Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2020
Đạo Đức Kinh Thậm Giải
Quy Luật, Nguyên Tắc, Bản Chất Của Đạo Và Cuộc Sống (P.2)
28
Tri kì hùng, thủ kì thư, vi thiên hạ khê; Vi thiên hạ khê, thường đức bất li, phục qui ư anh nhi.
Tri kì bạch, thủ kì hắc, vi thiên hạ thức; Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.
Tri kì vinh, thủ kì nhục, vi thiên hạ cốc; Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục qui ư phác. Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế thập bất cát.
Người đạt đạo rõ biết là mạnh mẽ, quả cảm,… nhưng xử lý mọi việc lại thể hiện sự mềm mại, uyển chuyển; Giống như là làm khe nước trong trời đất; Như là khe nước cho nên có được cái đức huyền diệu, không rời xa đức thì sẽ trở về hồn nhiên như là đứa trẻ thơ.
Người đạt đạo rõ biết thế nào là tốt, là đẹp nhưng lại kham nhẫn nhận lấy phần xấu xa, thấp hèn, yếu kém, chê bỏ,… của người đời làm nguyên tắc sống trong thiên hạ; Sống theo nguyên tắc đó thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ không sai lạc, không bị đứt gãy mà trở về với gốc, trở về bản thể đạo.
Người đạt đạo rõ biết vinh quang nhưng lại sống như là nhẫn nhục, chấp nhận làm chỗ thấp trũng của thiên hạ; Làm chỗ thấp trũng của thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ tự đầy đủ, mà trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo, tùy thuận mặc người xẻ ra mà làm thành đồ dùng; Người đạt đạo giữ sự thuần phác mà làm chủ mọi vật, không cố làm mà thành toàn được mọi việc. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
2
Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác dĩ; Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.
Cố hữu vô tương sinh; Nan dị tương thành; Trường đoản tương hình; Cao hạ tương khuynh; Âm thanh tương hòa; Tiền hậu tương tùy.
Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự; Hành bất ngôn chi giáo. Vạn vật tác yên nhi bất từ, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, công thành nhi bất cư. Phù duy bất cư, thị dĩ bất khứ.
Người đời cho rằng cái đẹp là đẹp, từ đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; Người đời cũng phân biệt điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm cái ác.
Sở dĩ hình thành nên những quan niệm trên là vì có và không sinh ra nhau; Dễ và khó tạo thành nhau; Ngắn và dài làm rõ nhau; Cao và thấp dựa vào nhau; Sự im lặng và tiếng động hòa lẫn nhau; Trước và sau theo nhau.
Cho nên người đạt đạo xử sự mọi việc tùy thuận như thể là không chú ý, không quan tâm, không làm gì - vô vi; Nhưng lại dùng hành động, việc làm, dùng thuật không nói mà dạy dỗ, chỉ bảo mọi người. Người đạt đạo mặc nhiên, tùy thuận giúp mọi vật, mọi việc,… thành tựu mà không làm chủ, khéo thành toàn mọi việc mà không chiếm làm của mình, làm mà không tự cho rằng hay khéo, việc thành rồi thì không còn quan tâm, để mắt đến. Vì không quan tâm đến những việc đã hoàn thành, không để mắt đến những chuyện đã rồi nên mới có thời gian làm nhiều việc khác, nhờ vậy nên sự nghiệp mới còn mãi. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
8
Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh; Xử chúng nhân chi sở ố. Cố cơ ư đạo.
Cư thiện địa; Tâm thiện uyên; Dữ thiện nhân; Ngôn thiện tín; Chính thiện trị; Sự thiện năng; Động thiện thời.
Phù duy bất tranh, cố vô vưu.
Người hiền lành thì như là nước. Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào; Ở chỗ mọi người không thích. Ở chỗ thấp trũng cho nên gần với đạo.
Người có tâm hiền lành thì khéo lựa chỗ khiêm nhường; Lòng thì khéo giữ cho thâm trầm; Cư xử với người thì khéo dùng lòng nhân, yêu thương người; Nói thì khéo giữ lời; Giúp người bằng cả tấm lòng ngay thẳng; Làm việc cần mẫn, có hiệu quả; Có cách sống tùy thuận, hợp thời cuộc.
Chỉ vì không tranh với ai, nên không tạo ra lầm lỗi.
42
(42-2)Nhân chi sở ố, duy “cô”, “quả”, “bất cốc”. Nhi vương công dĩ vi xưng. Cố, vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn.
Những điều mà người đời không thích, ghét bỏ như là “côi cút”, “ít đức”, “không tốt”, vậy mà các bậc minh quân xưa lại dùng những ngôn từ đó làm danh xưng. Bởi vì các bậc vua hiền rõ biết quy luật của đạo: Mọi việc có khi giảm bớt mà hóa ra lại tăng thêm, ngược lại khi thêm vào mà thành ra bớt đi.
39
(39-2)Cố quí dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ. Thị dĩ hầu vương tự vị cô, quả, bất cốc. Thử phi dĩ tiện vi bản dả? Phi dư? Cố trí dự vô dự, bất dục lục lục như ngọc, lạc lạc như thạch.
Không chỉ vậy, sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền. Vì những nguyên do trên mà những bậc vua chúa xưa mới khiêm hạ xưng là cô - côi cút, quả - ít đức, bất cốc - không tốt (Dùng danh xưng đều là những lời khiêm tốn, giản dị). Có phải vì những ông vua sáng suốt thuận theo đạo đã rõ biết lấy hèn làm gốc ? Điều này có đúng không? Do đó mà biết khiêm hạ là đức tính cao quý nhất, vì vậy người học đạo không muốn được tôn trọng, trân quý như ngọc mà chỉ muốn được xem như là sỏi đá, là gạch vụn.
70
(70-2)Thị dĩ thánh nhân bị hạt hoài ngọc.
Cho nên người sống thuận theo đạo thà ăn mặc thô tháo, đơn sơ, giản dị mà ôm ngọc quí trong lòng - tức là giữ đạo.
23
(23-2)Tín bất túc yên, hữu bất tín yên.
Người nào không có đủ sự chân thật, thành tâm,… thì sẽ không được mọi người tin tưởng, coi trọng.
38
Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức; Hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức.
Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi; Hạ đức vô vi nhi hữu dĩ vi.
Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ v.
Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi.
Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng, tắc nhương tí nhi nhưng chi.
Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả đạo chi hoa; Nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu xử kì hậu, bất cư kì bạc; Xử kì thực, bất cư kì hoa. Cố khứ bỉ thủ thử.
Người có đức thuận theo tự nhiên và không có ý cầu đức, cho nên có đức; Người kém đức không thuận theo tự nhiên, có ý cầu đức, cho nên không có đức.
Người có đức không làm - vô vi mà thật ra là không việc gì không làm, làm mà không có ý thức đang làm vì làm việc tùy thuận theo tự nhiên; Người kém đức thì thật ra không làm - vô vi mà lại tranh công do có ý nghĩ mình đã làm.
Người có lòng thương yêu giúp người thì việc giúp người xuất phát từ tấm lòng thành chứ không vì toan tính cá nhân, không nghĩ mình đã làm việc tốt; Người có lòng nghĩa hiệp thì làm việc nghĩa mà có dụng ý làm vì có sự cân phân nặng nhẹ giữa việc nên làm và việc không nên làm, để tâm đến việc tốt đã làm.
Người giữ lễ - coi trọng hình thức, nguyên tắc,… thì sống theo nguyên tắc, chú trọng thủ tục, lễ nghi,… và áp đặt, buộc người khác phải giữ lễ nghi giống như mình. Việc giữ lễ là sống theo khuôn khổ, lề lối, nguyên tắc,… đôi khi quá mức gây mất hết tình.
Thực tế là đạo mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện cho sự suy vi trung hậu, thành tín, là đầu mối của sự hỗn loạn, rối ren cho xã hội. Lễ giống như là việc dùng sự tính toán để sắp xếp, toan tính mọi việc từ trước, làm mất đi sự chất phác, tự nhiên, là biểu hiện của sự giả tạo, gượng ép; Điều đó chỉ làm rối đạo do sự bày vẽ màu mè, rườm rà, phiền phức của lễ nghi, hủ tục; Lễ nghi, hủ tục chính là nguồn gốc của sự ngu ngốc và mê muội. Cho nên người hiểu đạo chỉ giữ sự trung hậu thành tín mà không trọng lễ nghi, hình thức; Giữ đạo chất phác, tự nhiên mà không dùng đến sự hào nhoáng, hoa mĩ của lễ nghĩa. Giữ gốc, giữ đạo mà không lệ thuộc vào tục lệ, lễ nghi của người đời.
Người Đạt Đạo - Người Học Đạo
15
Cổ chi thiện vi đạo giả vi diệu huyền thông; Thâm bất khả thức. Phù duy bất khả thức, cố cưỡng vị chi dung:
Dự hề nhược đông thiệp xuyên; Do hề nhược úy tứ lân; Nghiễm hề kì nhược khách; Hoán hề nhược băng chi tương thích; Đôn hề, kì nhược phác; Khoáng hề, kì nhược cốc; Hỗn hề, kì nhược trọc.
Thục năng trọc dĩ tĩnh chi từ thanh? Thục năng an dĩ động chi từ sinh? Bảo thử đạo giả, bất dục doanh. Phù duy bất doanh, cố năng tế nhi tân thành.
Người đạt đạo xưa thời tinh tế, mầu nhiệm; Có sự hiểu biết thông đạt, sâu xa không thể nhận biết, suy lường được. Vì không thể biết được, nên phải miễn cưỡng tả họ như sau:
Họ rụt rè như người vào mùa đông lội qua suối; Họ e dè như là sợ láng giềng bốn bên; Họ nghiêm chỉnh như là một người khách; Họ tùy thuận, uyển chuyển như là nước, gặp lạnh thì đóng thành băng tuyết, gặp nóng băng tuyết tan thì nước sẽ chảy; Họ đôn hậu, dày dặn, mộc mạc,…như gỗ chưa đẽo; Họ mờ mịt như ở trong cái hang tối; Họ hỗn độn, lặng lờ,… như nước đục.
Ai có thể đang vận động, làm việc,… mà giữ tâm dừng lặng, rỗng không,…? Ai có thể đang an nhiên, tĩnh lặng mà làm được tất cả mọi việc? Người nào giữ được những khả năng trên mà không tự mãn thì sẽ là người đạt đạo. Vì người đó không tự mãn nên mới có thể học hỏi, tiến bộ không ngừng, sự hiểu biết sẽ không có giới hạn,...
77
Thiên chi đạo kì do trương cung dữ? Cao giả ức chi; Hạ giả cử chi. Hữu dư giả tổn chi; Bất túc giả bổ chi.
Thiên chi đạo tổn hữu dư nhi bổ bất túc; Nhân chi đạo tắc bất nhiên, tổn bất túc dĩ phụng hữu dư. Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ? Duy hữu đạo giả.
Thị dĩ thánh nhân vi nhi bất thị, công thành nhi bất xử. Kì bất dục hiện hiền.
Có phải người sống theo đạo có lối sống tùy thuận giống như là việc buộc dây cung vào chiếc cung? Dây cung căng cứng quá thì phải buộc cho dây thấp xuống; Dây cung mà chùn thì phải buộc cao lên. Dây cung dài quá thì phải cắt ngắn đi; Dây cung ngắn quá thì phải nối thêm vào.
Con người sống thuận theo đạo thì bớt chỗ dư, bù vào chỗ thiếu. Còn người đời thường thì không sống thuận theo tự nhiên, con người hay bớt chỗ thiếu mà cấp thêm vào chỗ dư. Vì lẽ con người có ý nghĩ “Ai là người có dư mà cung cấp cho những người thiếu thốn?”. Thế nên chỉ có người đạt đạo mới làm được như vậy.
Cho nên người đạt đạo làm mà không cậy khéo, việc thành mà không quan tâm đến, không tự biểu hiện, không chiếm làm của riêng, không làm chủ mọi việc.
55
(55-1)Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử. Độc trùng bất thích; Mãnh thú bất cứ; Quắc điểu bất bác. Cốt nhược, cân nhu nhi ác cố, vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi tôi tác; Tinh chi chí dã. Chung nhật hào nhi bất sá, hòa chi chí dã.
Tri hòa viết thường, tri thường viết minh. Ích sinh viết tường.
Người đạt đạo thì có đức dày như là con đỏ. Vì thế không bị độc trùng chích; Không bị mãnh hổ vồ; Và ác điểu sẽ không quắp. Như là đứa con trẻ nên dù xương yếu, gân mềm nhưng sức khỏe lại tốt, ổn định, chưa từng giao hợp nên tinh lực tràn đầy; Như vậy là tinh khí sung túc. Đứa trẻ suốt ngày gào hét mà giọng không khản, như vậy là khí lực cực hòa.
Người đạt đạo tự biết sống hòa đồng vì rõ biết những quy luật của đạo, biết quy luật của đạo thì gọi là sáng suốt. Người đạt đạo biết xem trọng sự sống nên gọi là người có sự hiểu biết sáng rõ.
47
Bất xuất hộ, tri thiên hạ, bất khuy dũ, kiến thiên đạo. Kì xuất di viễn, kì tri di thiểu.
Thị dĩ thánh nhân bất hành nhi tri; Bất kiến nhi danh; Bất vi nhi thành.
Người đạt đạo mặc dù không ra khỏi nhà mà biết được mọi sự trong thiên hạ. Không dòm ra ngoài cửa mà rõ biết được đạo, càng đi xa, càng cố học hỏi sự hiểu biết thì sự hiểu biết lại càng ít đi.
Cho nên người đạt đạo không đi mà biết; Không nhìn mà thấy rõ; Không làm mà thành toàn được mọi việc.
[Nguyên do người học chỉ chấp chặt sự hiểu biết, đem chỉ bày, hướng dẫn cho người khác mà không thật sống với sự hiểu biết đó; Do không thực sự lĩnh hội, thật sống nên về sau sẽ quên mất những điều đã học được.]
56
(56-1)Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri. Tắc kì đoài, bế kì môn, tỏa kì nhuệ, giải kì phân, hòa kì quang, đồng kì trần. Thị vị huyền đồng.
Người nào sống tùy thuận theo đạo thì không nói về đạo; Người nào nói về đạo thì không thật sống trong đạo. Vì lẽ người đạt đạo là người đã ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, không để lộ sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục. Như vậy người đó đã hòa đồng với vạn vật, với mọi người một cách hoàn toàn, họ sẽ không tự biểu hiện, không chứng tỏ sự hiểu biết của bản thân.
5
(5-3)Đa ngôn sác cùng, bất như thủ xung.
Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.
81
Tín ngôn bất mĩ; Mĩ ngôn bất tín. Thiện giả bất biện; Biện giả bất thiện. Tri giả bất bác; Bác giả bất tri.
Thánh nhân bất tích; Kí dĩ vi nhân kỉ dư hữu; Kí dĩ dữ nhân kỉ dũ đa. Thiên chi đạo, lợi nhi bất hại. Thánh nhân chi đạo, vi nhi bất tranh.
