẽ ra họ nên làm thế hơn là cứ mãi vẩn vơ, suy diễn “đuổi hình, bắt bóng”. Khi nhận diện được con voi - đạo Phật rồi thì việc cần làm tiếp theo mới là dừng lặng tâm vọng cuồng để trực nhận giá trị bên trong của đạo Phật chứ không chỉ tựa nơi khối thịt khổng lồ - Tam Tạng kinh mà mắt thịt nhìn thấy được. Đó là sự thoát khỏi luân hồi sinh tử, chân nghĩa vô thường,…
…
Lẽ ra khi tìm đến đạo Phật họ phải mở lòng ra khách quan tham học giáo lý Tam Tạng kinh, nắm rõ yếu chỉ cả Thiền, Mật, Tịnh, Tông,… nhằm tìm ra pháp hành tương hợp mà chọn lựa việc tùy thuận hành trì hoặc đưa ra lời nhận định sáng suốt, khách quan, đúng thật, có giá trị và có hiểu biết hơn.
Hơn nữa, người tìm đến đạo Phật lẽ ra phải xác định rõ mục đích của chính mình nhằm vào điều gì? Là nghiên cứu, tham khảo hay là việc tìm cách thoát ra những khổ não hoặc đích đến là sự giải thoát hoàn toàn tột cùng?
Chỉ khi xác định rõ điểm đến thì người tham học mới có sự chọn lựa đúng đắn và hợp lý.
Nếu mở lòng ra nhận diện các hệ phái, tông chỉ, pháp môn,… có ở tổ hợp hệ thống đạo Phật thì có lẽ họ đã ít nhiều sáng rõ một vài vấn đề có tính chung nhất. Điển hình như:
- Người học Phật theo Mật tông thì tìm cách chạm đến nẻo vô hình để tin rằng thế giới tâm linh là có thật. Hành trì chú thuật, ấn quyết, mạn đà la,… sẽ giúp họ gần về hơn với cõi Phật. Họ chỉ chú trọng giáo lý Mật tông, ít tham khảo kinh sách của Hiển giáo nên thường có thiên kiến dị biệt. Vì lẽ đó họ không dễ gì liễu nghĩa Tam Tạng kinh, khó tựu thành Giác giả.
- Người tu theo Tịnh độ tông thì chỉ quanh quẩn với kinh Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, kinh A di đà, kinh Địa tạng, kinh Vu lan,… là những bộ kinh điển đại thừa được diễn giải liễu nghĩa và cả bất liễu nghĩa,… Việc hành trì, đọc tụng máy móc, cứng nhắc đến nỗi không thể mở mang được trí tuệ bát nhã. Càng hành trì, càng xa rời thực tế, bí lối và viễn vông. Chẳng mấy chốc pháp hành rơi vào lối tu của ngoại đạo, cầu Phật A di đà thi triển quyền năng tiếp dẫn Tây Phương vì người học Phật đi không nổi đến cánh cửa Niết bàn.
Lối học Phật này nào có khác gì pháp tu của Ki to giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Ấn Độ giáo,…?
Sống bằng niềm tin, hy vọng được Đức Chúa Trời, Thánh Ala, Đấng quyền năng chân chủ,… đón về và việc hợp thể.
- Người tu Thiền tông thì cứ mãi mê với “Tâm truyền tâm”, vô ngôn, lìa văn tự,…Người tu thiền tông tự giới hạn sự hiểu biết gây ra chướng ngại cho việc khai mở trí tuệ bát nhã - sự hiểu biết tổng thể, khách quan, đúng thật. Vì vậy để trở nên là một vị Giác giả hoàn toàn khó càng thêm khó. Giải thoát sinh tử bỗng chốc trở nên là một gánh nặng nơi tâm tưởng của hành nhân. Giải thoát không thấy chỉ thấy cột trói nhiều hơn.
…
Sa môn Trần Nhân Tông bởi do xuất thân bất phàm cùng việc đạt chút ít tỏ ngộ nơi pháp Thiền, an lạc, nhàn hạ nếm trải thiền vị mà Thiền phái Trúc Lâm đã ra đời.
Tương tự như vậy, có không ít hành giả trải qua một thời gian học Phật, ngồi thiền đã tự ý khai tông, lập giáo. Do có chút ít công phu “tự tu, tự chứng”, vọng tưởng đạt đạo, dưới mắt không người tự cho pháp môn cá nhân thù thắng, vô thượng. Thế là kể từ sau đời Lục tổ Huệ Năng, Tổ sư thiền ra đời như “sao sa, lá rụng”.
Ai cũng đúng cả dẫn đến tranh cãi, công kích lẫn nhau không ngừng?
Giương cao bảng hiệu thù thắng ngõ hầu gồm thâu danh tiếng, môn đệ, lợi dưỡng,… Việc báo đền ơn Phật không rõ chỉ thấy cảnh làm thân Phật chảy máu.
Ai cũng đúng cả sao lại không hòa vào nhau mà cứ mãi chia Tông, rẽ giáo? Vậy ai đã sai?
