Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

“Khai quan, điểm nhãn” (P.4)

Khi liễu nghĩa Đạo đế thì người hành giả sẽ có thể tự chủ trong việc lựa chọn lối đi ở đời sau, có 2 lối đi sáng rõ để người hành giả lựa chọn.
- Một là vị hành giả phát tâm bồ tát, hành bồ tát đạo vì chúng sinh nơi 3 cõi mà bước đi trong lưới luân hồi, rộng truyền chánh pháp. Dù rằng người hành giả vẫn trong lưới luân hồi nhưng không còn bị tham đắm, trôi lăn trong sinh tử, không bị khổ não, phiền muộn bức ngặt.
- Hai là vị hành giả sau khi chứng ngộ Đạo đế sẽ sống tùy thuận nơi hiện đời, tùy duyên phổ truyền chánh pháp, sau khi hết kiếp mạng chung thì rời khỏi luân hồi, chính thức thể nhập niết bàn tịch diệt.
Nội dung Tập đế, Diệt đế, Đạo đế là hệ thống lý thuyết chưa từng có trước đó. Thông qua Khổ - Tập - Diệt - Đạo, Phật Thích Ca đã chỉ ra những khiếm khuyết chung có ở giáo lý kinh điển các tôn giáo quanh lưu vực sông Hằng thời xa xưa và vô hình chung hiển bày cả sự giới hạn tri thức của nhân loại ngày nay.
Sau khi giảng thuyết xong bài pháp thoại Phật xác tín lại lần nữa, Phật nói:
- Này các bạn! Nếu Như Lai đã chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ diệu đế, Bát chánh đạo một cách sáng rõ thì Như Lai sẽ không xác nhận trước các bạn về sự chứng ngộ vô thượng, chánh đẳng, chánh giác. Đó là cái biết thật đúng và hoàn toàn sáng rõ. Khi đã chứng ngộ sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn Như Lai đã hoàn toàn giải thoát và đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai, Như Lai sẽ dừng lại, không trôi lăn trong luân hồi sinh tử nữa.
Quả thật là Bát chánh đạo, Tứ diệu đế dù rất xác thực, đáng tin, gần gũi nhưng cũng vô cùng uyên áo, thâm sâu, thật khó thấu hiểu, khó nhận thức, vượt lên mọi lý luận, tư duy chủ quan, hẹp hòi,… Vì vậy chỉ cần có chút ít kiến chấp vụng vặt, phiến diện,… thì con người, người hành giả, nhà nghiên cứu Phật học,… sẽ không thể chạm đến tận cùng sự thật.
Cũng vì lẽ đó mà trải qua hơn 2500 năm kể từ khi Phật nhập diệt đã không có một Giác giả nào đủ tầm liễu nghĩa Tam Tạng kinh và tâm Phật. Thậm chí là cho đến hiện tại với nguồn tri thức không ngừng được cập nhật, nâng cấp, bổ sung mà sự hiểu biết của con người đối với Bát chánh đạo, Tứ diệu đế vẫn không thể thâm nhập, nhận thức và thấu hiểu.
Đứng trước sự hiểu biết khách quan, tổng thể, sáng rõ, đúng mực ở người bạn lớn của nhân loại - Phật Thích Ca, đại diện cho tri thức nhân loại đương thời bỗng trở nên nhỏ bé, lạc lõng và hẹp kém với đủ đầy sự tự ti, hoang mang, đố kỵ, hoài nghi, ngờ vực.
Lời Phật thuyết thường là những bài pháp đối trị nên tùy cơ và khế lý. Trong khi đó việc dịch giải kinh từ lâu đã rơi vào nhị nguyên, không tùy thời,… cứng nhắc đến thô ráp. Có thể nói việc dịch giải kinh đã bị trói vào tình trạng
“Y kinh diễn nghĩa Tam thế Phật oan
Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”
… người dịch giải vừa bị trói y kinh, vừa bị cột ly kinh nên đã không thể diễn giảng kinh điển đúng theo sự khế hợp với bối cảnh thực tế quá khứ cũng như sự tùy thời ở hiện tại. Do vậy kinh điển ngày càng xa rời đời thật, đánh mất tính khả dụng, tính ưu việt.
Cũng lại như vậy. Ở bộ Kinh Chuyển Pháp Luân việc diễn giải nghĩa Bát chánh đạo, Tứ diệu đế bị dính mắc ngữ văn, Tự Điển Phật học,… sự chủ quan, cục bộ, giới hạn tỏ ngộ của người dịch giải dẫn đến lời kinh mang tính chung chung, thiếu sự rõ ràng, minh bạch…