Người đạt đạo nói lời thành thật, không nói lời hoa mĩ, khoa trương; Vì lời nói hoa mĩ, khoa trương thì không hẳn là lời chân thành, thật tâm. Người sống hiền lành, lương thiện làm điều tốt thì không cần giải thích việc làm; Người nào giải bày, phân bua mọi việc không hẳn là người thật tốt. Người có hiểu biết sáng suốt hợp đạo thì kiến thức không cần rộng vì nắm giữ được đạo là tốt, là chuẩn rồi; Người nào tri thức rộng thì không hẳn đã sáng suốt, hiểu đạo vì tìm ngọn thì quên gốc.
Người đạt đạo sống đạm bạc, ít ham muốn đến mức vô dục, không tích trữ, gom góp; Càng giúp người mà lại càng có dư; Càng cho người mà lại càng có nhiều. Người sống thuận theo đạo chỉ có lợi, chứ không có hại; Người đạt đạo sống thuận theo đạo, làm mọi việc nhưng không tranh giành với ai cả.
5
(5-1)Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.
Trời đất không có tình người, coi vạn vật như chó rơm, như cỏ rác, không thương, không ghét; Người đạt đạo dường như cũng không có tình người, coi mọi người cũng như chó rơm, cỏ rác, không ghét thương.
79
(79-2)Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân.
Trời đất và người đạt đạo không tư vị, thân thích với bất kỳ ai, thường quý mến người có đức.
56
(56-2)Cố bất khả đắc nhi thân. Bất khả đắc nhi sơ. Bất khả đắc nhi lợi. Bất khả đắc nhi hại. Bất khả đắc nhi quí. Bất khả đắc nhi tiện. Cố vi thiên hạ quí.
Đạt tới cảnh giới đó thì người đạt đạo sẽ rõ biết không có ai là người thân thích. Không có ai là người xa lạ. Không có ai làm cho mình được lợi. Không có ai làm cho mình bị hại? Không cần người khác tôn trọng. Không quan tâm đến người nhận định mình hèn hạ, thấp kém. Vì vậy mà người đạt đạo trở nên tôn quí nhất trong thiên hạ.
49
Thánh nhân vô thường tâm; Dĩ bách tính tâm vi tâm. Thiện giả ngô thiện chi, bất thiện giả ngô diệc thiện chi, đức thiện. Tín giả ngô tín chi, bất tín giả ngô diệc tín chi, đức tín.
Thánh nhân tại thiên hạ, hấp hấp yên; Vi thiên hạ, hồn kì tâm. Bách tính giai chú kì nhĩ mục; Thánh nhân giai hài chi.
Người đạt đạo không có làm việc theo ý kiến cá nhân, ý riêng; Lấy lòng thiên hạ làm lòng mình, làm việc thuận theo ý của mọi người. Người đạt đạo tốt với người tốt, tốt với cả những người không tốt, nhờ vậy mà mọi người đều hóa ra tốt; Tin người đáng tin mà tin cả người không đáng tin, nhờ vậy mà mọi người đều trở nên đáng tin.
Người đạt đạo ở trong thiên hạ thì sống công bình, ít ham muốn; Giữ lòng mình hồn nhiên, vô tư. Dù vậy mọi người vẫn nhận biết, chú ý quan sát, lắng nghe lời nói, việc làm của người đạt đạo; Người đạt đạo rõ biết được mọi người tôn trọng nhưng vẫn giữ lòng bình thản, hồn nhiên như là đứa trẻ.
22
Khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc doanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tắc hoặc.
Thị dĩ thánh nhân bão nhất vi thiên hạ thức: Bất tự hiện cố minh; Bất tự thị cố chương; Bất tự phạt, cố hữu công; Bất tự căng cố trướng (hoặc trưởng). Phù duy bất tranh cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.
Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả, khởi hư ngôn tai! Thành toàn nhi qui chi.
Tùy thuận linh hoạt, uyển chuyển thì sẽ được bảo toàn, cong rồi thì sẽ thẳng ra, trũng rồi thì sẽ đầy, cũ nát rồi thì sẽ mới, ít rồi thì sẽ được thêm, nhiều rồi thì sẽ trở nên rối loạn.
Rõ biết như vậy người đạt đạo sẽ nắm bắt được những nguyên tắc sống trong thiên hạ: Đó là không tự biểu hiện cho nên mới sáng rõ; Không tự cho là phải cho nên mới được mọi người thừa nhận là đúng mực; Không tự kể công cho nên mới được ghi công trạng; Không tự phụ cho nên mới được mọi người chấp nhận. Người nào sống thuận theo những nguyên tắc đó thì sẽ không tranh với bất kỳ ai; Vì không tranh cho nên không ai tranh được với mình.
Người xưa nói tùy thuận thì sẽ được bảo toàn, đâu phải là lời nói sai quấy! Cho nên chân thành sống theo đạo mà giữ được đạo, thành toàn được mọi việc.
27
(27-1)Thiện hành vô triệt tích; Thiện ngôn vô hà trích; Thiện số bất dụng trù sách; Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai; Thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải.
Thị dĩ thánh nhân thường thiện cứu nhân, cố vô khí nhân; Thường thiện cứu vật, cố vô khí vật, thị vị tập minh.
Khéo đi thì không để lại dấu xe, vết chân; Khéo nói thì không có lỗi lầm; Khéo tính toán thì không cần dùng đến thẻ đếm; Khéo đóng thì không dùng đến khóa gài; Khéo khép thì sẽ không dễ mở ra; Không dùng dây cột nhưng khéo giữ thì sẽ không thoát được.
Cho nên người đạt đạo thường hay giúp người mà không ai bị bỏ xót; Thường hay giúp vật mà không vật nào bị quên bỏ. Như vậy là có tấm lòng sáng rõ, có sự hiểu biết sáng suốt.
Nguyên Tắc Dưỡng Sinh
23
(23-1)Hi ngôn tự nhiên: Cố phiêu phong bất chung triêu, sậu vũ bất chung nhật. Thục vi thử giả? Thiên địa. Thiên địa thượng bất năng cửu, nhi huống ư nhân hồ?
Cố tòng sự ư đạo giả, đồng ư đạo; Đức giả, đồng ư đức; Thất giả, đồng ư thất. Đồng ư đạo giả, đạo diệc lạc đắc chi; Đồng ư đức giả, đức diệc lạc đắc chi; Đồng ư thất giả, thất diệc lạc đắc chi.
Tự nhiên biểu hiện tùy thuận theo đạo, cụ thể: Gió lốc không xuyên suốt buổi sáng, mưa rào không kéo dài cả ngày. Ai làm nên những cái ấy? Trời đất. Trời đất còn không thể lâu dài, bền vững được, huống hồ là con người?
Cho nên theo đạo thì sẽ hòa đồng với đạo; Theo đức thì sẽ hòa đồng với đức; Theo sự mất đạo, mất đức thì sẽ hòa đồng với mất. Hòa đồng với đạo thì sẽ được hưởng niềm an lạc, thảnh thơi của đạo; Hòa đồng với đức thì sẽ có niềm an lạc, thảnh thơi của đức; Hòa đồng với mất thì niềm an lạc, thảnh thơi cũng sẽ bị mất.
52
(52-2)Tắc kì đoài, bế kì môn, chung thân bất cần; Khai kì đoài, tế kì sự, chung thân bất cứu.
Ngăn hết các lối, đóng hết các cửa thì suốt đời an ổn, không gặp hung hiểm; Ngược lại mở hết các lối, các cửa mặc tình tham đắm, hưởng thụ thì thật nguy hại, không thể cứu vãng.
[Thuật dưỡng sinh là việc đảm bảo cuộc sống bình yên, an lạc và giữ gìn sức khỏe, tuổi thọ dài lâu,… cho nên con người phải sống thuận theo đạo. Điều này đồng nghĩa với việc không để lộ sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục, giữ lòng hư tĩnh thì sẽ tốt, an ổn. Còn bằng nhiều ham muốn, tham danh, hám lợi, chạy theo dục vọng,… thì sẽ sớm chết]
50
Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập tam, tử chi đồ thập tam. Nhân chi sinh; Động chi tử địa, diệc thập tam. Phù hà cố?
Dĩ kì sinh sinh chi hậu. Cái văn thiện nhiếp sinh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ; Nhập quân bất bị binh giáp. Hủy vô sở đầu kì giác, hổ vô sở thố kì trảo; Binh vô sở dung kì nhẫn. Phù hà cố? Dĩ kì vô tử địa.
Sinh ra gọi là sống, mất đi gọi là chết. Ví như là có 13 người được sinh ra thì 13 người đó cũng sẽ chết đi. Sự thật là con người sinh ra, sống, làm việc,… sau một thời gian thì con người sẽ phải chết. Số người sinh ra chính bằng số người chết đi cũng đều là 13 người. Có phải là như vậy không?
Trong số những người được sinh ra đó, có một số người có đời sống, có tuổi thọ cao vì họ biết dưỡng sinh, biết quý trọng mạng sống. Tôi từng nghe nói người khéo dưỡng sinh thì đi đường, sẽ tránh không gặp con tê ngưu, con hổ; Ở trong quân đội thì tránh không để binh khí làm thương tổn. Vì vậy mà không bị con tê ngưu dùng sừng húc, không bị con hổ dùng móng vuốt vồ; Không bị binh khí tổn hại. Tại sao lại như vậy? Tại vì người đó khéo dưỡng sinh, không đặt mạng sống của mình vào những nơi hung hiểm, tuyệt địa.
21
(21-1)Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng.
Người nào mà có đức trọn vẹn, đầy đủ thì chính thật là người sống tùy thuận theo đạo.
10
(10-1)Tải doanh phách bão nhất, năng vô li hồ? Chuyên khí trí nhu, năng anh nhi hồ? Địch trừ huyền lãm, năng vô tì hồ?
(10-3)Thiên môn khai hạp, năng vi thư hồ? Minh bạch tứ đạt, năng vô tri hồ? Sinh nhi súc chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể. Thị vị huyền đức.
Vì vậy nên chăng người học đạo giữ cho hồn phách thuần nhất, không xa rời đạo? Nên chăng người học đạo giữ cho cái khí tụ lại, mềm mại như đứa trẻ sơ sinh? Nên chăng người học đạo gột rửa tinh thần, nội tâm cho không còn chút bợn nhơ, không còn tì vết?
Nên chăng người học đạo khai mở sự hiểu biết bằng cách giữ lòng hư tĩnh? Nên chăng người học đạo sống với sự hiểu biết sáng rõ mà không dùng đến sự hiểu biết suy lường, toan tính, cơ mưu thủ đoạn? Người học đạo sẽ tùy thuận theo đạo tạo ra, chăm sóc và thành toàn mọi vật, mọi việc. Tạo ra mà không chiếm cho mình, làm mà không cậy công, để cho vạn vật tự lớn lên mà mình không làm chủ. Như vậy người học đạo sẽ có được huyền đức - là đức cao diệu, không hạn lượng của đạo.
33
Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường.
Tri túc giả phú; Cường hành giả hữu chí. Bất thất kì sở giả cửu; Tử nhi bất vong giả thọ.
Thực tế là kẻ biết người chính là người khôn, kẻ tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được chính mình mới thật là kiên cường.
Người biết thế nào là đủ - tri túc chính thật là người giàu; Người chăm chỉ, siêng năng chính thật là người có chí. Người tùy thuận theo đạo, sống mà không mất đạo thì sự sống sẽ được lâu dài; Và cho đến khi chết mà vẫn không đánh mất đạo thì có thể nói là người đó còn sống mãi, chết mà không diệt mất.
44
Danh dữ thân thục thân? Thân dữ hóa thục đa? Đắc dữ vong thục bệnh? Thị cố thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong.
Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu.
Danh tiếng với sinh mạng, cái nào quí? Sinh mạng với của cải, cái nào quan trọng hơn? Được danh lợi mà mất sinh mạng thì cái nào hại? Cho nên ham danh quá thì phải hao tổn nhiều, chất chứa của cải nhiều thì lo nghĩ, mất mát nhiều.
Thế nên ít muốn, biết đủ, biết thế nào là đủ - tri túc thì không tủi nhục, hèn kém,… biết lúc nào nên ngừng thì không nguy hại đến thân mà sống lâu được.
60
(60-2)Dĩ đạo lị thiên hạ, kì quỷ bất thần; Phi kì quỷ bất thần, kì thần bất thương nhân; Phi kì thần bất thương nhân, thánh nhân diệc bất thương nhân. Phù lưỡng bất tương thương, cố đức giao qui yên.
Nếu người nào biết tùy thuận theo đạo mà sống ở thiên hạ thì quỷ không thể hại; Chẳng những quỷ không hại mà thần cũng không làm khó được; Chẳng những quỷ thần không hại, không gây khó được người mà cả nhà cầm quyền - vua chúa, quan binh,… - cũng không thể làm hại người sống thuận theo đạo. Cả hai lực lượng quỷ thần - vô hình và nhà cầm quyền - hữu hình đều không thể làm tổn hại người giữ đạo được. Thế nên người nào giữ đạo, giữ đức thì sẽ có cuộc sống an ổn, bình yên.
Lợi Ích Của Việc Tùy Thuận Theo Đạo
20
(20-1)Tuyệt học vô ưu.
Dứt học theo hữu vi - chất chứa, chiếm giữ,… thì không phiền muộn, lo nghĩ, suy tư, toan tính,...
48
Vi học nhật ích; Vi đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi.
Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự; Cập kì hữu sự, bất túc dĩ thủ thiên hạ.
Người học đạo nếu đua đòi, chạy theo học hỏi nắm bắt sự hiểu biết của người đời thì sự ham muốn, dục vọng và sự chiếm hữu, tư hữu gom góp ngày một tăng; Còn bằng sống tùy thuận theo đạo thì sự ham muốn, dục vọng và sự chiếm hữu, tư dục ngày một giảm thiểu. Sự ham muốn, dục vọng và sự chiếm hữu, tư dục của người tùy thuận theo đạo giảm rồi, lại giảm cho tới mức không có gì, không làm gì. Khi đó người học đạo dường như không có gì mà thật ra là có đầy đủ, không làm gì mà thật sự không gì không làm và mọi việc làm đều thuận theo tự nhiên, theo đạo.
Người học đạo muốn sống tốt ở trong thiên hạ thì phải nên làm người vô sự, không tự ý làm; Còn bằng như hữu vi, nhiều ham muốn, tham đắm thì khó thể sống trong thiên hạ, khó tồn tại lâu dài. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
Nhà cầm quyền nào muốn nắm lấy thiên hạ thì hãy nên vô sự, không cố chấp làm theo ý riêng; Còn bằng như hữu vi, tư dục, nhiều ham muốn thì khó thể nắm lấy, làm chủ thiên hạ. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
55
(55-2) Tâm sử khí viết cường. Vật tráng tắc lão, thị vị bất đạo, bất đạo tảo dĩ.