Điểm hạn chế dễ nhận thấy ở các Tông phái Thiền đó là việc lìa văn tự, rời đời thường, đại chúng và Tam Tạng kinh. Mỗi chi phái Thiền tông cục bộ thường có tầm nhìn hạn hẹp, thiên kiến, phiến diện, chủ quan chỉ chú trọng giáo lý và pháp hành của vị Thiền Tổ. Đây là yếu tố cột trói không phải là yếu tố khai mở. Do vậy nên học nhân dễ bị rơi vào chấp pháp, chấp Tông chỉ.
Lẽ ra việc tham học kinh điển ở người học Phật cần được khách quan, tùy hỷ. Sau khi, tham học phần nhiều Tam Tạng kinh mà vẫn không “sáng trí” thì các vị thầy ra sức “khai quang, điểm nhãn” giúp người học nhân dừng lặng cái thấy nghe hay biết góp nhặt bên ngoài, tiến vào thiền định. Cho đến khi “minh tâm, kiến tánh”, hoát nhiên đại ngộ, tự biết đã vượt qua lưới mộng sinh tử luân hồi.
…
Các pháp vốn bình đẳng chỉ do các vị Thiền Tổ đời sau và học nhân vô trí tự sinh tâm phân biệt, rồi vẽ vời bày trò “Pháp môn cao tột, thù thắng, vô đối”.
Mặt khác, các Tông phái thiền vì không rõ các cõi giới vô hình nên chặn đứng sự hiểu biết của học nhân cũng như người đời bằng pháp vô ngôn, bằng sống tỉnh thức ở hiện tại,… Những việc làm vụng vô hình chung phá bỏ yếu tố huyền nơi đạo Phật - sự tồn tại của thế giới tâm linh vô hình. Do vậy giá trị giải thoát khỏi luân hồi sinh tử ở đạo Phật cũng bị “khóa cửa” và chánh pháp Phật Thích Ca theo đó cũng mất dần giá trị gốc.
Tóm lại, những người học Phật có ở các hệ phái nơi đạo Phật người chấp Mật, người ôm Hiển, kẻ chấp Đoạn, người vọng Thường,… mà trải qua hơn 2500 năm không có lấy một người Giác giả nào ra đời nơi nẻo đạo.
Thêm nữa, việc rạch ròi đời đạo khiến người học Phật trong các Tự viện, Thiền môn,… càng khó liễu nghĩa Tam Tạng kinh. Không thật sự tiếp xúc với sự khổ, sống trong cảnh thường lạc thì đâu dễ có chí hướng xuất trần, vượt thoát luân hồi.
Lẽ ra, người học Phật ở các Tông phái phải tham cứu kinh điển Tam Tạng để nhận biết vạn pháp, sự khổ, sự vô thường, lý duyên sinh, thập nhị nhân duyên,… ở kinh sách được dịch giải bởi các danh sư, học giả,... Về sau quán chiếu lại tính đúng sai bằng trí tuệ khách quan, tổng thể, không dính mắc bản ngã. Khi rõ biết chánh pháp thì hãy sống thật với chánh pháp. Về sau tùy duyên cứu khổ, độ sinh, nâng cao ngọn đuốc chánh pháp.
Do tâm ý phân biệt chủ quan người nẻo đạo đã bị bức tường ngăn cách với nẻo đời làm chướng ngại sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Do vậy họ không thể liễu ngộ kinh điển Tam Tạng để trở nên là một vị Giác giả.
Ngược lại, người nẻo đời cũng vì bức tường hơn người nơi tri thức, khoa học, duy vật biện chứng chủ quan và vì “Ta biết, ta hiểu, ta hơn, ta được,…” mà chẳng rõ được giá trị của hệ thống tôn giáo. Do vội tin nhận vào giới duy vật, thành phần khoa học - đại diện tri thức nhân loại đã khỏa lấp, che đậy, ra sức triệt tiêu huyền học, siêu hình, bí thuật,… dù rằng họ không có đủ cơ sở khẳng định tính đúng mực ở việc họ làm.
Và rồi một số lượng không nhỏ loài người tự phụ thông minh đã cực đoan, nông nổi, ngu muội bài xích, triệt tiêu hệ thống tôn giáo cũng như Phật giáo. Đây là một việc làm hủy hoại con người, hủy hoại sự sống trên hành tinh xanh.
Do kiến chấp Thường Đoạn - Chết là hết mà các vị học giả, nhà nghiên cứu Phật học và người đời gần như không thể nhận diện được giá trị của Tam Tạng kinh cùng con đường giải thoát hoàn toàn (nếu họ nghe nói hoặc tình cờ nhận biết) của vị Giác giả vĩ đại Phật Thích Ca. Họ cả nghĩ đó chỉ là món đồ chơi gạt lừa đứa trẻ đang khóc.
Thế đấy! Làm sao giới nghiên cứu Phật học, học giả,… có thể chạm đến sự thật có nơi Tam Tạng kinh với ngần ấy kiến thức góp nhặt, chấp vá được kế thừa một cách chủ quan, cục bộ, máy móc và sai lầm?