Do vậy, tôi cạn nghĩ việc dịch giải kinh điển, sách xưa cần phải xét đến đối tượng, bối cảnh xã hội, mặt bằng tri thức và mục đích dịch nghĩa y kinh điển gốc hay giải nghĩa cho người đương thời.
Thông thường, việc diễn giải kinh điển thường nhằm vào tính khả dụng nên yếu tố người đương thời là yếu tố tiên quyết. Thế nên nếu diễn giải cho người đương thời thì phải diễn nghĩa cho rành mạch, rõ ràng. Người xuất gia diễn nghĩa khác, người tại gia diễn nghĩa khác.
Tại sao có sự diễn giải kinh sách sai khác giữa người xuất gia và người tại gia?
Vì mục đích và đời sống của 2 đối tượng này gần như khác nhau hoàn toàn. Người xuất gia là người đã tự nguyện, chấp nhận sống đời phạm hạnh với những giới luật nhằm cách ly, dứt trừ tham sân si mạn nghi, rời xa ngũ dục, làm Tăng bảo hộ trì Tam bảo, sống theo bi nguyện cao cả của Phật Thích Ca vì chúng sinh nơi 3 cõi gìn giữ cũng như rộng truyền chánh pháp và đích đến của họ là sự giải thoát hoàn toàn.
Người tại gia sống đời thế tục với những ràng buộc gia đình, xã hội, phải lao động để mưu sinh. Người tại gia chưa ý thức hoặc chưa nhàm chán sinh tử luân hồi, ở nơi bể khổ mà vẫn cảm nhận sự vui thú, đem lòng ưa thích, không muốn lìa xa. Thế nên đích đến của người tại gia không là sự giải thoát hoàn toàn.
Đứng trước một đối tượng còn lắm mong cầu, đam mê bản ngã với tham sân si mạn nghi, với việc thỏa mãn vui thú dục vọng, tiền tài, danh lợi,… chưa từng có ý niệm rời xa những luyến ái kiếp người, tạm xem người tại gia chưa hề có ý thức lìa xa sinh tử luân hồi như là những người còn đang mê ngủ với men rượu, men tình, món ngon, vật lạ… mà người thuyết giảng vắn tắt, ngắn gọi diễn nghĩa về sự giải thoát hoàn toàn thì đâu thể xem là việc làm hợp thời, tùy thuận. Đó chỉ là những lời hư vọng, đảo điên chứ nào phải y kinh.
Vậy nên Bát chánh đạo diễn giải cho người tại gia sẽ khác đi. Điển hình là nội dung bát chánh đạo với đối tượng tại gia chỉ nên xoay quanh thập thiện, làm lành, lánh dữ, cách tiết chế lòng tham, ngăn ngừa sự mê tín, cách sống bao dung, biết vì mọi người, từ bi, bác ái,… cách sống biết buông xả, cách giảm thiểu muộn phiền, khổ não cho bản thân, gia đình và xã hội... Yếu tố giải thoát hoàn toàn chỉ có thể nói thoáng qua mà không cần nhấn mạnh vì việc làm trên như thể là việc dọa dẫm, đè nén, bức bách người… Việc làm không đúng mực đó sẽ gây phản tác dụng, tạo sự nhàm chán cũng như lập hàng rào giới hạn đạo đời. Ngoài ra, việc làm nông nổi trên giống như là trò makerting rẻ tiền mà những người kế thừa giáo lý của Phật Thích Ca thật không cần đến.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là nếu đã nói đến sự giải thoát hoàn toàn cho người tại gia thì phải nói đến tận cùng sự khách quan, rõ ràng, mạch lạc, đúng thật. Việc làm nhằm giúp người tại gia hoàn toàn ý thức, nhận thức được cốt lõi của vấn đề. Vấn đề chỉ là sự lựa chọn chứ không là sự trói buộc. Thật không thể chỉ tựa nơi Bát chánh đạo, Tứ diệu đế,… chưa trình bày rốt ráo, liễu nghĩa mà ra sức bức bách, trói cột tư tưởng con người.
Tuy nhiên, việc làm này cần tùy thuận, tránh rơi vào lạm bàn, hý luận và cần xác định được mục đích của người đối thoại một cách rõ ràng, đúng mực.
Chánh pháp vốn vô giá, ngàn lượng vàng chẳng thể mua nhưng chỉ quý đối với người cần đến, hoàn toàn mất giá trị trong tay người mê cuồng, tự phụ, kẻ đắm tham, sân hận, hoài nghi,…