Đam mê chạy theo thọ hưởng dục vọng, để cho lòng dục sai khiến thì được gọi là tham, là cuồng. Vật nào cường tráng rồi thì sẽ già, vĩnh viễn không có việc cường tráng mãi, cường tráng mãi là trái đạo. Trái đạo tất phải diệt vong, suy kiệt.
73
(73-1)Dũng ư cảm tắc sát; Dũng vu bất cảm tắc hoạt. Thử lưỡng giả hoặc lợi, hoặc hại; Thiên chi sở ố, thục tri kì cố? Thị dĩ thánh nhân do nan chi.
Thiên chi đạo bất tranh nhi thiện thắng; Bất ngôn nhi thiện ứng; Bất triệu nhi tự lai; Thiện nhiên nhi thiện mưu.
Mạnh mẽ nhưng cạn nghĩ, thiếu thận trọng,… thành ra cuồng bạo thì sẽ sớm chết; Mạnh mẽ nhưng thận trọng, có suy nghĩ trước khi làm,… tạm gọi là kiên cường thì sẽ sống an ổn, lâu dài. Kiên cường và cuồng bạo cùng là mạnh mẽ nhưng mà kiên cường thì được lợi, còn cuồng bạo thì bị nguy hại; Ai mà biết được tại sao trời lại ghét sự cuồng bạo? Dẫu người đạt đạo cũng còn cho là khó thể biết, khó nhận ra được tường tận nguyên do.
Người sống theo đạo không tranh mà khéo thắng; Không gọi mà khéo có người hưởng ứng; Không tìm mà mọi vật tự đến; Bình thản, tùy thuận theo tự nhiên mà khéo thành toàn mọi việc.
7
Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kì bất tự sinh, cố năng trường sinh.
Thị dĩ thánh nhân hậu kì thân nhi thân tiên; Ngoại kì thân nhi thân tồn. Phi dĩ kì vô tư dả? Cố năng thành kì tư.
Trời đất tồn tại lâu bền. Sở dĩ trời đất tồn tại lâu bền được là vì trời đất không sống riêng cho mình cho nên trời đất mới tồn tại lâu dài được.
Vì vậy người đạt đạo đặt thân mình ở sau mà bản thân lại được mọi người tôn trọng hơn hết; Tự đặt thân mình ra ngoài mà được mọi người lại chú ý, biết đến. Có phải người đạt đạo không sống ích kỷ cá nhân, không sống riêng cho bản thân? Vì vậy mà người đạt đạo không tự tư, tự lợi mà thành toàn mọi việc của bản thân.
39
(39-1)Tích chi đắc nhất giả: Thiên đắc nhất dĩ thanh; Địa đắc nhất dĩ ninh; Thần đắc nhất dĩ linh; Cốc đắc nhất dĩ doanh; Vạn vật đắc nhất dĩ sinh; Hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ trinh. Kì trí chi.
Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt; Địa vô dĩ ninh tương khủng phế; Thần vô dĩ linh tương khủng yết; Cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt; Vạn vật vô dĩ sinh tương khủng diệt; Hầu vương vô dĩ quí cao tương khủng quyết.
Đây là những vật được đạo mà thành hình: Trời được đạo mà thành; Đất được đạo mà yên; Thần được đạo mà linh; Khe ngòi được đạo mà đầy; Vạn vật được đạo mà sinh sôi, phát triển; Vua chúa được đạo mà làm chủ thiên hạ. Những cái đó đều tùy thuận đạo mà được vậy.
Nhưng nếu trời mất đạo thì trời sẽ không còn; Đất mất đạo thì đất sẽ lở; Thần mất đạo thì thần sẽ tan; Khe ngòi mất đạo thì sẽ cạn; Vạn vật mất đạo thì sẽ diệt mất; Vua chúa vô đạo, không sống theo đạo thì sẽ mất ngôi.
46
Thiên hạ hữu đạo, khước tẩu mã dĩ phẩn; Thiên hạ vô đạo, nhung mã sinh ư giao.
Họa mạc đại ư bất tri túc, cữu mạc đại ư dục đắc.
Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ.
Khi thiên hạ có đạo thì các nước sẽ không gây chiến, xâm lấn, cướp hại lẫn nhau và lúc đó ngựa tốt sẽ không dùng vào chiến tranh mà dùng vào việc cày cấy; Nhưng khi thiên hạ mất đạo thì ngựa tốt sẽ được dùng vào chiến tranh và ngựa mẹ sẽ phải sinh con ở chiến trường mà không sinh con ở đồng cỏ, chuồng trại.
Dựa vào đạo mà xét lại thì họa không gì lớn bằng việc không biết thế nào là đủ, hại không gì bằng việc tham muốn cho được nhiều mà đi chiếm bên ngoài.
Cho nên biết thế nào là đủ và thỏa mãn về cái đủ đó thì mới luôn luôn đủ.
27
(27-2)Cố thiện nhân giả, bất thiện nhân chi sư; Bất thiện nhân giả, thiện nhân chi tư. Bất quí kì sư, bất ái kì tư, tuy trí đại mê. Thị vị yếu diệu.
Người tốt là thầy của người chưa tốt; Người chưa tốt là nơi để người tốt hướng dẫn, chỉ bày, tạm gọi là của dùng. Cho nên nếu không trọng thầy, không quý của dùng thì dù cho có hiểu biết cũng là lầm lẫn lớn. Đó chính thật là cốt lõi, là sự kỳ diệu của đạo.
62
Đạo giả vạn vật chi áo; Thiện nhân chi bảo; Bất thiện nhân chi sở bảo.
Mĩ ngôn khả dĩ thị tôn, mĩ hành khả dĩ gia nhân. Nhân chi bất thiện, hà khí chi hữu?
Cố lập thiên tử, trí tam công, tuy hữu củng bích, dĩ tiên tứ mã, bất như tọa tiến thử đạo.
Cổ chi sở dĩ quí thử đạo giả hà? Bất viết: Cầu dĩ đắc, hữu tội dĩ miễn da? Cố vi thiên hạ quí.
Đạo là chỗ ẩn náu của vạn vật vì đạo dung chứa vạn vật; Là vật quí của người tốt; Là chỗ dựa của người chưa tốt.
Lời nói hay có thể làm cho mình được tôn trọng, hành vi đẹp có thể làm cho mình hóa cao thượng. Nhưng người chưa tốt mà biết sống dựa vào đạo thì sao lại bỏ?
Cho nên khi lập ngôi thiên tử, đặt ngôi tam công,… dù trong buổi khai lễ có người hai tay dâng tặng ngọc bích hoặc biếu xe tứ mã,… cũng không quý bằng người nào quì xuống dâng đạo lên.
Người xưa sở dĩ quí đạo là vì đâu? Chẳng phải là vì “Nhờ đạo mà cầu cái gì được cái nấy, có tội thì được miễn nhẹ, giảm trừ?” Vì vậy mà đạo được thiên hạ quí.
Dụng của đạo
35
(35-1)Chấp đại tượng, thiên hạ vãng. Vãng nhi bất hại, an bình thái.
Người làm vua mà biết giữ đạo lớn thì thiên hạ sẽ tự đến quy thuận. Do tự quy thuận nên các nước sẽ không cướp bóc, không xâm hại lẫn nhau, nhờ vậy mà đất nước được an lạc, thái bình, thịnh trị.
32
(32-2)Vương hầu nhược năng thủ chi, vạn vật tương tự tân.
Các bậc vương hầu mà biết giữ đạo thì mọi người, mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội sẽ tự động qui phục.
37
Đạo thường vô vi nhi vô bất vi. Hầu vương nhược năng thủ chi, vạn vật tương tự hóa. Hóa nhi dục tác, ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác. Phù diệc tương vô dục. Bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự định.
Đạo thường không làm gì mà không gì không làm; Nhờ vậy mà vạn vật tự sinh trưởng, phát triển. Thế nên nhà cầm quyền hiểu đạo sẽ để cho mọi người, mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội được tự do làm việc, phát triển, xây dựng cuộc sống,... Trong quá trình để mọi việc tự chuyển hóa, vận động ,... nhằm để hạn chế, hóa giải ,… tư dục con người nảy sinh thì ông vua hiểu đạo sẽ tự biết sống tùy thuận theo đạo mà răn dạy mọi người; Hay nói cách khác là dùng bản chất mộc mạc, chất phác, vô hình của đạo mà kiềm chế, giảm thiểu sự ham muốn của con người. Khi con người không còn tư dục thì mọi việc sẽ trở nên trầm ổn, tĩnh tại; Việc này sẽ giúp thiên hạ tự ổn định, thái bình.
32
(32-3)Thiên địa tương hợp, dĩ giáng cam lộ, dân mạc chi linh nhi tự quân.
Trời đất thuận theo đạo cho nước ngọt rơi xuống, con người thuận theo đạo, không can thiệp, chi phối,… mà lượng nước mưa tự quân bình, điều hòa.
10
(10-2)Ái quốc trị dân, năng vô vi hồ?
Do vậy việc trị nước an dân bằng cách tùy thuận theo đạo, dùng phương cách vô vi thì sao?
28
Tri kì hùng, thủ kì thư, vi thiên hạ khê; Vi thiên hạ khê, thường đức bất li, phục qui ư anh nhi.
Tri kì bạch, thủ kì hắc, vi thiên hạ thức; Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.
Tri kì vinh, thủ kì nhục, vi thiên hạ cốc; Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục qui ư phác. Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế thập bất cát.
Nhà cầm quyền hiểu đạo rõ biết là có quyền lực, chế tài, sức mạnh quân sự,… nhưng xử lý mọi việc lại thể hiện nhu nhuyễn, khoan dung, độ lượng,…; Thể hiện sự thấp trũng như là khe nước trong trời đất; Giống như là khe nước cho nên có được cái đức huyền diệu; Nhà cầm quyền giữ được cái đức huyền diệu sẽ giúp người dân không rời xa đức thì người dân sẽ trở về bản chất mộc mạc, chất phác, hồn nhiên như là đứa trẻ thơ.
Nhà cầm quyền hiểu đạo rõ biết thế nào là tốt, là đẹp nhưng lại kham nhẫn nhận lấy phần xấu xa, thấp hèn, yếu kém, chê bỏ,… của người đời làm nguyên tắc sống trong thiên hạ; Sống theo nguyên tắc đó thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ không sai lạc, không bị đứt gãy; Người dân tự nhận biết cái đức vĩnh cữu mà trở về với gốc, trở về bản thể đạo.
Nhà cầm quyền hiểu đạo rõ biết vinh quang nhưng lại sống như là nhẫn nhục, chấp nhận làm chỗ thấp trũng của thiên hạ; Làm chỗ thấp trũng của thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ tự đầy đủ, vì thế mà người dân tự trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Như là gỗ chưa đẽo nên người dân tùy thuận quy phục, ủng hộ nhà cầm quyền; Nhà cầm quyền hiểu đạo giữ sự thuần phác mà làm chủ mọi vật, không cố làm mà thành toàn được mọi việc. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
2
Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác dĩ; Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.
Cố hữu vô tương sinh; Nan dị tương thành; Trường đoản tương hình; Cao hạ tương khuynh; Âm thanh tương hòa; Tiền hậu tương tùy.
Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự; Hành bất ngôn chi giáo. Vạn vật tác yên nhi bất từ, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, công thành nhi bất cư. Phù duy bất cư, thị dĩ bất khứ.
Người đời cho rằng cái đẹp là đẹp, từ đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; Người đời cũng phân biệt điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm cái ác.
Sở dĩ hình thành nên những quan niệm trên là vì có và không sinh ra nhau; Dễ và khó tạo thành nhau; Ngắn và dài làm rõ nhau; Cao và thấp dựa vào nhau; Sự im lặng và tiếng động hòa lẫn nhau; Trước và sau theo nhau.
Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo xử sự mọi việc tùy thuận như thể là không chú ý, không quan tâm, không làm gì - vô vi; Nhưng lại dùng hành động, việc làm, dùng thuật không nói mà dạy dỗ, chỉ bảo mọi người. Nhà cầm quyền hiểu đạo mặc nhiên, tùy thuận giúp mọi vật, mọi việc,… thành tựu mà không làm chủ, khéo thành toàn mọi việc mà không chiếm làm của mình, làm mà không tự cho rằng hay khéo, việc thành rồi thì không còn quan tâm, để mắt đến. Vì không quan tâm đến những việc đã hoàn thành, không để mắt đến những chuyện đã rồi nên mới có thời gian làm nhiều việc khác, nhờ vậy nên sự nghiệp mới còn mãi. (Diễn theo nghĩa trị nước)
26
Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo quân. Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất li tri trọng. Tuy hữu vinh quan; Yến xử siêu nhiên.
Nại hà vạn thặng chi chủ, nhi dĩ thân khinh thiên hạ? Khinh tắc thất căn, táo tắc thất quân.
Nặng là gốc rễ của nhẹ, sự lặng yên là chủ của sự náo động. Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo suốt ngày không rời đạo, tuy nhận biết được sự cao sang, quyền quý, sung túc,… là hay, là tốt mà lại giữ lòng nhàn tĩnh vượt lên tất cả những cám dỗ, dục vọng,… Xử sự tự nhiên, tùy thuận.
Vì lẽ ông vua của nước lớn có hàng vạn cỗ xe, hàng vạn kho lương lớn,…thì sao lại có thể xem trọng thân coi nhẹ thiên hạ? Xem nhẹ thiên hạ thì mất gốc rễ, vọng động thì mất ngôi vị.
78
Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng, dĩ kì vô dĩ dịch chi.
Nhược chi thắng cường; Nhu chi thắng cương. Thiên hạ mạc bất tri, mạc năng hành.
Thị dĩ thánh nhân vân “Thụ quốc chi cấu, thị vị xã tắc chủ; Thụ quốc bất tường, thị vị thiên hạ vương”.
Chính ngôn nhược phản.
Trong thiên hạ không gì mềm yếu bằng nước mà nước lại thắng được những vật cứng không gì bằng nước, không gì thay nước được.
Yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng, người thiên hạ không ai không biết lẽ đó nhưng không ai sống thuận theo những nguyên tắc, quy luật đó.
Cho nên người hiểu đạo nhận biết “Người nào chịu nhận cái ô nhục trong nước thì mới làm chủ xã tắc được, chịu nhận tai họa trong thiên hạ thì mới làm vua thiên hạ được”.
Lời hợp đạo nghe như ngược đời.
[Trong thiên hạ không gì mềm mại, uyển chuyển bằng nước mà nước thì lại khéo bào mòn, xuyên thủng,… được những vật cứng rắn hơn như đất đá. Thể hiện rõ nét là nước chảy đá mòn; Tức nước thì vỡ bờ. Sức mạnh của sự mềm mại, uyển chuyển của nước không gì có thể ngăn cản, làm trở ngại được.