Dường như họ không từng chạm đến con voi, hoặc nếu có chạm đến thì cũng chỉ là chạm bằng một bàn tay còn đôi mắt bận nhìn ngắm cảnh và bàn tay còn lại đang bận mân mê vú mẹ. Sau đó, là một chuỗi những nhận định chủ quan, hẹp kém, phiến diện, mơ hồ,…
Vua Trần Nhân Tông là Phật hoàng. Nghe hay đấy! Duyệt!
Thế là một vị Phật hoàng người Việt đã ra đời. Còn với tôi thì Trần Nhân Tông chỉ là một gã cùng tử mê mãi đi tìm trăng, là người chỉ biết trăng sáng, thảnh thơi vui thú dưới trăng nhưng chưa thật sự nhận biết được giá trị của ánh sáng nơi vầng trăng đối với nhân loại.
…
Có lẽ đã đến lúc các nhà khoa học, các vị học giả, các nhà nghiên cứu xã hội, giới chính khách nên để mắt đến câu hỏi:
- Tại sao Phật Thích Ca, Chúa Jesu, Thánh Ala,… các nhà lãnh tụ tinh thần nẻo đạo lại có thể sống lâu xa trong lòng nhân loại? Tư tưởng của họ vì lẽ gì mà tồn tại gần như xuyên suốt chiều dài lịch sử loài người?
- Tại sao giá trị việc làm của giới lãnh tụ nơi nẻo đời lại hạn hẹp, có thời gian tồn tại ngắn ngủi và danh tiếng hành trạng của các vị lãnh tụ nẻo đời lại mau chóng “chìm” sâu vào quá khứ, vào quên lãng nơi sự hiểu biết của con người (Dù rằng có một lực lượng kế thừa với thói quen sống nương nhờ vào danh tiếng của người đã chết luôn tuyên đọc, khơi gợi sự vĩ đại không cùng của những vị lãnh tụ nẻo đời)?
- Tại sao con người phải chết? Chết là hết hay chết là còn? Nếu chết là còn thì Ta sẽ về đâu?...
…
Những vị học giả, các nhà nghiên cứu Phật học chủ quan một chạm nên chăng xét lại sự hiểu biết, tầm nhận thức và khả năng tư duy của hệ thống tri thức đương thời?
Phải chăng những nhận định dựa trên sự cục bộ, nông cạn,… cùng tên tuổi của chính giới học giả, các nhà nghiên cứu xã hội - tôn giáo nửa vời cũng rất ngắn ngủi, lạc lỏng so với cái biết tổng thể của nhân loại?
Vì lẽ đó các nhà nghiên cứu Phật học, các vị học giả,… đừng cả tin và cạn nghĩ về sự luôn đúng nơi cái biết của chính mình. Muốn nắm bắt sâu sát một vấn đề bất kỳ thì sự khách quan, tổng thể, toàn diện, đúng mực tìm hiểu là điều rất cần thiết.
Đối với vấn đề Phật học cũng vậy những kiến chấp chủ quan cần phải gỡ bỏ khỏi sự hiểu biết cá nhân. Muốn rõ biết đạo Phật không phải chỉ có thể “Cởi ngựa xem hoa” mà tường tận. Thật không thể một chạm mà biết được cả con voi. Khách quan tìm đọc Tam Tạng kinh với nhiều thể loại kinh sách, ở nhiều Tông phái khác nhau, sau khi cảm nhận đủ thì dừng lặng lại chiêm nghiệm lại những điều đã biết, đã học cả 2 nẻo đạo đời.
Nếu khách quan, đúng mực thì một học giả tập làm hành nhân sẽ rõ biết chân thật nghĩa ẩn tàng nơi đạo Phật - Sự tồn tại hữu hình của thế giới tâm linh vô hình và con đường vượt thoát luân hồi sinh tử. Bỏ luôn cả cái biết mới góp nhặt được thì vị học giả mới tạm được gọi là một học nhân chân chính.
.jpg)
La Tuấn đã có cách nhìn mới để chiêm nghiệm lại đúng sai bài viết rất hay ... mọi cái từ gốc mà Phật Thích Ca đã chỉ nhưng người đời cứ theo cách hiểu của mình mà thù thắng phân chia nhiều hệ phái thành ra rối tung cả. Thks!
Trả lờiXóa@Bang Ngo: chỉ khi con người tự mình giác ngộ, nếu cứ mãi mê chấp vào tà kiến thì lần hồi chánh pháp của Phật Thích ca sẽ không còn tại thế nữa. BangNgo cứ xem những việc mà những người tự xưng là Phật tử làm thì biết họ mê tín, mù quáng đến mức độ nào, cụ thể như việc rải đầy tiền lẻ trong đền chùa, hối lộ thần linh mà lại hối lộ bằng tiền lẻ nữa chứ haha, không hiểu họ nghĩ gì, còn hàng trăm việc khác mà có kể cả ngày cũng chẳng hết. Thật là đau lòng thay cho Phật.
Trả lờiXóa