Vậy nên, Bát chánh đạo, Tứ diệu đế cần phải diễn giải đúng mực, tùy thuận theo từng đối tượng. Thật không thể diễn giải một cách rập khuôn, cứng nhắc và dựa hoàn toàn vào quyển Tự Điển Phật Học cũng như dựa vào sự chủ quan, không chứng ngộ hoàn toàn của người giảng sư. Đó chỉ là những tài liệu tham khảo của người học Phật, người hành giả chân chính. Và những bài viết của tôi cũng không là ngoại lệ.
Tại sao không thể dựa vào cách diễn giải “sát sườn” của bộ Tự Điển Phật Học?
Vì bộ Tự Điển Phật Học không do Phật Thích Ca cùng những người học Phật đã tỏ ngộ hoàn toàn viết ra. Bộ Tự Điển Phật Học ra đời do tâm ý phân biệt, chủ quan của con người tăng trưởng. Phần lớn công đóng góp cho sự ra đời của bộ Tự Điển Phật Học là những học giả, những nhà nghiên cứu về đạo Phật. Có thể nói là không có bóng dáng của một vị hành giả nào góp phần làm nên bộ Tự Điển Phật Học.
Vậy nên giá trị của bộ Tự Điển Phật Học tự có giới hạn, bộ Tự Điển sẽ không thể nói đúng về giá trị, ngữ nghĩa của những từ mà Phật đã vận dụng, đó chỉ có thể là sự gần đúng và chung nhất. Nhưng điều đó sẽ đồng nghĩa với việc cách xa muôn trùng với sự thật.
Nếu những vị học giả, những nhà nghiên cứu Phật học không tự làm hành giả hoặc mở lòng ra thì có lẽ dù trải qua thêm muôn ức chu kỳ sinh trụ dị diệt của hành tinh xanh quyển Tự Điển Phật Học cũng chỉ là phần xác vô hồn của đạo Phật, nó gần như vô nghĩa. Và trái tim, từ bi tâm của Phật Thích Ca theo đó sẽ nhạt nhòa, biến dạng.
Việc dịch giải Tam Tạng kinh ở các vị học giả, hành giả dựa vào bộ Tự Điển Phật Học một cách xơ cứng, thô ráp dẫn đến Tam Tạng kinh không lột tả được giá trị cốt lõi về sự tồn tại một con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn, không ít quyển kinh sách không liễu nghĩa trở thành những phế vật đáng vất đi. Dù vậy người học Phật vẫn cứng nhắc tán thán, đọc tụng vì đơn giản đó là kinh Phật.
Tôi đã trình bày Bát chánh đạo, Tứ diệu đế theo khuynh hướng y kinh giành cho người xuất gia. Dường như đã không có sự hợp cơ, khế lý vì những người đọc blog sẽ không có các bậc Tăng nhân, tu sĩ, giới xuất gia.
Tôi đã nhầm lẫn chăng?
Thật ra vấn đề tôi trình bày xuyên suốt blog không là Bát chánh đạo mà tôi đang nói về sự lựa chọn ở mỗi người. Thế nên tôi đã tùy cơ trình bày Bát chánh đạo, Tứ diệu đế. Bát chánh đạo ở người xuất gia sẽ đặt ra những giới hạn mà người tu sĩ phải nghiêm cẩn thực hiện vì đó là chọn lựa của họ. Họ đã tự nguyện chọn lựa làm người giữ gìn và trao truyền chánh pháp, làm thầy của Trời - Người.
Vậy nên dựa vào Bát chánh đạo người đời sẽ dễ dàng nhận diện vị Tăng bảo có hành trì đúng chánh pháp hay không? Là Chân sư hay Tà tăng?...
Khi rõ biết sự chân ngụy nơi Tăng bảo, giáo lý thì chánh pháp sẽ tự thường còn và khả dụng.
Với người tại gia thì Bát chánh đạo sẽ tùy thuận, ít buộc ràng và hợp đời hơn. Dù vậy với chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh ngữ,… sẽ giúp người đời có cuộc sống lợi ích, thuận hòa, bác ái,… tránh rơi vào sự cực đoan của tham sân si mạn nghi, tà kiến,…

(Còn tiếp)

1 nhận xét:

  1. Mừng Xuân Giáp Ngọ


    Kìa xuân nắng toả ban mai
    Chồi non nảy lộc, lá vàng tự rơi.
    Chúng sinh vốn tại vô thường
    Phân tranh tối sáng thành ra nghi hoài…

    Cuộc đời nước chảy mây trôi
    Chúc cho đại chúng tâm bình an vui
    Tháng ngày tinh tấn thường minh
    Đón xuân Di Lặc một mai Niết Bàn.

    Chúc La Tuấn an vui thong dong trên đường vô thường

    Trả lờiXóa