Do vậy mà sự ôn hòa, nhu nhuyễn mới thực sự làm chủ, vững mạnh hơn sự cứng nhắc, cố chấp, bảo thủ,… Nhưng con người đã không rõ biết, không tin nhận nên không tùy thuận theo. Cho nên người hiểu biết tự nhủ rằng “Người nào kham nhẫn, chấp nhận sự hèn kém, thấp trũng trong xã hội thì mới làm chủ xã tắc được; Người nào chịu nhận sự hung hiểm, nạn tai, rủi ro cho bản thân thì mới có thể làm vua, người lãnh đạo thiên hạ”. Đây là lời nói chân chính, hợp đạo nhưng nghe có vẻ ngược đời.]
59
Trị nhân, sự thiên mạc nhược sắc. Phù duy sắc, thị dĩ tảo phục; Tảo phục vị chi trọng tích đức; Trọng tích đức tắc vô bất khắc; Vô bất khắc, tắc mạc tri kì cực; Mạc tri kì cực, khả dĩ hữu quốc.
Hữu quốc chi mẫu, khả dĩ trường cửu. Thị vị thâm căn cố đế, trường sinh cửu thị chi đạo.
Trị dân và tu thân thì không gì bằng sống cần kiệm và biết đủ. Có sống cần kiệm, biết đủ thì mới có thể sớm quay trở về đạo; Quay về tùy thuận theo đạo thì tích được nhiều đức; Tích được nhiều đức thì sẽ không có ai, không có điều gì,… có thể khắc chế, kiềm hãm, làm hại được; Không bị gây khó, kiềm hãm, cản trở,… thì năng lực, sự hiểu biết, công việc,… của bản thân sẽ không có giới hạn, trở ngại,… Năng lực và sự hiểu biết không cùng tận thì có thể sẽ làm tốt được việc trị nước.
Nhà cầm quyền hiểu đạo nắm được cái gốc của đạo trị nước thì sự nghiệp mới tồn tại được lâu dài. Như vậy khi nắm giữ, sống tùy thuận theo cốt lõi, gốc rễ của đạo là có được đời sống lâu dài và sự nghiệp mới trường cữu, bền vững.
64
Kì an dị trì; Kì vị triệu dị mưu; Kì thúy dị phán; Kì vi dị tán. Vi chi ư vị hữu; Trị chi ư vị loạn.
Hợp bão chi mộc, sinh ư hào mạt. Cửu tằng chi đài, khởi ư lũy thổ; Thiên lí chi hành, thủy ư túc hạ.
Vi giả bại chi; Chấp giả thất chi. Thị dĩ thánh nhân vô vi cố vô bại, vô chấp cố vô thất.
Dân chi tòng sự, thường ư cơ thành nhi bại chi. Thận chung như thủy, tắc vô bại sự.
Thị dĩ thánh nhân dục bất dục; Bất quí nan đắc chi hóa; Học bất học; Phục chúng nhân chi sở quá, dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên nhi bất cảm vi.
Cái gì an định thì dễ nắm; Điềm chưa hiện thì dễ sắp xếp, hóa giải; Giòn cứng - cố chấp thì dễ đổ vỡ, gãy lìa, hỏng việc; Nhỏ gọn thì dễ phân tán, lẩn tránh, ẩn khuất. Ngăn ngừa việc không tốt từ khi việc chưa bộc phát, hiện rõ; Trị loạn từ khi mầm mống loạn lạc chưa thành hình.
Thực tế là cây lớn một ôm được tạo thành từ một mầm sống nhỏ; Đài cao chín tầng được xây dựng bắt đầu từ một sọt đất; Đi xa được ngàn dặm cũng khởi hành từ một bước chân.
Dụng tâm ngoan cố, bảo thủ làm thì sẽ thất bại; Cố chấp làm theo ý riêng thì sẽ hỏng việc. Vì vậy người hiểu biết không cố ý làm theo ý riêng nên không thất bại, không chấp trước nên sẽ không hỏng việc.
Con người làm việc gần đến lúc hoàn thành thì thường bị thất bại. Nguyên nhân thường là do sự chủ quan, không cẩn thận như lúc ban đầu. Nếu làm việc tập trung sau trước là như nhau thì sẽ không bị hỏng việc.
Cho nên người cầm quyền hiểu đạo chỉ muốn một điều là làm cho lòng người vô dục, không ham muốn gì cả, không quí trọng bảo vật; Việc học phải tiến lên một cấp độ khác - học mà như là không học - học chỉ là để biết tất cả mọi việc nhưng sống và làm việc thì lại tùy thuận vào tự nhiên, vào đạo. Việc làm này giúp mọi người nhận biết được, tin nhận quay về sống theo đạo, giúp cho vạn vật sinh sôi, phát triển theo tự nhiên mà không chiếm làm của riêng, không can thiệp vào. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Cho nên người học đạo chỉ muốn một điều là vô dục - không ham muốn gì cả, không quí bảo vật; Chỉ muốn học cho đạt được sự hiểu biết nhằm chỉ bày, giúp bản thân, những người lầm lạc - không hiểu lẽ đạo - trở về sống thuận theo đạo, để cho vạn vật phát triển theo tự nhiên, mà không tác động, can thiệp vào. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
29
Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi, ngô kiến kì bất đắc dĩ. Thiên hạ thần khí, bất khả vi dã, bất khả chấp dã. Vi giả bại chi, chấp giả thất chi.
Cố vật hoặc hành hoặc tùy; Hoặc hư hoặc xuy; Hoặc cường hoặc luy; Hoặc tỏa hoặc huy. Thị dĩ thánh nhân khứ thậm; Khứ xa; Khứ thái.
Muốn nắm lấy thiên hạ mà hữu vi, cố chấp, mưu tính,… thì ta biết là sẽ không thể được. Thiên hạ là một đồ vật huyền diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấp chiếm lấy được. Hữu vi, mưu tính thì sẽ chuốc lấy thất bại vì làm cho thiên hạ mất đạo, cố chấp thì mất thiên hạ.
Mọi việc phải tùy thuận có lúc cần làm có lúc không nên làm; Mọi vật có lúc rỗng không có lúc tràn đầy; Mọi thứ có lúc mạnh, có lúc yếu; Mọi chuyện có lúc an ổn, có lúc hung hiểm. Rõ biết những điều đó nên nhà cầm quyền hiểu đạo tránh né, bỏ qua những cái gì thái quá, vượt mức. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Mọi việc phải tùy thuận có lúc làm có lúc không làm; Mọi vật có lúc rỗng không có lúc tràn đầy; Mọi thứ có lúc mạnh, có lúc yếu; Mọi chuyện có lúc an ổn, có lúc hung hiểm. Rõ biết những điều đó nên người học đạo, hiểu đạo, sống thuận theo đạo,… tránh làm những việc quá mức, vượt giới hạn. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
[Cụ thể: Phàm việc gì cũng không nên cố chấp, bảo thủ, chủ quan,…; Việc gì cũng đừng nên xa rời thực tế, góc đánh giá thiên lệch, thiếu xót,…; Việc gì cũng đừng nên quá mức, vượt giới hạn,… Những việc làm như thế đều không hợp đạo.]
57
Dĩ chính trị quốc; Dĩ kì dụng binh. Dĩ vô sự thủ thiên hạ.
Ngô hà dĩ tri kì nhiên tai? Dĩ thử: Thiên hạ đa kị huý nhi dân di bần; Triều đa lợi khí, quốc gia tư hôn; Nhân đa kĩ xảo, kì vật tư khởi; Pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu.
Cố thánh nhân vân: Ngã vô vi nhi dân tự hóa; Ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính; Ngã vô sự nhi dân tự phú; Ngã vô dục nhi dân tự phác.
Người đời thường dùng chính sách cai trị để trị nước; Dùng sự biến hóa, linh động,… để điều binh. Những việc làm này không thực đúng đối với việc nắm lấy thiên hạ, chỉ có vô sự mới được thiên hạ.
Do đâu mà ta biết được như vậy? Do lẽ: Thiên hạ mà có nhiều lệnh cấm thì nước càng nghèo; Triều đình càng nhiều hình luật thì đất nước càng thêm loạn; Con người càng nhiều mưu trí, tinh khôn,… thì nảy sinh việc tư dục, chiếm hữu, việc sai quấy,… càng nhiều; Hình luật càng đặt ra nhiều chế tài, án phạt,… thì nạn trộm cướp, phạm pháp càng gia tăng.
Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo tự biết sẽ không làm gì - vô vi mà giúp dân cải thiện đời sống; Nhà cầm quyền sống nhàn hạ, thanh tĩnh mà người dân tự biết sống chính trực, ngay thẳng; Nhà cầm quyền không áp đặt chế tài, luật hình, không chủ động can thiệp vào việc làm của dân mà người dân tự sung túc, giàu mạnh; Nhà cầm quyền sống đạm bạc, ít ham muốn, biết đủ thì người dân sẽ tự trở nên chất phác, thuần lương. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Cho nên người đạt đạo tự nhủ rằng: Ta không làm gì mà chuyển hóa được mọi người; Ta sống nhàn hạ, thanh tĩnh mà mọi người tự nhiên thuần hậu, chính trực; Ta không can thiệp vào mọi việc mà mọi người tự đầy đủ; Ta sống đạm bạc, vô dục mà mọi người tự trở nên chất phác, mộc mạc. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
72
Dân chi uý uy tắc đại uy chí. Vô hiệp kì sở cư; Vô yếm kì sở sinh. Phù duy bất yếm, thị dĩ bất yếm.
Thị dĩ thánh nhân tự tri bất tự hiện; Tự ái bất tự quí. Cố khứ bỉ thủ thử.
Dân mà không sợ sự đàn áp, bức bách, hình luật,… của triều đình thì sẽ tạo ra mối nguy lớn uy hiếp ngược lại sự tồn tại của triều đình vì dân sẽ dễ nổi loạn. Thế nên đừng trói buộc, bức ép cuộc sống của dân, để cho người dân tự nhiên sống yên ổn; Đừng áp bức, đè nén phương cách sinh nhai, việc làm của dân. Vì không bị đàn áp, bức bách nên người dân không có ý chống đối, phản kháng lại triều đình.
Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo rõ biết có quyền lực, sức mạnh trấn áp mà không biểu lộ ra; Sống thuận theo đạo, giữ cái đức mà không tự cho là tôn quí. Vì lẽ nhà cầm quyền cần phải giữ gốc, giữ đạo làm nguyên tắc trị nước; Muốn giữ vai trò cầm quyền, lãnh đạo đất nước lâu dài, bền vững thì nhà cầm quyền phải tùy thuận theo đạo chứ không thể dựa vào pháp luật, hình phạt, quyền lực,… (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Cho nên người đạt đạo rõ biết mọi việc nhưng lại không thể hiện, không tự mãn; Có lòng yêu thương người nhưng không tự cho là hay, là tốt. Sống theo đạo mà không rời bỏ việc học hỏi, sống từ ái, khiêm nhu. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
74
Dân bất uý tử, nãi hà dĩ tử cụ chi? Nhược sử dân thường uý tử nhi vi kì giả, ngô đắc chấp nhi sát chi, thục cảm?
Thường hữu ti sát giả sát. Phù đại ti sát giả sát, thị vị đại đại tượng trác. Phù đại đại tượng trác giả, hi hữu bất thương kì thủ hĩ.
Tại sao dân không sợ chết? Dân đã không còn sợ chết thì sao có thể dùng việc tử hình mà dọa dân? Nếu mà làm cho dân luôn luôn sợ chết và có kẻ nào phạm pháp bắt được mà đem giết thì ai còn dám phạm pháp nữa?
[Nhưng sự thật là không phải như vậy cho nên hình luật mới bị vô hiệu, không có được kết quả như mong muốn]
Có những quy luật của đạo chuyên lo việc hành xử, trừ diệt, trừng phạt,… những người làm việc phạm pháp, sai trái. Nếu mà nhà cầm quyền muốn thay thế những quy luật đạo mà hành xử, trừng trị người phạm tội thì cũng giống như là làm việc thay người thợ đẽo. Làm thay người thợ đẽo thì ít khi không bị đứt tay - tổn thương.
[Vì múa rìu qua mắt thợ thì rõ thật là một việc làm cạn nghĩ, thiếu sáng suốt. Việc làm đó chắc chắn sẽ phạm phải những sai lầm, hỏng việc]
73
(73-2)Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất.
Hãy nên tùy thuận quy luật của đạo giải quyết mọi việc vì lẽ lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.
75
Dân chi cơ; Dĩ kì thượng thực thuế chi đa, thị dĩ cơ.
Dân chi nan trị; Dĩ kì thượng chi hữu vi, thị dĩ nan trị.
Dân chi khinh tử; Dĩ kì thượng cầu sinh chi hậu, thị dĩ khinh tử.
Phù duy vô dĩ sinh vi giả, thị hiền ư quí sinh.
Dân sở dĩ nghèo đói, lầm than là vì nhà cầm quyền thu thuế cao; Do phải đóng sưu cao, thuế nặng cho nên dân mới đói khổ, cơ cực.
Dân sở dĩ khó trị là vì nhà cầm quyền dùng chính lệnh, pháp luật phiền hà, nhũng nhiễu làm rối lòng dân; Chính trị rối ren, nhiễu nhương, áp bức người dân vào đường cùng khiến cho dân trở nên khó trị.
Dân sở dĩ coi thường sự sống chết là vì nhà cầm quyền tự cung phụng, cấp dưỡng quá mức. Do nhà cầm quyền chỉ biết gom góp, tích lũy cá nhân, bóc lột, áp bức đẩy cuộc sống người dân vào đường cùng cho nên người dân coi thường sự sống chết. Bởi lẽ rơi vào cảnh khốn cùng nên dân không còn sợ chết, chống đối lại nhà cầm quyền, gây loạn lạc trong xã hội.
Nếu như nhà cầm quyền mà vô dục, đạm bạc, ít ham muốn, biết lo cho dân thì tốt hơn vì là người dân sẽ tự biết quí trọng mạng sống, tự khắc quy thuận, xã hội sẽ tự thái bình, ổn định.
63
Vi vô vi; Sự vô sự; Vị vô vị. Đại tiểu đa thiểu, báo oán dĩ đức.
Đồ nan ư kì dị; Vi đại ư kì tế. Thiên hạ nan sự tất tác ư dị, thiên hạ đại sự tất tác ư tế.
Thị dĩ thánh nhân chung bất vi đại, cố năng thành kì đại. Phù khinh nặc tất quả tín, đa dị tất đa nan. Thị dĩ thánh nhân do nan chi, cố chung vô nan hĩ.
Nhà cầm quyền sống theo nguyên tắc vô vi - làm mà không làm, không làm mà không gì không làm; Sống theo nguyên tắc vô sự, tùy thuận; Giữ thái độ điềm đạm, bình thản. Xem việc nhỏ như việc lớn, cái ít như cái nhiều, dùng đức báo oán.
Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, làm việc lớn từ khi việc còn nhỏ. Vì mọi việc khó trong thiên hạ đều khởi nguồn từ chỗ dễ; Mọi việc lớn trong thiên hạ bắt đầu từ những việc nhỏ.
Do đó nhà cầm quyền hiểu đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thành tựu được sự nghiệp lớn. Nhà cầm quyền hiểu đạo phải rõ biết người nào hứa mọi việc dễ dàng thì lời hứa khó có thể tin được hết; Người nào nhận định việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó khăn. Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà không vấp phải nhiều khó khăn. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Do đó người đạt đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn. Người nào hứa mọi việc một cách dễ dàng thì khó tin được hết; Người nào nhận định việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người đạt đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp khó. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
20
(20-2)Duy chi dữ đa, tương khứ kỉ hà? Thiện chi dữ ác, tương khứ nhược hà?
Ít và nhiều khác nhau ra sao? Việc thiện ác khác nhau như thế nào?
58
Kì chính muộn muộn, kì dân thuần thuần; Kì chính sát sát, kì dân khuyết khuyết.
Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục. Thục tri kì cực? Kì vô chính. Chính phục vi kì, thiện phục vi yêu. Nhân chi mê, kì nhật cố cửu.
Thị dĩ thánh nhân phương nhi bất cát; Liêm nhi bất quế; Trực nhi bất tứ; Quang nhi bất diệu.
Chính sách pháp luật mà khoan hồng thì người dân thuần hậu, hiền lương; Chính sách pháp luật mà khắt khe, nghiêm ngặt quá thì cuộc sống người dân sẽ gặp nhiều khắc khổ, khó khăn.
Họa dựa vào phúc mà tồn tại, phúc là chỗ ẩn nấp của họa. Ai có thể nhận biết được họa hay phúc một cách rõ ràng? Họa phúc không có gì là chắc chắn, nhất định. Chính có thể biến thành tà, thiện có thể biến thành ác. Lòng người dường như đã bị mê hoặc, không hiểu được sự thật này lâu rồi.
Chỉ có nhà cầm quyền hiểu đạo mới rõ biết lẽ họa phúc không cố định đó; Cho nên tuy sống chính trực, liêm khiết mà không làm tổn hại người, tuy thẳng thắn, quả quyết mà không xúc phạm người, tuy cương trực mà không làm khó người, tuy sáng rõ mà không chói mắt, không thể hiện, không tranh hơn người.
[Họa phúc, thiện ác,…thật không cố định, đó chỉ là quan niệm của con người. Vì thế vị trí họa phúc, thiện ác có thể hoán đổi nhau. Nguyên do là có không ít việc mà con người không thể nhận biết rõ ràng là phúc hay họa. Ví như một người sống trong giàu sang, thích phô trương, khoe khoang. Chẳng may bị kẻ xấu giết hại hoặc là cướp hết tài sản. Phải chăng gia sản kết xù là phúc? Nhưng chính sự giàu sang cũng lại là mối họa khiến người chủ bị rơi vào hoàn cảnh hung hiểm. Thêm nữa, phải chăng phần lớn tệ nạn xã hội mại dâm, ma tuý, tội phạm,… đều dựa vào lối sống sung túc, xa hoa, phóng túng, dục vọng mà thành hình; Việc tham nhũng, hối lộ, nhũng nhiễu,… dường như là “sản phẩm”của phúc, điều này thể hiện họa dựa vào phúc mà tồn tại. Chuyển sang một câu chuyện khác, ví như có một ông vua của nước lớn ban đầu trị nước rất chuẩn mực nhưng về sau tham đắm nữ sắc trở thành hôn quân vô đạo. Người dân bị bức ép vào đường cùng đã nổi loạn, bắt giết ông vua vô đạo. Rõ thật ban đầu ông vua là chính, là thiện; Người dân nổi loạn, giết vua dường như là tà, là ác. Nhưng sau đó ông vua trở thành hôn quân vô đạo nên chính thật là tà, là ác; Người dân nổi loạn thành công, giết vua, xây dựng lại xã hội lại yên bình, ấm no trở thành chính, thành thiện.]
18
Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa; Trí tuệ xuất, hữu đại ngụy; Lục thân bất hòa, hữu hiếu từ; Quốc gia hôn loạn, hữu trung thần.
Đạo lớn bị mất rồi thì mới có nhân nghĩa; Sự hiểu biết, thông minh xuất hiện rồi thì mới có trá ngụy, gian dối; Gia đình - cha mẹ, anh em, vợ chồng - bất hòa, rối loạn rồi thì mới sinh ra hiếu, từ; Xã hội rối ren, loạn lạc rồi thì mới nhận biết được trung thần.
12
Ngũ sắc linh nhân mục manh; Ngũ âm linh nhân nhĩ lung; Ngũ vị linh nhân khẩu sảng; Trì sính điền liệp linh nhân tâm phát cuồng; Nan đắc chi hóa linh nhân hành phương.
Thị dĩ thánh nhân vị phúc bất vị mục. Cố khứ bỉ thủ thử.
Ngũ sắc làm cho con người mờ mắt, rối loạn thị giác; Ngũ âm làm cho con người ù tai, rối loạn thính lực; Ngũ vị làm cho con người tê lưỡi, rối loạn khẩu vị; Ruổi ngựa săn bắn làm cho lòng người mê loạn; Vàng bạc châu báu làm cho hành vi con người đồi bại, xấu xa, hèn hạ.
Cho nên nhà cầm quyền hiểu đạo chỉ nên cầu cho dân no bụng mà không cầu vui mắt. Giữ đạo, giữ sự chất phác, đôn hậu mà lìa bỏ sự xa xỉ, nhiều ham muốn. (Diễn theo nghĩa trị quốc)
Cho nên người đạt đạo chỉ cầu no bụng mà không cầu vui mắt. Giữ đạo, nuôi đức mà không cầu sự xa hoa, không mong thỏa mãn sự ham muốn, dục vọng. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)
3
Bất thượng hiền, sử dân bất tranh; Bất quí nan đắc chi hóa, sử dân bất vi đạo; Bất hiện khả dục, sử dân tâm bất loạn.
Thị dĩ thánh nhân chi trị, hư kì tâm; Thực kì phúc; Nhược kì chí; Cường kì cốt.
Thường sử dân vô tri vô dục, sử phù trí giả bất cảm vi giả, vi vô vi, tắc vô bất trị.
Nhà cầm quyền hiểu đạo không trọng người hiền tài nhằm mục đích không tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Nguyên do việc làm này sẽ giúp cho những người tài mà kém đức đoạt ngôi vị cao; Không trọng của báu vàng bạc, ngọc bảo,… để không nảy sinh việc trộm cướp, tranh giành; Không phô bày những vật khơi gợi lòng ham muốn, để cho lòng dân không loạn.
Cho nên chính sách trị nước của nhà cầm quyền hiểu đạo là làm cho dân có tấm lòng lương thiện, thuần hậu; Có đủ cơm no, áo mặc; Sống tùy thuận theo đạo, ít ham muốn, tranh đấu; Sức lực thì mạnh, xương cốt chắc khỏe.
Khiến cho lòng dân dường như không biết, không ham muốn mà bọn mưu sĩ, cơ hội,… không dám làm việc càn quấy. Nhà cầm quyền hiểu đạo làm mà như không làm. Bởi lẽ những việc cần làm thì người dân đã tự làm lấy. Nguyên tắc của việc trị nước là trị mà dường như là không trị.
(Nhà cầm quyền quản lý ở cấp độ cao, chỉ điều tiết mọi việc mà không can thiệp sâu vào; Để các thành phần xã hội tùy thuận, tự do phát triển nhưng không vượt mức thái quá.)
13
Sủng nhục nhược kinh; Quí đại hoạn nhược thân. Hà vị sủng nhục nhược kinh? Sủng vi thượng; Nhục vi hạ. Đắc chi nhược kinh, thất chi nhược kinh, thị vị sủng nhục nhược kinh.
Hà vị quí đại hoạn nhược thân? Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân; Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?
Cố quý dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả kí thiên hạ; Ái dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả thác thiên hạ.
Việc vinh nhục, được mất,… thường khiến con người sinh lòng lo sợ, rối trí,… Việc vinh nhục, được mất,… thường là mối nguy hại lớn, gây hung hiểm cho thân mạng con người. Tại sao con người bị việc vinh nhục, được mất làm rối loạn? Là vì vinh thì được mọi người chú ý, xét nét, luôn bị “để mắt” đến nên người được vinh sẽ “mất hết” tự do, thoải mái,… Nhục thì bị mọi người nhận định thấp hèn, coi rẻ,… nên người đó sẽ tủi hổ, mặc cảm. Vì thế mà con người khi được thì lòng rối, lúc mất thì tâm loạn. Cho nên nói việc vinh nhục, được mất,… khiến lòng người rối loạn. Việc này ảnh hưởng đến sự an nguy của mạng sống con người.
Tại sao nói việc vinh nhục, được mất là mối nguy hại lớn cho con người? Con người sở dĩ sợ việc hung hiểm là vì coi trọng sự sống chết bởi do có “cái thân”; Giả như con người không có “cái thân” hoặc không lo cho “cái thân” nữa thì việc hung hiểm, sự sống chết không còn gây lo sợ, rối loạn cho người được.
Cho nên người nào coi trọng sự hy sinh thân mình vì mọi người thì có thể giao việc thiên hạ cho người đó. Người nào yêu thương mọi người như chính thân mình thì có thể gởi thiên hạ cho người đó.
19
Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội; Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ; Tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu.
Thử tam giả dĩ vi văn bất túc. Cố linh hữu sở thuộc hiện tố bão phác, thiểu tư quả dục.
Nhà cầm quyền mà dứt trừ áp đặt quyền lực, các biện pháp cai trị,…, xóa bỏ sự cơ mưu, toan tính chủ quan,… thì dân được hưởng lợi gấp trăm lần ; Dứt bỏ việc phân biệt rạch ròi người nhân, việc nghĩa thì dân sẽ tự biết hiếu thảo, hòa thuận; Dứt trừ sự quyền biến, khôn lanh, xóa bỏ quan niệm đẹp xấu, sự so sánh việc lợi, điều hại,… thì sẽ không còn nạn trộm cướp, binh đao.
Những việc như hình phạt, chế tài, mưu toan, gian ngoan, nhân nghĩa, lợi hại, hơn thua,… chỉ là hình thức hoa mĩ, hào nhoáng bên ngoài không phải là gốc đạo, không thể dùng để trị nước, an dân cho nên cần phải xóa bỏ; Muốn cho người dân quy thuận, thuần phục nhà cầm quyền thì phải làm cho người dân trở nên mộc mạc, chất phác; Để người dân trở về đôn hậu, thuần phác thì nhà cầm quyền phải có lối sống biết đủ, dứt trừ ham muốn, dừng việc gom góp của riêng.
66
Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kì thiện hạ chi. Cố năng vi bách cốc vương. Thị dĩ thánh nhân dục thượng dân, tất dĩ ngôn hạ chi; Dục tiên dân, tất dĩ thân hậu chi. Thị dĩ thánh nhân xử thượng nhi dân bất trọng; Xử tiền nhi dân bất hại. Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm. Dĩ kì bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.
Sông biển sở dĩ làm vua của trăm ngàn khe nước, là nơi tập trung mọi nguồn nước là vì sông biển khéo ở nơi thấp trũng. Vì ở nơi thấp trũng nhất nên sông biển làm vua trăm ngàn khe nước. Do vậy nhà cầm quyền muốn được người dân tôn trọng, tin tưởng thì phải nói lời khiêm hạ, muốn đứng trước dân thì phải lùi lại sau. Khi đó dù đối thoại, đối diện - đứng trước nhà cầm quyền - người nắm giữ vai trò lãnh đạo mà người dân không thấy bị đè nén, không cảm thấy bị chèn ép; Nhà cầm quyền đứng ở phía trước mà người dân không thấy bị cản trở, không bị gây khó. Vì vậy mà người dân an tâm, vui lòng chấp nhận ủng hộ nhà cầm quyền xuyên suốt. Do không có sự tranh giành địa vị, quyền lực cho nên không ai tranh mất vai trò của nhà cầm quyền nhờ vậy sự nghiệp mới còn hoài, lâu bền.
17
Thái thượng, bất tri hữu chi; Kì thứ, thân nhi dự chi; Kì thứ, uý chi; Kì thứ, vũ chi.
Tín bất túc yên, hữu bất tín yên. Du hề, kì quí ngôn. Công thành sự toại, bách tính giai vị: Ngã tự nhiên.
Nhà cầm quyền trị nước giỏi nhất thì dân không biết là có người lãnh đạo; Nhà cầm quyền trị nước thấp hơn một bậc thì dân yêu quí và khen ngợi; Nhà cầm quyền có khả năng trị nước thấp hơn nữa thì sẽ làm cho dân sợ, lòng người rối loạn; Nhà cầm quyền mà khả năng lãnh đạo thấp kém nhất thì bị người dân xem thường, không tôn trọng.
Nhà cầm quyền mà không đủ thành tín thì dân không còn tin tưởng, ủng hộ. Nhà cầm quyền hiểu đạo tỏ ra nhàn hạ, bình thản, không làm gì mà phải biết quí trọng lời nói. Nhà cầm quyền giỏi nhất thì thường hay thành toàn mọi việc, khi mọi việc hoàn thành mà người dân vẫn không rõ biết cứ nghĩ rằng “Do tự nhiên mà được việc”.
60
(60-1)Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên.
Trị nước lớn cũng như là việc nấu cá nhỏ. Nấu cá nhỏ mà lật lên lật xuống, động tới cá nhiều thì cá sẽ bị nát vụn; Trị nước lớn mà chính lệnh phiền hà, pháp lệnh nhiều thay đổi, can thiệp nhiều quá vào việc dân thì dân sẽ trá ngụy, phản kháng, chống đối.
65
Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị, dĩ kì trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc, bất dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc. Tri thử lưỡng giả, diệc kê thức. Thường tri kê thức, thị vị huyền đức. Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ, dữ vật phản hĩ! Nhiên hậu nãi chí đại thuận.
Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì không làm cho dân khôn lanh, nhiều cơ mưu mà làm cho dân trở nên đôn hậu, chất phác. Dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu, thủ đoạn. Cho nên dùng trí mưu, thủ đoạn trị nước sẽ gây họa cho đất nước, không dùng trí mưu trị nước là phúc cho dân. Biết rõ hai điều này là biết được cách thức trị nước. Biết rõ và dùng đúng phương pháp trị nước là người có đức. Người dùng đức trị nước thì dân sẽ quay về sống thuần lương, chất phác. Người dân sống theo đạo thì đất nước sẽ yên ổn, thái bình.
61
Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao, thiên hạ chi tẫn.
Tẫn thường dĩ tĩnh thắng mẫu, dĩ tĩnh vi hạ. Cố đại quốc dĩ hạ tiểu quốc tắc thủ tiểu quốc; Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc tắc thủ đại quốc.
Cố hoặc hạ dĩ thủ; Hoặc hạ nhi thủ. Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhân; Tiểu quốc bất quá dục nhập sự nhân.
Phù lưỡng giả các đắc sở dục, đại giả nghi hạ.
Nước lớn thì như là vùng nước thấp, vùng nước thấp thường là chỗ quy tụ nước của tất cả sông ngòi, kênh rạch,… vì thế vùng nước thấp giống như là mẹ của các sông ngòi, kênh lạch,… Vì nước lớn như là vùng nước thấp nên sẽ là nơi quy tụ của các nước nhỏ, giống như là mẹ của các nước nhỏ. Nếu nhà cầm quyền hiểu rõ lẽ đạo này thì khi đó sẽ có cách ứng xử với các nước nhỏ như tấm lòng của người mẹ đối với con cái, phải có sự yêu quý, tôn trọng chủ quyền các nước nhỏ.
Nước lớn mà tôn trọng nước nhỏ thì nước nhỏ sẽ tự thuần phục, không chống đối. Ngược lại, nước nhỏ mà tôn trọng nước lớn thì nước lớn sẽ che chở, giúp đỡ.
Khi nước lớn và nước nhỏ cùng khiêm hạ, tôn trọng lẫn nhau thì thiên hạ sẽ thái bình, không xảy ra chiến tranh loạn lạc. Vì bởi nước lớn sở dĩ muốn gồm thâu nước nhỏ cũng chỉ vì muốn bảo hộ, xây dựng; Nước nhỏ sở dĩ chống đối lại cũng chỉ vì muốn tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước lớn.
Nếu cả nước lớn và nước nhỏ đều hiểu tận cùng đạo lý, cùng khiêm hạ thì cùng đạt được mục đích, sở cầu của mỗi nước. Nhưng điều cốt yếu trước nhất - đó là nước lớn phải khiêm hạ, phải như là vùng nước thấp.
80
Tiểu quốc quả dân, sử hữu thập bách chi khí nhi bất dụng, sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ. Tuy hữu chu dư, vô sở thừa chi; Tuy hữu giáp binh, vô sở trần chi.
Sử dân phục kết thằng nhi dụng chi? Cam kì thực, mĩ kì phục, an kì cư, lạc kì tục?
Lân quốc tương vọng, kê khuyển chi thanh tương văn, dân chí lão tử bất tương vãng lai.
Nếu là nhà cầm quyền của nước nhỏ, dân ít thì phải biết hướng dẫn, chỉ bày người dân có lối sống ít ham muốn, biết đủ, vì thế dù có công cụ sản xuất gấp hàng chục, hàng trăm sức người mà cũng không dùng đến. Mọi người đều coi sự sống chết là hệ trọng nên không đi đâu xa, không tham lam tài vật. Dù có thuyền, xe mà không sử dụng, dù có binh khí mà không phô bày, rèn luyện,... Nói cách khác là hướng mọi người quay về gốc, trở về đạo.
Thế nên có cần phải khuyên răn người dân dùng lại lối thắt dây thời thượng cổ để sắp xếp, ghi nhớ mọi việc? Nên chăng khuyên bảo người dân ăn uống đạm bạc, mặc quần vải áo thô, ở nhà nhỏ bé, thô sơ, vui sống lối sống đơn sơ, giản dị?
Nếu người dân ở tất cả các nước đều sống theo đạo thì các nước láng giềng gần kề dù có thể nhìn thấy nhau; Nước này có thể nghe được tiếng gà, tiếng chó ở nước kia, mà người dân ở các nước đó đến già chết cũng không qua lại với nhau.
Thuật Dùng Binh
68
Thiện vi sĩ giả bất vũ, thiện chiến giả bất nộ, thiện thắng địch giả bất dữ, thiện dụng nhân giả, vi chi hạ.
Thị vị bất tranh chi đức, thị vị dụng nhân chi lực, thị vị phối thiên chi cực.
Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng, người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng, người khéo thắng địch không giao tranh với địch, người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người.
Như vậy là có cái đức không tranh với người, như vậy là biết dùng sức của người, như vậy là hoàn toàn hợp với đạo.
30
Dĩ đạo tá nhân chủ giả, bất dĩ binh cường thiên hạ. Kì sự hảo hoàn. Sư chi sở xử, kinh cức sanh yên.
Đại quân chi hậu, tất hữu hung niên. Thiện giả quả nhi dĩ, bất cảm dĩ thủ cường. Quả nhi vật căng, quả nhi vật phạt, quả nhi vật kiêu, quả nhi bất đắc dĩ, quả nhi vật cường.
Vật tráng tắc lão, thị vị bất đạo; Bất đạo tảo dĩ.
Người hiểu đạo phò vua, giúp nước thì không dùng binh lực mà tranh hơn thiên hạ. Vì hiếu chiến, gây hấn sẽ dẫn đến chiến tranh, hại nước nhà lâm vào cảnh binh đao, loạn lạc, nước mất nhà tan, gây khốn cùng cho dân.
Lẽ thường, quân đội đóng ở đâu, gai góc mọc ở nơi đó. Sau trận chiến tranh lớn, tất sẽ có năm đói khổ, mất mùa, dân tình oán thán, ly loạn.
Người hiểu đạo dùng binh thành công, đạt mục đích rồi thì không dám ỷ mạnh mà hơn thiên hạ. Phàm việc gì cũng không nên quá mức, vượt giới hạn. Vì thế đạt được mục đích thì dừng lại, không khoe công, tự phụ, kiêu ngạo, không tranh hơn thua. Thể hiện rõ lập trường vì bất đắc dĩ mới phải dùng binh.
Việc gì cũng đừng rơi vào quá mức, vượt giới hạn. Làm như vậy thì sẽ không hợp đạo; Không hợp đạo thì dễ bị phản tác dụng, gây ra tai họa.
20
(20-3)Nhân chi sở úy, bất khả bất úy.
Người hiểu biết thường rất sợ điều đó, thế nên nhà cầm quyền hiểu đạo phải rõ biết nhằm không gây ra những việc làm quá mức, vượt giới hạn, không hợp đạo.
42
(42-3)Nhân chi sở giáo, ngã diệc giáo chi: Lương cường giả bất đắc kì tử, ngô tương dĩ vi giáo phụ.
Có một câu nói mà người xưa đã dạy, nay tôi mượn lời nói lại: “Cuồng bạo thì sẽ bị họa sát thân, chết bất đắc kì tử”. Tôi cho rằng lời nói đó có sự chuẩn mực, xác đáng, đúng đắn; Lời nói đó giống như là lời răn dạy của người cha.
76
Nhân chi sinh dã nhu nhược, kì tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy. Kì tử dã khô cảo.
Cố kiên cường giả, tử chi đồ; Nhu nhược giả, sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc binh. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng.
Con người sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Cây cỏ khi sống thì mềm dịu mà khi chết thì khô cứng.
Cho nên cứng mạnh, cường bạo là cùng loại với cái chết; Mềm mại, nhu nhuyễn,… là cùng loại với sự sống. Vì vậy binh lực mạnh thì không hẳn sẽ tất thắng bởi lẽ những cây to, gỗ cứng thường dễ bị gãy đổ trước giông bão. Cứng mạnh thì phải đặt ở dưới, mềm yếu thì được đặt lên trên.
69
Dụng binh hữu ngôn: “Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách. Bất cảm tiến thốn nhi thối xích”. Thị vị hàng vô hàng, nhương vô tí, nhưng vô địch, chấp vô binh.
Họa mạc đại ư khinh địch, khinh địch cơ táng ngô bảo. Cố kháng binh tương gia, ai giả thắng hĩ.
Thuật dụng binh có câu: “Ta không dám làm chủ chiến (tức khiêu chiến) mà chỉ là người khách (tức ứng chiến). Vì giữ hòa khí thà lùi một thước chứ không muốn tiến thêm một tấc. Chỉ đem binh dàn trận ứng phó, thể hiện lập trường giữ nước để các nước có ý định xâm chiếm biết khó mà lui binh. Khi các nước có ý định xâm chiếm biết khó rút binh nhà cầm quyền hiểu đạo cũng không xuất binh truy kích gây oán thù, đạt được mục đích rồi thì dừng lại. (Vì hiểu rõ đạo lý - Vật cùng tất phản). Nếu dồn đối phương vào đường cùng thì chiến tranh sẽ xảy ra, đó là điều mà nhà cầm quyền hiểu đạo không mong muốn.
Họa không gì lớn bằng khinh địch, khinh địch thì sẽ làm mất đi những vật báu của ta. Cho nên khi các nước giao tranh, bên nào từ ái, biết quý trọng mạng sống của con người thì sẽ giành lấy thắng lợi.
67
(67-2)Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi: Nhất viết từ; Nhị viết kiệm; Tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên. Từ cố năng dũng; Kiệm cố năng quảng; Bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng. Kim xá từ thả dũng; Xá kiệm thả quảng; Xá hậu thả tiên, tử hĩ!
Phù từ, dĩ chiến tắc thắng, dĩ thủ tắc cố.
Thiên tương cứu chi, dĩ từ vệ chi.
Có ba vật báu mà con người nên rõ biết, gìn giữ cẩn thận: Một là lòng từ ái, biết yêu thương người; Hai là tính cần kiệm; Ba là không dám đứng trước thiên hạ. Vì từ ái, biết yêu thương người nên tận lực giúp người mà sinh ra lòng dũng cảm; Vì cần kiệm cho nên sung túc, đầy đủ, rộng rãi; Vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ. Nếu không từ ái mà mong được dũng cảm; Không cần kiệm mà mong được sung túc, đầy đủ; Không chịu đứng sau người mà tranh đứng trước người, thì không thể được, tất sẽ thất bại, sớm chết! Vì biết yêu thương người nên nếu buộc phải chiến đấu thì sẽ thắng, khi cần cố thủ thì sẽ vững (Vì được ủng hộ, được lòng người,…).
Trời muốn giúp người nào thì cho người đó lòng từ ái, biết yêu thương người nhằm giúp người đó thu phục được lòng người, tự khắc người đó sẽ được yên ổn, an toàn.
31
Phù giai binh giả, bất tường chi khí. Vật hoặc ố chi, cố hữu đạo giả bất xử. Quân tử cư tắc quí tả, dụng binh tắc quí hữu.
Binh giả bất tường chi khí, phi quân tử chi khí. Bất đắc dĩ nhi dụng chi, điềm đạm vi thượng. Thắng nhi bất mĩ. Nhi mĩ chi giả, thị lạc sát nhân. Phù lạc sát nhân giả, tắc bất khả đắc chí ư thiên hạ hĩ.
Cát sự thượng tả, hung sự thượng hữu. Thiên tướng quân cư tả, thượng tướng quân cư hữu; Ngôn dĩ tang lễ xử chi. Sát nhân chi chúng, dĩ bi ai khấp chi; Chiến thắng dĩ tang lễ xử chi.
Vì binh khí là vật bất tường - là vật chứa giữ điềm xấu, chẳng lành. Là vật gây họa, ai cũng xa lánh cho nên người giữ đạo không thích chạm đến đồng nghĩa với việc không muốn dùng binh khí. Người quân tử ở nhà thì trọng bên trái, khi dùng binh thì trọng bên phải.
Binh khí là vật bất tường, không phải là vật dùng của người quân tử. Cho nên bất đắc dĩ mới phải dùng đến, khi dùng đến thì phải điềm đạm, giữ hòa khí, tránh rơi vào cực đoan. Thắng cũng không tự cho là hay, là giỏi. Nếu cho là hay giỏi đồng nghĩa với việc thích giết người. Kẻ nào thích giết người thì không được lòng người, vì thế người đó sẽ không thể nắm lấy, lãnh đạo được thiên hạ.
Việc lành, tốt thì xếp bên trái, việc dữ, xấu thì xếp bên phải. Quan văn thì đứng ở bên trái, tướng võ thì đứng ở bên phải, như vậy có nghĩa là nhà cầm quyền hiểu đạo coi việc dùng binh như một tang lễ. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng xót thương chân thành mà khóc tiễn đưa; Dù chiến thắng thì cũng nên lấy sự thành tâm mà làm tang lễ cho những người đã chết vì chiến tranh.
Thiên Hạ
35
(35-2)Nhạc dữ nhị, quá khách chỉ. Đạo chi xuất khẩu, đạm hồ kì vô vị, thị chi bất túc kiến, thính chi bất túc văn, dụng chi bất túc kí.
Âm nhạc cùng với đồ ăn, thức uống ngon lành sẽ làm cho khách qua đường ngừng lại, lắng nghe, thưởng thức; Còn đạo mà nói ra thì dường như là nhạt nhẽo, vô vị; Nhìn kĩ đạo thì lại không thấy, lắng nghe thì cũng không được, nhưng công dụng của đạo thì không cùng, không bao giờ hết.
41
(41-1)Thượng sĩ văn đạo, cần nhi hành chi; Trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong; Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vi đạo.
Cố kiến ngôn hữu chi: Minh đạo nhược muội; Tiến đạo nhược thối; Di đạo nhược loại; Thượng đức nhược cốc; Đại bạch nhược nhục; Quảng đức nhược bất túc; Kiến đức nhược thâu; Chất đức nhược du.
Người sáng suốt nghe đạo lĩnh hội, hiểu được thì gắng sức thi hành, sống thuận theo; Kẻ tầm thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ; Kẻ tối tăm, u mê nghe đạo thì cho rằng là hoang đường rồi cười nhạo. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa.
Cho nên sách xưa có nói: Người đạt đạo thì dường như là người tối tăm, ngu muội; Người học theo đạo thì dường như là người đi thụt lùi, chậm lụt; Người sống tùy thuận theo đạo thì dường như là người có lối sống khúc mắc, quanh co; Người có đức cao thì dường như là người có hiểu biết thấp kém; Người sống thanh cao, thuần khiết thì dường như là người có lối sống nhục nhã, hèn yếu,…; Người có đức tính rộng rải, bao dung thì dường như là người có tầm nhìn hạn hẹp, thiếu khả năng toan tính; Người có đức tính sâu sắc, tinh tế thì dường như là người lười biếng, nhác việc; Người có đức tính chất phác, mộc mạc thì dường như là hỗn độn, mờ tối.
43
Thiên hạ chi chí nhu trì sính thiên hạ chi chí kiên. Vô hữu nhập vô gian.
Ngô thị dĩ tri vô vi chi hữu ích. Bất ngôn chi giáo; Vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi.
Trong thiên hạ, cái cực mềm thì chế ngự được cái cực cứng - như nước xoi mòn được đá; Cái không có lại len vô được cái không có kẽ hở - như không khí len vô được những chất đá, gỗ cứng,…
Do đó mà ta biết vô vi - không làm, sự mềm mại, sự tùy thuận uyển chuyển,… là rất có ích. Bất ngôn chi giáo - việc dạy bằng cách không dùng lời mà chỉ dùng sự tùy thuận qua hành động, việc làm,… để răn dạy, chỉ bày,… người khác là việc làm rất hay, hữu ích. Cái ích lợi của vô vi - không làm, người đời ít ai hiểu toàn vẹn, tin nhận và thuận theo.
70
(70-1)Ngô ngôn thậm dị tri, thậm dị hành. Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành.
Ngôn hữu tông, sự hữu quân. Phù duy vô tri, thị dĩ bất tri ngã. Tri ngã giả hi; Tắc ngã giả quí.
Những điều ta đã nói là lẽ thật rất dễ hiểu, dễ làm mà người đời không ai chịu tin nhận, hiểu rõ; Vì không rõ nên không thuận làm theo.
Lời của ta có tôn chỉ, dựa theo sự chuẩn mực, đúng đắn; Việc của ta làm là có căn bản, có cơ sở vững vàng do thuận theo tự nhiên, hợp với đạo. Nhưng vì thiên hạ không hiểu những điều ta đã trình bày nên không thể biết đến ta. Người hiểu ta thì rất ít, người sống tùy thuận theo lại càng hiếm hoi.
53
(53-1)Sử ngã giới nhiên hữu tri, hành ư đại đạo; Duy thi thị uý. Đại đạo thậm di nhi dân hiếu kính.
Nếu có sự hiểu biết về đạo thì con người sẽ chỉ đi theo con đường đạo rộng lớn; Khi đó con người sẽ rất e dè, sợ sệt bị lạc vào những con đường nhỏ, đường rẽ quanh co. Nhưng do không tin nhận, không biết đến con đường đạo rộng lớn, bằng phẳng, dễ đi nên con người đã đi trên những con đường rẽ quanh co, gập ghềnh, khó đi.
Đạo Đức Kinh Thậm Giải…
Như tôi đã trình bày, Lão Tử đã viết những kinh nghiệm, những hiểu biết về đạo, về cuộc sống ở hình thức như là viết nhật ký nên việc trình bày không theo một trình tự mà chỉ là những đoạn ngắn có chứa nội dung tư tưởng mà Lão Tử phát kiến ra. Ở góc đánh giá tổng thể thì nội dung Đạo đức kinh đưa ra khái niệm về đạo, nguyên tắc - quy luật đạo, người đạt đạo, người học đạo, người sống theo đạo, dụng của đạo,… với những ý từ đan xen, không có sự phân định rõ ràng giữa việc tu thân hay trị quốc; Tự học hay chỉ bày cho người;… Việc tôi hệ thống lại bản gốc chỉ nhằm mục đích giúp cho việc học hỏi, tiếp thu, lĩnh hội,… tư tưởng của Lão Tử có phần dễ dàng hơn chứ không thể là một việc làm hoàn hảo, đúng mực. Mỗi câu từ trong Đạo đức kinh khi đặt vào một ngữ câu, ngữ cảnh khác thì ý nghĩa lại có sự thay đổi, khác biệt. Vì thế tôi cũng sẽ không thể trình bày rõ hết ý từ ẩn chứa trong Đạo đức kinh. Tôi chỉ phần nào trình bày lại tư tưởng, tri thức mà Lão Tử truyền đạt; Phần còn lại bạn hãy tự chiêm nghiệm, lĩnh hội, chuyển hóa,… Tuy nhiên, điều quan trọng khi tìm hiểu Đạo đức kinh là hãy sống thật với những điều đã lĩnh hội được chứ không phải ở việc chỉ bày, răn dạy người.
Lão Tử không phải là người có kiến thức uyên thâm, học rộng, hiểu nhiều, rõ biết về đạo.
Xuyên suốt quá trình tìm hiểu, lĩnh hội đạo Lão Tử không một lần tự nhận thấu hiểu được đạo và những quy luật của đạo. Lão Tử chỉ đưa ra những khái niệm chung chung mang tính suy luận và những hiểu biết rõ thật, xác đáng, cụ thể. Về đạo ông chỉ biết rằng đạo cơ hồ rất rộng lớn, uyên áo, thâm sâu, luôn tồn tại, không cùng tận,… và có lẽ đạo có trước thượng đế.
Ngô bất tri thùy chi tử; Tượng đế chi tiên.
Ta không biết đạo là con ai, có nguồn gốc từ đâu; Có lẽ đạo có trước thượng đế.
Đã từng có không ít người dựa vào câu nói trên đưa ra nhận định Lão Tử có tư tưởng tiến bộ, thuộc hệ tư tưởng vô thần, không tin vào sự tồn tại của ma quỷ, thần thánh, thượng đế. Trên thực tế Lão Tử không hề khẳng định việc không tồn tại thượng đế, ông chỉ đưa ra nhận định có lẽ đạo có trước thượng đế. Tìm hiểu thêm về đạo trong Đạo đức kinh có thể bạn sẽ nhận ra Lão Tử đã tiến thêm một bước khẳng định vạn vật, con người, trời đất,… do đạo sinh ra, bồi dưỡng, tạo thành vạn vật. Vì lẽ đó cơ hồ Lão Tử phủ định vai trò tạo ra cũng như khả năng trừng phạt loài người của thượng đế.
Tuy nhiên, Lão Tử cũng đã đưa ra lập luận
(39-1)Tích chi đắc nhất giả: Thiên đắc nhất dĩ thanh; Địa đắc nhất dĩ ninh; Thần đắc nhất dĩ linh; Cốc đắc nhất dĩ doanh; Vạn vật đắc nhất dĩ sinh; Hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ trinh. Kì trí chi.
Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt; Địa vô dĩ ninh tương khủng phế; Thần vô dĩ linh tương khủng yết; Cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt; Vạn vật vô dĩ sinh tương khủng diệt; Hầu vương vô dĩ quí cao tương khủng quyết.
Đây là những vật được đạo mà thành hình: Trời được đạo mà thành; Đất được đạo mà yên; Thần được đạo mà linh; Khe ngòi được đạo mà đầy; Vạn vật được đạo mà sinh sôi, phát triển; Vua chúa được đạo mà làm chủ thiên hạ. Những cái đó đều tùy thuận đạo mà được vậy.
Nhưng nếu trời mất đạo thì trời sẽ không còn; Đất mất đạo thì đất sẽ lở; Thần mất đạo thì thần sẽ tan; Khe ngòi mất đạo thì sẽ cạn; Vạn vật mất đạo thì sẽ diệt mất; Vua chúa vô đạo, không sống theo đạo thì sẽ mất ngôi.
(60-2)Dĩ đạo lị thiên hạ, kì quỷ bất thần; Phi kì quỷ bất thần, kì thần bất thương nhân; Phi kì thần bất thương nhân, thánh nhân diệc bất thương nhân. Phù lưỡng bất tương thương, cố đức giao qui yên.
Nếu người nào biết tùy thuận theo đạo mà sống ở thiên hạ thì quỷ không thể hại; Chẳng những quỷ không hại mà thần cũng không làm khó được; Chẳng những quỷ thần không hại, không gây khó được người mà cả nhà cầm quyền - vua chúa, quan binh,… - cũng không thể làm hại người sống thuận theo đạo. Cả hai lực lượng quỷ thần - vô hình và nhà cầm quyền - hữu hình đều không thể làm tổn hại người giữ đạo được. Thế nên người nào giữ đạo, giữ đức thì sẽ có cuộc sống an ổn, bình yên.
Có lẽ lập luận Lão Tử sống thuận theo chủ nghĩa vô thần đã không đứng vững, thiếu thực tế.
Dựa vào những khái niệm về đạo, quy luật đạo,… của Lão Tử ít nhiều gì bạn cũng nhận ra dường như Lão Tử không rõ biết đầy đủ về đạo. Nhưng ông rất tin tưởng, tôn sùng đạo một cách tuyệt đối và khuyên người cùng giữ đạo, tránh làm việc trái đạo để có cuộc sống an nhàn, yên ổn, có tuổi thọ dài lâu, không bị sớm chết vì danh, vì lợi, vì đặt thân mạng vào nơi hung hiểm.
Thường hữu ti sát giả sát.
Có những quy luật của đạo chuyên lo việc hành xử, trừ diệt, trừng phạt,… những người làm việc phạm pháp, sai trái, càn quấy.
(73-2)Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất.
Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.
Vì không rõ biết đạo đầy đủ mà Lão Tử dường như đã gặp khó khi đưa ra nhận định về việc “Làm cách nào để trị một đất nước?” Ông đã không thể đưa ra giải pháp thỏa đáng nhằm thức tỉnh, giúp con người sớm quay về đạo, trở về gốc. Thế nên ông đã đưa ra giả định.
Tiểu quốc quả dân, sử hữu thập bách chi khí nhi bất dụng, sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ. Tuy hữu chu dư, vô sở thừa chi; Tuy hữu giáp binh, vô sở trần chi.
Sử dân phục kết thằng nhi dụng chi? Cam kì thực, mĩ kì phục, an kì cư, lạc kì tục?
Lân quốc tương vọng, kê khuyển chi thanh tương văn, dân chí lão tử bất tương vãng lai.
Là nhà cầm quyền của nước nhỏ, dân ít thì phải biết hướng dẫn, chỉ bày người dân có lối sống ít ham muốn, biết đủ, vì thế dù có công cụ sản xuất gấp hàng chục, hàng trăm sức người mà cũng không dùng đến. Mọi người đều coi sự sống chết là hệ trọng nên không đi đâu xa, không tham lam tài vật. Dù có thuyền, xe mà không sử dụng, dù có binh khí mà không phô bày, rèn luyện,... Nói cách khác là hướng mọi người quay về gốc, trở về đạo.
Thế nên có cần phải khuyên răn người dân dùng lại lối thắt dây thời thượng cổ để sắp xếp, ghi nhớ mọi việc? Nên chăng khuyên bảo người dân ăn uống đạm bạc, mặc quần vải áo thô, ở nhà nhỏ bé, thô sơ, vui sống lối sống đơn sơ, giản dị?
Nếu người dân ở tất cả các nước đều sống theo đạo thì các nước láng giềng gần kề dù có thể nhìn thấy nhau; Nước này có thể nghe được tiếng gà, tiếng chó ở nước kia, mà người dân ở các nước đó đến già chết cũng không qua lại với nhau.
Lão Tử cũng nhận ra có những khiếm khuyết, những điều chưa đúng hoàn toàn trong Đạo đức kinh nên đã đưa ra câu luận - Khứ thậm; Khứ xa; Khứ thái - Phàm việc gì cũng không nên cố chấp, bảo thủ, chủ quan,… Việc gì cũng đừng nên xa rời thực tế, góc đánh giá thiên lệch,… Việc gì cũng đừng nên quá mức, vượt giới hạn,… Những việc làm như thế đều không hợp đạo.
Lão Tử không phải là một đạo gia. Toàn bộ nội dung Đạo đức kinh rất ít khi đề cập đến việc “Bế tinh, luyện khí” ngoại trừ đoạn:
Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử. Độc trùng bất thích, mãnh thú bất cứ; Quắc điểu bất bác. Cốt nhược, cân nhu nhi ác cố, vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi tôi tác, tinh chi chí dã. Chung nhật hào nhi bất sá, hòa chi chí dã.
Người nào có đức dày thì như con đỏ. Độc trùng không chích, mãnh hổ không vồ, ác điểu không quắp. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, chưa biết giao hợp mà con cu dựng đứng, như vậy là tinh khí sung túc. Suốt ngày gào hét mà giọng không khản, như vậy là khí cực hòa.
Theo thiển ý cá nhân, tôi đánh giá nội dung đoạn kinh văn này có phần không phải do Lão Tử viết. Nếu quả thật Lão Tử là một đạo gia đạt đạo thì ông đã hơn một lần nhấn mạnh những vấn đề liên quan đến phương pháp “Bế tinh, luyện khí” của các đạo nhân hành trì phương pháp tu tiên. Trong Đạo đức kinh, Lão Tử chỉ đề cập đến phương pháp dưỡng sinh - việc quý trọng và phương cách giữ gìn, duy trì mạng sống, kéo dài tuổi thọ. Khuyên người nên quý trọng sinh mạng, giữ lòng hư tĩnh, sống thanh thản, nhàn hạ. Vậy tại sao Lão Tử được phong làm Tổ khai sáng đạo Lão? Trong Đạo đức kinh có đoạn:
(42-1)Đạo sinh nhất; Nhất sinh nhị; Nhị sinh tam; Tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, trùng khí dĩ vi hòa.
Đạo sinh một; Một sinh hai; Hai sinh ba; Ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều có cả âm dương, âm dương được điều hòa bằng một loại khí trùng ngưng.
Lão Tử đã ngộ ra điều gì ở tri thức người xưa mà trình bày cô động lại nguồn tri thức cổ?
Một hôm Lão Tử nhìn ra ngoài sân chợt nhìn thấy cỏ mọc lưa thưa. Ông nhớ cách đây vài hôm ông đã nhổ sạch thế mà nay cỏ đã mọc lên lại. Ông thầm nghĩ: Hôm qua không có mà hôm nay có vậy ra cái có bắt nguồn từ cái không. Ông lại nhớ: Hôm trước ông thấy con chim cắt bắt con chim sẻ, thấy con rắn ăn con chuột,… Con chim sẻ, con chuột,… mới thấy đó mà giờ đã không còn. Chim cắt, rắn,… cũng đã rời đi. Ồ, vậy ra có rồi lại không, không rồi lại có đó là quy luật của đạo. Hiểu rõ lẽ được mất rồi thì Lão Tử không bị lẽ được mất, hơn thua,… trói buộc. Thế là ông nghĩ đến việc tìm hiểu đạo từ nguồn tri thức cổ.
Ban đầu khi Lão Tử học hỏi nguồn tri thức người xưa, ông đã không thể lĩnh hội được. Thái cực sinh ra lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng; Tứ tượng sinh ra bát quát; Từ đó mà hình thành nên mọi sự vật, hiện tượng có trong trời đất. Ngoài ra, vạn vật đều chứa đựng âm dương và âm dương luôn được cân bằng tùy thuộc vào khí trùng ngưng. Thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái là cái gì? Khí trùng ngưng là gì? Âm dương là gì? Về sau Lão Tử ngộ ra, hiểu được ẩn ý có trong tri thức người xưa. Kết hợp với sự hiểu biết của bản thân, Lão Tử đã giản lược, rút gọn lại nguồn tri thức của người xưa nhằm mục đích giúp bản thân cùng mọi người nắm bắt, nhận biết, tìm hiểu, diễn tả,… đạo cũng như là những quy luật của đạo. Trong đó thái cực chính là nhất; Lưỡng nghi chính là hai; Tứ tượng chính là ba; Bát quái chính là vạn vật có trong vũ trụ và khí trùng ngưng chính là những quy luật của đạo.
Chìa khóa khai mở sự hiểu biết của Lão Tử ẩn chứa trong đồ hình thái cực. Bạn hãy nhìn xem hình ảnh thái cực.
Thái Cực Đồ
Thái Cực đồ là một vòng tròn gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau, tượng trưng cho Âm và Dương. Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm bên trong.
Đây là hình ảnh biểu trưng cho sự hình thành vạn vật có trong trời đất và con người. Kết hợp với lý thuyết về âm dương và quá trình dẫn đến việc ra đời của một đứa bé bạn sẽ hiểu rõ mọi vấn đề. Đứa bé ban đầu là không có. Sự tương tác giữa người nam và người nữ trong những điều kiện cần và đủ khác đã tạo ra một hình hài con người. Thái cực đồ và Đạo đức kinh đã được liễu giải. Tuy nhiên không hẳn là Lão Tử của hơn 2000 năm trước đã ngộ ra đúng thật từ hình ảnh thái cực.
Khi rõ lẽ đạo Lão Tử đã khuyên mọi người đừng trói mình vào sự hơn thua, được mất, danh lợi, địa vị, của cải mà hãy nên trân quý mạng sống, sự ấm êm hạnh phúc.
Đã có người hỏi khó Lão Tử “Làm sao sống ở đời mà không tranh đua giành giật mọi thứ về cho bản thân?” Và … Lão Tử khuyên người sống thuận theo đạo hãy nên giữ lòng hồn nhiên, vô tư như là đứa trẻ thơ - giữ tâm xích tử.
Tắc kì đoài, bế kì môn, tỏa kì nhuệ, giải kì phân, hòa kì quang, đồng kì trần. Thị vị huyền đồng.
Người sống thuận theo đạo là người đã ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, không để lộ sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục. Như vậy người đó đã hòa đồng với vạn vật, với mọi người một cách hoàn toàn.
Về sau những người ở ẩn tùy thuận theo sự chỉ bày của nguồn tri thức có trong Đạo đức kinh mà giữ tâm xích tử, giữ lòng hư tĩnh và khai mở sự hiểu biết lĩnh hội Đạo đức kinh theo hướng khác. Khí trùng ngưng, âm dương đó chính là tâm pháp tu tiên. Có lẽ điều mà Lão Tử ám thị, cất giữ ở Đạo đức kinh là “Trong mỗi người, mỗi sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại âm dương; Âm dương trong vạn vật được cân bằng, điều hòa bằng một loại khí trung hòa ở trong tự thân và trong vũ trụ”. Và lý thuyết về việc “Bế tinh, luyện khí” của Đạo gia ra đời”.
Tại sao tôi lại đi lật ngược lại lịch sử hơn 2000 năm để khẳng định Lão Tử không là người học rộng hiểu nhiều, không là một đạo gia?
Tôi muốn chứng minh sự thông minh vượt trội hơn Lão Tử, một cụ già sống cách nay thật lâu xa? Nếu đúng thế thì tôi trở nên quá ngốc khi chứng minh sự hiểu biết của bản thân là cao hơn hẳn con người thời ăn lông ở lỗ.
Vậy tôi thực hiện việc làm đó với mục đích gì?
Tôi chỉ muốn mọi người nhìn sự việc rõ thật và nhận ra giá trị thật sự của Đạo đức kinh mà xây dựng cho tự thân, gia đình và xã hội hài hòa, hạnh phúc, tươi vui.
Đã có người cho rằng tư tưởng của Lão Tử là nhu nhược, hèn kém, không có tinh thần cầu tiến. Không cạnh tranh thì nhân loại sẽ không thể phát triển và tiến bộ. Bạn đừng vội nghĩ rằng “Lão Tử thiển cận, nhu nhược không dám ra tranh cạnh với đời. Đưa ra học thuyết khiến con người trở nên yếu đuối, thấp hèn,…”. Tôi đã từng trình bày “Mùa xuân đến rồi đi, sâu tạo kén hóa nhộng rồi thành bướm, đứa bé sinh ra lớn lên già bệnh rồi chết”. Đó là lẽ thật, là quy luật của sự phát triển thật sự; Cạnh tranh không thật là quy luật phát triển của sự sống và xã hội. Bạn đừng cả nghĩ mà nhầm lẫn sự thật. Tranh giành, hơn thua, được hay mất rồi thì con người cũng sẽ chết. Tiền tài, danh vọng, của báu, địa vị,… chưa có rồi sẽ có. Hạnh phúc, ấm êm, mạng sống mất rồi thì không dễ tìm lại được. Thế nên mọi việc phải giữ cho cân bằng, hài hòa và hợp lý.
Thời Lão Tử sống loạn lạc. Hôn quân, bạo chúa, giới cầm quyền sa đọa, xảo trá. Dấn thân vào làm tôi trung nào khác gì việc bán rẻ mạng sống của mình. Trong Đạo đức kinh có ẩn chứa lời khuyên con người không nên bán rẻ mạng sống của mình cho giới cầm quyền vô đạo.
Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập tam, tử chi đồ thập tam. Nhân chi sinh; Động chi tử địa, diệc thập tam. Phù hà cố?
Dĩ kì sinh sinh chi hậu. Cái văn thiện nhiếp sinh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ; Nhập quân bất bị binh giáp. Hủy vô sở đầu kì giác, hổ vô sở thố kì trảo; Binh vô sở dung kì nhẫn. Phù hà cố? Dĩ kì vô tử địa.
Sinh ra gọi là sống, mất đi gọi là chết. Ví như là có 13 người được sinh ra thì 13 người đó cũng sẽ chết đi. Sự thật là con người sinh ra, sống, làm việc,… sau một thời gian thì con người sẽ phải chết. Số người sinh ra chính bằng số người chết đi cũng đều là 13 người. Có phải là như vậy không?
Trong số những người được sinh ra đó, có một số người có đời sống, có tuổi thọ cao vì họ biết dưỡng sinh, biết quý trọng mạng sống. Tôi từng nghe nói người khéo dưỡng sinh thì đi đường, sẽ tránh không gặp con tê ngưu, con hổ; Ở trong quân đội thì tránh không để binh khí làm thương tổn. Vì vậy mà không bị con tê ngưu dùng sừng húc, không bị con hổ dùng móng vuốt vồ; Không bị binh khí tổn hại. Tại sao lại như vậy? Tại vì người đó khéo dưỡng sinh, không đặt mạng sống của mình vào những nơi hung hiểm, tuyệt địa.
Có người tỏ ý trách Lão Tử đã khuyên con người đánh mất đi lòng tự hào dân tộc, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ đất nước nên mới có việc vào quân đội mà không bị binh khí tổn thương mà lại không nhận ra “Lão Tử khuyên tất cả mọi người đều tùy thuận theo đạo thì chiến tranh sẽ không xảy ra, xã hội thái bình, an lạc thì quân đội, binh khí giữ lại thì để làm gì? Dùng vào việc gì?”. Giải tán quân đội, loại bỏ vũ khí là lời nhắn của Lão Tử gởi đến cho nhân loại. Khi con người thật sự hiểu biết thì mọi việc giải quyết không phải bằng bom đạn, máu và nước mắt con người. Sẽ vĩnh viễn không có việc tạo dựng một thế giới hòa bình, êm ấm bằng bom hạt nhân, chiến tranh và thù hận. Chỉ có sự hiểu biết và tình thương yêu mới xây dựng được một thế giới hòa bình, một xã hội ổn định, một trái đất an toàn. Hãy trân quý sự sống!
Hơn nữa, con người có tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc thì đã sao?
Một em nhỏ đã từng đứng ra biểu tình kêu gọi “Hãy dừng lại việc tranh chấp, xung đột, leo thang chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên - Hàn Quốc”. Nhưng tiếng hô vang dội như tiếng gầm sư tử chúa của em bé nhiều hiểu biết trên nào có được sự chú ý của giới lãnh đạo hai miền Triều Tiên và những con người cao ngạo tự nhận “Tôi là người lớn, từng trải, có hiểu biết”. Nếu có thể vẽ tranh thì tôi sẽ vẽ một bức tranh. Ở trong tranh có hình một em bé tự tin cất tiếng hô đanh thép “Hãy dừng lại những cuộc chiến tranh vô nghĩa! Những người chết là cha em, mẹ em, anh em, chị em, người thân, bạn bè em,… Máu, nước mắt đã đổ quá nhiều rồi. Người thân của em không thể chết vô nghĩa như thế. Chiến tranh! Ta sẽ khiến mi dừng lại. Mi sẽ vĩnh viễn diệt mất và thế giới sẽ hòa bình”. Trong tranh còn gì? Một đoàn tàu chiến trang bị tên lửa tối tân đã giương lên sẵn sàng, trên mỗi tên lửa có lố nhố hàng vạn người ôm với vẻ mặt hừng hực căm thù và phía trên không trung có vô số những chiếc máy bay hiện đại đang mang những quả bom hạt nhân, trên mỗi quả bom cũng lố nhố con người với nét mặt hận thù. Trong tranh còn gì nữa? Trên đất liền, rất đông những con người với vẻ mặt thờ ơ, bàng quan trò chuyện về chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên, về Hoa Kỳ chuẩn bị đánh Iran, về Trung Quốc đang thể hiện tham vọng “Độc chiếm biển Đông”, chuyện Châu Âu đang khủng hoảng nợ công, chuyện Châu Phi đang rơi vào cảnh đói nghèo, dịch bệnh,… Họ nói chiến tranh sẽ làm chết nhiều người vô tội. Sau cùng là hình ảnh có rất nhiều người nói rằng “À, chuyện của người ta”. Tôi sẽ ký tên bằng biểu tượng hình ảnh của hành tinh xanh giống như hình một quả bom với ngòi nổ đang bốc cháy. Có lẽ đây là bức tranh có rất nhiều ý nghĩa cho sự hiểu biết và nhận thức của con người. Có thể chiến tranh và thù hận sẽ được đẩy lùi khi bức tranh kia được rộng truyền cho nhân loại cùng chiêm ngưỡng.
Phải chăng con người đã trói vào sự hiểu biết giới hạn, đã đi quá xa, rời bỏ đạo?
Có lẽ đã đến lúc phải quay về. Quay về trước khi ngôi nhà chung của nhân loại đổ nát và mọi người phải cùng chung tay sửa sang lại ngôi nhà thôi.
Người chết có phải là người vô tội? Chuyện của người ta? Ai là người vô tội? Ai là người ta? Còn ta là ai?
Người vô tội là bạn, người ta cũng là bạn. Ta cũng chính là bạn. Mọi thứ có vẻ hỗn độn quá mức, không có ranh giới nào rõ ràng cả. Tôi sẽ trình bày mọi việc rõ ràng lại.
Mai này dù cho chiến tranh xảy ra ở tận phương Tây hoặc phương Bắc xa xôi nhưng ở nơi đó có những người bà con thân tộc hoặc người dân của đất nước, dân tộc bạn. Họ đều là con người và họ sẽ chết vì chiến tranh và thù hận. Thế chiến thứ nhất và thứ hai cũng chỉ bắt đầu ở một vài nước và lan rộng ra thế giới. Đã có cuộc chiến thì tất sẽ có loạn lạc, nơi nào an toàn khi chiến tranh xảy ra. Hoa Kỳ chỉ vừa rục rịch ý đồ tiến đánh Irac, Apganixtan,… thì giá dầu đột biến tăng, tất cả những mặt hàng thiết yếu đều biến động,...
Phải chăng ta là người vô tội? Ta sẽ phải chết mà không nhận biết mình chết vì điều gì. Ta không nên tiếp tục phạm sai lầm - Dùng chiến tranh để chấm dứt chiến tranh. Đó là điều không thể nào có thật, là sai lầm ngớ ngẩn nhất của sự hiểu biết nhân loại, của lịch sử loài người. Sai lầm đã xảy ra và tồn tại đủ lâu. Đã đến lúc sửa sai và bạn được chọn lựa làm thay đổi số phận của nhân loại.
Quyển sách này khi lan tỏa đến Triều Tiên, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Iran,… sẽ làm tan chảy những cái đầu rực lửa hận thù. Bạn hãy giúp tôi chuyển những quyển sách đến những nơi cần đến. Tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi đã trình bày.
Tôi sẽ bắt chước em nhỏ đứng ra biểu tình nhưng tôi sẽ thay đổi phương thức làm. Tôi sẽ gặp giới cầm quyền không nghĩ đến mạng sống của người dân thường vô tội và điềm đạm nói “Nếu các ông muốn tạo ra chiến tranh và thù hận thì các ông hãy giết tôi đi. Tôi được cha mẹ sinh ra không phải là để giết đồng loại. Tôi sẽ không làm một công cụ giết người cho các ông nữa. Tôi không làm những việc xấu xa, ghê tởm, tàn ác nữa. Nếu các ông muốn tạo chiến tranh thì trước tiên các ông hãy giết tôi đi vì lẽ tôi đã rõ biết chắc thật rằng “Tôi tham gia chiến tranh thì tôi sẽ chết vì chiến tranh”. Không chỉ vậy! Chiến tranh sẽ lấy đi mạng sống của cha mẹ, anh chị em, bạn bè, người thân và cả những đứa con bé bỏng đáng yêu của tôi nữa. Tất cả họ là người vô tội. Tôi sẽ dừng lại chiến tranh và thù hận là vì tôi đã hiểu biết và biết sống để thương yêu.
Về phần tôi, bạn hãy yên tâm vì tôi là người xa lạ. Tôi cũng sẽ không chết vì tôi là người đến từ hôm qua.
Bạn cứ yên tâm rộng truyền quyển sách, tôi sẽ không lẫn trốn trách nhiệm. Tôi cũng không phải là người cao cả, vĩ đại. Tôi chỉ là người không đành lòng thấy nhân loại cứ xây dựng lên rồi vô ý đập tan, phá hỏng tất cả mọi thứ. Có lẽ tôi đang mơ và sống với giấc mơ đẹp - Giấc mơ thế giới không có chiến tranh và thù hận với những cánh rừng xanh bạt ngàn, những dòng sông êm đềm,… và những nụ cười rạng rỡ nở trên môi của các em bé thơ ngây,...
Chết? Đời người sớm muộn gì thì cũng sẽ phải chết. Nếu điều đó xảy ra thì tôi chỉ ngủ sớm hơn bạn thôi. Chuyện có gì lớn lao đâu.
Hơn 60 năm một đời người, đời dài rộng hay dường như ngắn ngủi? Phải chăng cuộc đời chỉ như là một giấc mơ thoáng qua? Tôi đã nhận ra đời chỉ thực sự là một giấc mơ. Tôi đã mơ một giấc mơ đẹp và giữ lấy điều mầu nhiệm đó.
Mục lục
Lời dẫn 2
Bản gốc Đạo đức kinh 5
Thiên Thượng 5
Thiên Hạ 22
Luận giải 43
Đạo đức kinh tân bản 61
Thiên Thượng 61
Khái niệm Đạo 61
Quy luật, nguyên tắc, bản chất của đạo và 69
Người đạt đạo - Người học đạo 80
Nguyên tắc dưỡng sinh 87
Lợi ích của việc tùy thuận theo đạo 92
Dụng của đạo 96
Thuật dùng binh 120
Thiên Hạ 124
Đạo đức kinh thậm giải 128
Thái cực đồ 135
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét